Tâm Tạo

27/02/201820:14(Xem: 8630)
Tâm Tạo





Duc The Ton 4
Tâm 
Tạo
Lê Huy Trứ
 
Cái tự tánh của tâm viên luôn luôn thay đổi vô thường rất khó mà chuyên tâm nhất trí, chú tâm lâu dài.
 
Kinh Pháp Cú mở đầu, “Tâm làm chủ, tâm tạo!”  
 
Hiểu theo nghĩa thông thường chấp ngã của phàm phu là tâm ta làm chủ mọi hành động của ta, tạo ra mọi tư duy và dẫn đến hành động của ta. 
 
Tâm phan duyên dẫn ta đi vòng vòng từ suy nghĩ này qua tư tưởng khác thay vì ta dễ dàng nắm bắt, hàng phục được cái tâm bất trị đó.
 
Nhưng bồ tát không thấy tâm chủ, tâm tớ, tâm ta.  Không có hành động và tư duy của người, không có suy tư và hành động của ta.
 
Tôi nghĩ, ngay cả giữa Có và Không cũng không có sở trụ để chấp.  Chẳng hạn, nhân sinh thường chấp ngã, lưu luyến sống trong quá khứ và lo lắng cho tương lai của chính mình.  Chúng ta thường được giảng dạy là phải sống với hiện tại, ngay trong giờ phút này, nhưng ngay cả cái hiện tại chính giữa này cũng vô định xứ, thay đổi không sở trụ được. 
 
Vậy thì căn cứ vào đâu để “điểm tâm” hiện tại nếu không dùng quá khứ vị lai làm điểm chuẩn của tâm?  
 
Hiện tại sở dĩ có thật vì chúng nhân sinh chấp nhị nguyên, quá khứ và tương lai?
 
Ngay cả cái trung điểm hiện tại đó (t = 0) cũng là ảo, không có thật, đều do tâm tưởng tượng mà có? 
 
Điều này cho thấy ngay cả triết lý Trung Quán Luận của Bồ Tát Long Thọ cũng bất ổn định, vẫn trong vòng nhị nguyên, “không bất nhị”?  
 
Vì quá khứ, hiện tại, vị lai cuộn với không gian bất khả phân, như không mà có, như có mà khônglàm sao có thể “như thị tri kiến” thực tướng bất nhị của Tánh Không của Không căn cứ (sở trụ, bám víu) vào dụng cụ “18 căn trần thức” đo đạt đầy vô minh, và sai lầm đó để kiến được Không Tánh?
 
Tuy nhiên sau khi bình luận về Trung Quán Luận ở trên tôi đã tìm tòi, kiểm chứng thì hình như Ngài Long Thọ cũng có nói về cái trung điểm hiện tại ảo đó (t = 0) nhưng hơi dài dòng khó hiểu một chút:
 
Đối tượng quá khứ và tương lai.  Cả hai hiện tại và quá khứ.  Tương lai không khác nhau.  Có căn mà không cảnh.  Thì hiện tại cũng không cảnh.  Do hoại không đến, không đi.  Cũng không trụ trong sát na.  Thế gian ba thời: quá khứ, v.v…  Uẩn làm gì có thật?  Trên sự thật cả hai.  Không trụ, đến và đi.  Đâu có gì khác biệt.  Thế gian và Niết Bàn.  Không trụ nên không sinh.  Cũng không thật có diệt.  Sinh tức trụ và diệt.  Làm sao có thật nghĩa?  Nếu sự vật thường hằng.  Tại sao là sát na? Nếu nó không biến chuyển.  Thế nào thành cái khác? Sát na sẽ hoại diệt. Từng phần hoặc toàn bộ do không giống nên không thấy.  Cả hai đều không hợp lý. Nếu là sát na thì không trọn vẹn.  Làm sao thành cũ kỹ?  Nếu sát na cố định.  Làm sao thành cũ kỹ? Sát na có kết cuộc.  Tương tự, có đầu và giữa. Bản chất của ba sát na.  Thế gian không trụ trong sát na. Cũng vậy nên suy tư.  Sát na đầu, giữa và cuối.  Cũng không tự và tha. Đầu, giữa và cuối cùng.  Do khác phần chẳng phải một.  Không phương phần thì cũng không.  Không có một thì nhiều cũng không.  Không cũng không có không.”  (Thánh Bồ Tát Long Thọ, Vòng Châu Báu Lời Khuyên Quốc Vương, Nhật Hạnh dịch.)
 
Truyền Bình viết, “Trung Quán tức là Ưng Vô Sở Trụ (không có chỗ trụ) cũng chỉ là giả lập, bởi Không cũng không được (vô sở đắc) Giả (thế giới ảo hóa) cũng không được thì há Trung (ở giữa) mà có chỗ được (sở đắc) hay sao. Chẳng qua là giả lập để điều hòa cho khỏi thiên lệch mà thôi. Ưng vô sở trụ chính là thực tại bất định xứ (nonlocal) của lượng tử mà khoa học ngày nay đã phát hiện.”  Tại Sao Con Người Khó Giác Ngộ? trang website Duy Lực Thiền
 
Như vậy thì Tâm có thật hay không?
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
09/04/2013(Xem: 17636)
Có hai hình ảnh quen thuộc gợi lên ý tưởng biến dịch: như dòng sông và như ngọn lửa bốc cháy trên đỉnh núi. Mỗi hình ảnh lại gợi lên một ý nghĩa tương phản: tác thành và hủy diệt. Trời đất như đã thay loài người nói lên ý nghĩa của sự sống, . . .
09/04/2013(Xem: 4834)
Ngược dòng thời gian năm 1984, tôi viết quyển sách đầu tiên ‘Chìa Khóa cho người Tỵ Nạn’ dành cho những người tỵ nạn Đông Nam Á, giúp họ giữ vững niềm tin và hiểu biết tường tận hơn về tôn giáo của mình để đối đầu với các hành động có hậu ý của các nhà truyền giáo Ki tô muốn họ cải đạo.
09/04/2013(Xem: 17205)
Tất cả chúng sanh đều vô thỉ đến nay, vì chấp có thật ngã, thật-pháp mà tạo ra các nghiệp, rồi bị các nghiệp dắt dẫn nên xoay vành mãi theo bánh xe sanh tử luân-hồi. Nếu con người hiểu rỏ một cách chắc chắn rằng: tất cả các pháp trong vũ-trụ, nhân và ngã đều không thật có, chỉ do thức biến hiện, như cảnh trong chiêm bao, mà không còn gây phiền não, tạo nghiệp-chướng nữa, thì tất không còn bị ràng buộc, trong bánh xe sanh tử luân hồi. Để phá trừ hai món chấp thật-ngã và thật-pháp, Đức-Phật có rất nhiều phương-pháp, có rất nhiều pháp thiền, mà Duy-Thức-Tôn hay Pháp-tướng-tôn là một pháp tu rất cần thiết, rất hiệu-nghiệm để đi đến giải-thoát.
08/04/2013(Xem: 21337)
"Lý thuyết Nhân tính qua kinh tạng Pàli" là đề tài luận án Tiến sĩ do Thượng tọa Thích Chơn Thiện thực hiện và đệ trình tại Ðại học Delhi. Thượng tọa được cấp phát văn bằng Tiến sĩ Triết học trong lễ Tốt nghiệp lần thứ 73, ngày 13 tháng 4 năm 1996.
08/04/2013(Xem: 22512)
Tập sách này in lại những bài viết về Trung Quán Luận, đã đăng trong Nguyệt San Phật Học. Ngài Long Thọ, tác giả Trung Quán Luận và những kinh sách khác, được chư thiền đức xưng tán là Đệ nhị Thích Ca, đã vạch ra thời kỳ chuyển pháp lần thứ hai. Trong những tác phẩm của người, Trung Quán Luận trình bày tánh Không, phần tinh túy của giáo lý đạo Phật.
08/04/2013(Xem: 34400)
Cuốn sách này gạn lọc trí tuệ hàng ngàn năm của Phật Giáo Tây Tạng, được chuyển tải bằng những từ ngữ đơn giản, dễ hiểu đối với mọi người. Mục đích chính yếu của tôi là trình bày những giáo lý không chỉ có tính cách chữa trị sự đau khổ và vô minh của chúng ta về sự chết và sự hấp hối mà còn giúp chúng ta chứng đạt mục tiêu an lạc vô thượng, không những cho đời này mà còn cho sự chết và cõi bên kia nữa.
08/04/2013(Xem: 1282)
Hàng năm khi những ngày đông ảm đạm giá rét trôi qua, bầu trời lại được sưởi ấm và trên những cành cây trụi lá đã nẩy lộc đơm hoa, lòng người theo đó cũng hớn hở đón xuân với bao niềm ước vọng. Trong khung cảnh Minh niên đầy hân hoan, lòng người con Phật lại thành kính hướng về Tam Bảo để cầu nguyện.
08/04/2013(Xem: 1800)
Giáo lý này đã được Shamar Rinpoche giảng ở tỉnh Dordogne Pháp, vào mùa hè năm 1982 trong chuyến viếng thăm Tây phương lần đầu tiên của ngài.
08/04/2013(Xem: 1338)
Mọi người hẳn sẽ nhất trí với lời phát biểu rằng đạo đức là giá trị cao quý nhất đối với cuộc sống con người trong mọi thời đại, đặc biệt là thế giới ngày nay. Từ điển Graw Hill Book định nghĩa: “Đạo đức là môn học đánh giá các hành vi thiện ác của con người biểu hiện qua thân, lời, ý và được thực hiện bởi ý chí, . . .
08/04/2013(Xem: 14076)
Wundt là nhà sáng lập phòng thực nghiệm về tâm lý đầu tiên gọi là Psychological laboratory (1879), định nghĩa: “Tôi thiết nghĩ, tâm lý học phải là nghành nghiên cứu về kinh nghiệm của ý thức. Công việc của chúng ta là phân tích các cảm giác, các cảm thọ và các ý niệm, đi vào những phần căn bản (nền tảng) nhất của chúng, . . .