06. Đại ý kinh Dược sư

11/01/201115:24(Xem: 11401)
06. Đại ý kinh Dược sư

THC BIN
Hòa thượng Thích Thiện Siêu
Nhà Xuất Bản TP. HCM, 2003

ĐẠI Ý KINH DƯỢC SƯ

Đức Từ phụ Thích-ca Mâu-ni của chúngta xuất hiện giữa thế giới Ta bà ác trược này, hóa thân tu hành chánh đạo chứngquả Bồ-đề, kiến lập đạo tràng thanh tịnh, nói vô lượng pháp môn chánh đáng, bảnhoài của Ngài là để cứu độ chúng sinh thoát vòng sanh, lão, bệnh, tử. Chẳngnhững Thích-ca như vậy, mà đức Phật A-di-đà hiện thân vào thế giới Tây gây dựngpháp tràng, nói pháp độ chúng sinh và đức Phật Dược Sư cũng hiện thân ở thếgiới Tịnh lưu ly phương Đông nói pháp độ chúng sinh, thoát vòng khổ não, anhưởng cảnh tịnh độ trong đời sau.

Nhưng xét đến chúng ta và các chúngsinh nhiều kiếp nhẫn lại đây chịu khổ luân hồi chỉ vì sanh tử: vì sanh tử màlàm chúng sinh, vì sanh tử mà đời trước làm trời nay trở lại làm người, nayhiện làm người mà sau lại làm trời, cho đến làm chúng sinh, địa ngục, ngạ quỷ,súc sanh, cho nên chúng sinh ba cõi rất lo sợ về sanh tử và cho sanh tử là mộtsự việc lớn lao khó giải quyết nhất. Chỉ có đức Phật thoát khỏi ngoài vòng sanhtử mới biết cách giải quyết được mà thôi.

Vì mục đích giúp cho chúng sinh giảiquyết sanh tử, nên trong thời giáo của đức Thích-ca, Ngài đều tùy căn cơ củachúng sinh nói nhiều pháp khác nhau và pháp ấy được chia làm nhiều hạng loại.Ngài vì hàng Nhân thừa mà nói ngũ giới, thập thiện để đối trị tội ngũ nghịch,thập ác. Vì chư Thiên mà nói bốn Thiền, tám định, đối trị bệnh tán loạn. Vìhàng Thanh văn, Duyên giác mà nói Tứ đế, Thập nhị nhân duyên để dứt trừ tham,sân, si, giải thoát sanh tử. Vì các hàng Bồ-tát dạy tu lục độ, vạn hạnh để dứttrừ vô minh hoặc và cứu độ chúng sinh... Đó là giáo pháp Phật dạy nhưng phải tựtu, tự chứng, bởi vì chúng sinh khởi niệm điên đảo gây ra nhiều đều tội lỗi, bềtrong đầy nghiệp chướng tham sân, kiêu mạn, bề ngoài bị nhiều tai nạn: đau ốm,đói rách, hình phạt điên cuồng. Khi sống mà tội lỗi tai ương như vậy, đến khigần chết bao nhiêu tư tưởng xấu đều phát khởi, cảnh giới khổ đau hiện bà, khóăn năn kịp. Cho nên, những người muốn luôn được hưởng cảnh an lành thì một làphải tự lực tạo nhơn lành, hai là nhờ lực hộ trì mới đặng.

Mà tha lực ấy là thật.

Lâu nay phần nhiều chuyên lo về việctiếp dẫn vãng sanh trong lúc lâm chung, nên thường tụng kinh Di-đà, niệm hiệuA-di-đà và công việc gì làm xong cũng cầu nguyện khi lâm chung nhờ Phật tiếpdẫn về cõi Cực lạc phương Tây.

Còn trong lúc sống thì chúng tathường bị ngoại duyên làm não hại, không thể không nhờ Phật hộ niệm mà đặng anlành, nên xin nhắc lại đức Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai là một đức Phậtphát nguyện cứu độ chúng sanh trong khi các chúng sinh ấy còn sống mà gặp cáctai nạn. Nói đến đức Dược Sư tức là lược nói kinh Dược Sư Lưu Ly Quang Như Laibổn nguyện công đức vậy.

Kinh Dược Sư này là một phương phápứng dụng hiện thời cho hết thảy chúng sinh ở cõi Ta-bà này, không luận hạngngười nào, ai cũng muốn sống lâu và muốn khỏi tai nạn để vui vầy ăn ở, thì cầnphải nhờ oai tạo tâm lành, vượt vòng ác kiến ma đạo mà tránh khỏi các tai nạn.

Kinh này là phương pháp tạo thànhcảnh Tịnh độ. Các đức Phật đều phát tâm rộng lớn tu hành cầu chứng Phật quả,phát nguyện rộng lớn cứu độ chúng sinh, mà cảm thành thế giới anlạc như đứcDược Sư nói trong kinh này. Nếu chúng ta tu hành mà phát nguyện độ sanh nhưNgài, một người tu như vậy, cho đến nhiều người cũng tu hành phát nguyện nhưNgài thì chắc chắn hiện tiền trong thế giới của chúng ta đang sống bớt tai nạnbinh đao, thậm chí không còn móng khởi tâm độc ác giết hại lẫn nhau, khôngnhững ít người chết yểu mà còn sống lành mạnh, bớt bịnh tật, cho đến sống lâuvô lượng, không còn nghe tiếng rên rỉ, than van của kẻ nghèo khổ, tật nguyềnv.v. tức là thiết lập thế giới Cực lạc ở tại cõi đời này vậy.

Do đó, đức Phật Thích-ca mới nóikinh Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai bổn nguyện công đức này. Thuộc đời Đường, TamTạng Pháp sư Huyền Trang dịch từ Phạn ra Hoa văn, xin tóm tắt như sau:

Kinh Văn chia ra làm ba phần:

Phần duyênkhởi
Phần chánh tông.
Phần lưu thông.

A. Phần duyên khởi

Một khi Phật với các đồ chúng: Támngàn vị Tỷ-kheo, Ba mươi sáu ngàn vị đại Bồ-tát cùng các vị quốc vương, cư sĩ,trời, người, ở trong thành Quảng Nghiêm. Phật theo lời thưa thỉnh củaMạn-thủ-thất-lợi (Văn-thù Bồ-tát) mà nói kinh này.

B. Phần chánh tông

Đoạn thứ nhất Ngài Mạn-thù-thất-lợidùng sức đại trí cầu chứng Phật đạo mà thỉnh Phật nói kinh này. Như trong kinhnói:

- Thưa Thế Tôn! Xin nguyện vì chúngcon mà diễn nói chủng loại danh hiệu và bổn nguyện công đức thù thắng của đứcPhật.

Đoạn thứ hai Ngài Mạn-thù-thất-lợiphát tâm đại bi giúp ích cho vô lượng chúng sinh mà thỉnh nói kinh này, vì thếnên Phật khen: "Hay thay, hay thay! Mạn-thù-thất-lợi. Ông vì lòng đại bidứt trừ nghiệp chướng trói buộc cho chúng sinh và làm lợi ích an vui cho cácloài hữu tình trong các đời tượng pháp sau này mà khuyến thỉnh Như lai diễn nóidanh hiệu và bổn nguyện công đức chư Phật".

Nhơn bổn ý của Mạn-thù-thất-lợi thưathỉnh lên, Phật mới vì ngài Mạn- thù và vì ích lợi chúng sinh đời sau mà nói rõquốc độ, bổn nguyện công đức của đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như lai.

Phương Đông cách đây mưòi hằng sacõi Phật có thế giới gọi là Tịnh lưu ly rất trang nghiêm tốt đẹp; cung điệnbáu, bảy lớp hàng cây, ao sen báu, nước tám công đức v.v. đều do bảy món báutạo thành, thường thường tiếng nước chảy, tiếng chim kêu, tiếng cây rung, gióthổi đều diễn bày các phép tu hành và cõi ấy không có đàn bà con gái, không cótên ác đạo hoặc người thọ khổ. Tóm lại cõi ấy đều đủ các thứ công đức trangnghiêm, không khác cõi Cực lạc A-di-đà, nên Phật nói: "Cũng như thế giớiCực lạc phương Tây đủ công đức trang nghiêm không sai khác".

Lại nữa, trong cõi Tịnh lưu ly cóhai vị Bồ-tát lớn: Nhật Quang và Biến Chiếu thường giúp đức Dược Sư trong lúcNgài tu tập theo hạnh Bồ- tát đã phát 12 lời nguyện mà được cảm thành:

1. Nguyện khi Ta thành đạo Bồ-đề,thân đầy đủ ba mươi hai tướng tốt, hào quang sáng khắp vô lượng thế giới, khiếncác chúng sinh cũng được như Ta.

2. Nguyện khi Ta thành Phật, trongngoài sáng chói hơn ánh sáng mặt trời, tự tại làm Phật, khiến các chúng sinh ởchỗ tối tăm đều nhờ ơn khai thị.

3. Nguyện khi Ta thành Phật, đầy đủvô lượng phương tiện trí tuệ, làm cho chúng sinh đầy đủ các món thọ dụng nơithân tâm.

4. Nguyện khi Ta thành Phật, nếu cácchúng sinh tu theo tà đạo đều xoay về chánh đạo, hàng Nhị thừa thì đều hướng vềNhất thừa.

5. Nguyện khi Ta thành Phật, nếu cóchúng sinh theo giáp pháp của Ta mà tu hành, thì đều được hoàn hảo, dù có phạmgiới mà nghe đến tên Ta thì cũng trở thành thanh tịnh giới khỏi phải sa vào ácđạo.

6. Nguyện khi Ta thành Phật, nếuchúng sinh nào có thân thể hèn yếu hay xấu sa, đui điếc hay câm ngọng, một phennghe tên Ta, niệm tên Ta thì được khỏi bệnh, lại được tốt đẹp khôn ngoan

7. Nguyện khi Ta thành Phật, nếu cóchúng sinh không bà con thân thuộc, nghèo thiếu ốm đau, không ai giúp đỡ, mànghe được tên Ta thì thân tâm yên lành quyến thuộc giúp đỡ cho, đến chứng đạoBồ-đề.

8. Nguyện khi Ta thành Phật, các nữnhân thường bị khinh dể thấp kém, nếu nghe được tên Ta thì bỏ thân nữ nhân,thành tướng trượng phu cho đến chứng quả.

9. Nguyện khi Ta thành Phật, thì cácchúng sinh thoát vòng ma đạo ác kiến, về nơi chánh đạo, tu Bồ-tát hạnh mauchứng đạo Bồ-đề.

10. Nguyện khi Ta thành Phật, nếuchúng sinh bị pháp vua trừng trị, trói buộc đánh đập, giam vào ngục tối, cắt xẻv.v. mà nghe tên Ta thì đều thoát khỏi.

11. Nguyện khi Ta thành Phật, nhữngchúng sinh bị đói khát, cầu ăn mà tạo nghiệp dữ, nếu nghe tên Ta, chuyên niệmthọ trì, thì Ta trước hết cấp cho món ăn được no đủ, sau nói pháp khiến họ tuhành được hoàn toàn an vui.

12. Nguyện khi Ta thành Phật, nhữngchúng sinh nghèo không có áo mặc, muỗi mòng chích đốt, nóng lạnh, ngày đêm khổsở, nếu nghe tên Ta chuyên niệm thọ trì, thì Ta theo tâm mong cầu ấy khiến đượcđầy đủ y phục hoa hương.

Đó là lược kể 12 bổn nguyện của đứcDược Sư, nhưng còn bao nhiêu công đức tu hành của Ngài thì không thể nói hết.Nên Phật nói: "Đức Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai trong khi tu Bồ-táthạnh phát đại nguyện và công đức trang nghiêm của cõi Phật kia. Như lai dẫu hơnmột kiếp cũng không thể nói cùng được".

Vì nguyện lực như vậy, công đức tuhành như vậy, nên hễ chúng sinh ngu si, không tin việc thiện ác nhân quả tầmthường xen lẩn. Không bố thí cho ai, nếu có bố thí cho ai, nếu có bố thí chútít thì tâm thầm tiếc khổ sở như dao cắt xẻ thân... nhưng đã từng nghe danh hiệuđức Dược Sư thì dầu ở trong đuờng khổ cũng như ở sanh cõi người mà tu hành bốthí, dầu bỏ thân mạng cũng không thương tiếc.

Hoặc có người phá giới luật, oainghi, tâm kiêu mạn, bài bác Chánh pháp sẽ bị đoạ trong ba đường dữ, nếu nghetên đức Phật Dược Sư tức thì bỏ các hạnh xấu ác mà tu theo chánh pháp, cho đếnchúng sinh muốn sanh cõi trời, sanh làm chuyển luân thánh vương để đem thậpthiện dạy đời, muốn tiêu trừ bệnh tật, thọ mạng lâu dài, nếu nghe danh hiệu đứcDuợc Sư, chuyên tâm trì niệm kinh chú hoặc tạo tượng Dược Sư, dâng cúng hoahương tươi tốt tịnh tâm trì tụng kinh chú, đốt 49 ngọn đèn, hoặc để tâm chúnguyện vào trong vật uống ăn của người bệnh, tụng chú Dược Sư Quán đảnh chơnngôn 108 lần để cho họ dùng, nhất là 49 ngày ấy phải nhất tâm thọ trì 8 điềugiới trai, thân thường sạch sẽ, tâm thường vui vẻ, đối với các loài chúng sinh,khởi tâm từ giúp đỡ, khởi tâm bi cứu vớt, khởi tâm bình đẳng bố thí cho cácloài hữu tình, không làm tổn hại bất cứ chúng sinh nào và không khi nào giậnhờn... được như vậy trong tâm tự mình đã xoay đổi được tâm tàn ác độc hại, thìbao nhiêu tai chướng, những cảnh khốn khổ đều theo tâm ấy mà chuyển thành cảnhgiới toàn thiện, toàn mỹ, hằng ngày lại được các vị thiên Thần ủng hộ và nhờoai thần nguyện lực của đức Dược Sư mà cầu lành bệnh, cầu sống lâu đều được thoảnguyện.

Vì rằng đức Phật Dược Sư Lưu LyQuang Như Lai đã trải qua nhiều kiếp phát đại nguyện độ sanh, tu Bồ-tát hạnh,trong thời gian lâu xa ấy, Ngài dứt sạch những nghiệp chướng, báo chướng vàphiền não chướng, là một vị Pháp vương, không bị bất cứ một điều gì làm naonúng, những hạnh nguyện độ sanh luôn luôn cảm ứng với chúng sinh, nên tùy ýsanh vào những cảnh khổ, tối tăm làm một vị Luơng y dùng các phương tiện cứugiúp chúng sinh thoát vòng thân bệnh, nói pháp mẫu để cứu chúng sinh ra khỏivòng tâm bệnh... Do vậy, tùy theo hết thảy chúng sinh phát tâm nguyện cầsu mànguyện lực của Phật vẫn cảm ứng trùm khắp tất cả.

C. Phần lưu thông

Khi Phật nói kinh này rồi cả thínhchúng, Bồ-tát, Tỷ-kheo đều vui mừng và vâng giữ.

Chú Dược Sư quán đảnh chơn ngôn:

Nam mô, Bạt già phạt đế, bệ xát xãlũ rô-bệ lưu ly bát lạc bà - hát ra xà dã, đát tha yết đa dã - a ra hất đết,tam miệu tam bột đà da, đát điệt tha. Án, bệ sát thệ, bệt sát thệ, bệ sát xã -tam một yết đế, ta ha.

Nam-mô Dược Sư hội thượng PhậtBồ-tát.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16/05/2015(Xem: 37530)
Hãy nôn ra lòng sân hận độc hại khỏi cõi lòng bạn. Sự sân hận đầu độc và bóp nghẹt tất những gì thiện mỹ nơi bạn. Tại sao bạn phải hành động chỉ vì con quái vật độc hại dấu mặt này? Hãy nôn nó ra, vứt hết đi, không chừa lại một chút gì cả. Bạn sẽ cảm thấy dễ chịu khi vứt bỏ nó đi. Rồi cõi lòng bạn tràn ngập tình bi mẫn vị tha, thẩm thấu qua từng lỗ chân lông bạn. Hãy hiển lỗ tâm từ vô nhiễm trào dâng thương yêu. Hãy để những ai đến với bạn đều nhận được vầng quang hảo tâm không thể chối từ, cũng như khi rời xa, họ cảm thấy được cảm thông và can đảm hơn để đối mặt với cuộc đời đầy gian truân và nghiệt ngã này.
15/05/2015(Xem: 39887)
Thể theo lời yêu cầu của các bạn Đạo, tôi chọn một số bài nói chuyện về Phật pháp của tôi tại Tổ Đình Từ Quang ở Montréal và một vài nghi thức tụng niệm để in thành cuốn sách này, với hy vọng phổ biến Phật pháp. Cuốn sách được hình thành trong dịp Tết Canh Thìn, nhưng phải đợi đến Tết Dương Lịch 2001 mới đánh máy xong. Trong thời gian chờ đợi này, tôi đã cẩn thận kiểm điểm lại nội dung từng bài, nhưng chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót, những mong các bậc cao minh từ bi chỉ điểm cho. Montréal, Tết Dương lịch 2001 Hiển Mật, Đỗ Hữu Trạch
12/05/2015(Xem: 30105)
Video: Những Hiểu Lầm về Đạo Phật
01/05/2015(Xem: 45687)
Một tập sách với tựa đề như trên, trong xã hội hiện nay, không có gì đặc biệt; so với Kito giáo tại Việt Nam, cũng là việc làm bình thường, vì hàng năm, một số giáo xứ thường xuyên tổ chức các lớp hướng dẫn giáo lý và hôn nhân cho thế hệ trẻ từ tuổi 18 trở lên; nhưng đặc biệt của tập sách nầy nằm trong hai lĩnh vực: 1/ Phật giáo chưa từng xuất hiện sách hoặc lớp hướng dẫn về hạnh phúc gia đình, mặc dù có những kinh điển nói qua vấn đề nầy, quá tổng quát, chưa thích ứng với từng cảnh trạng của từng xã hội biến thái khác nhau hiện nay. 2/ Sách không trực tiếp dạy giáo lý như các lớp “giáo lý và hôn nhân” của các giáo xứ, nhất là giòng Tên; nhưng sách hướng dẫn tháo gỡ nhiều vấn đề mắc mứu liên quan đến tâm lý xã hội và đạo đức nhà Phật.
05/04/2015(Xem: 19131)
Cái Tâm là cái chi chi, có chi chi củng cứ chi chi với Tâm. Theo quan niệm của Phật Giáo, Duy Thức Luận: Tâm thức tạo ra thế giới vạn vật, "tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức" hay "nhất thiết duy tâm sở tạo." Tất cả đều nói lên một ý rằng cả thế giới chúng ta đang sống đều do tâm thức tùy theo nhân duyên mà sanh ra muôn sự, muôn vật rồi cũng tùy theo nhân duyên mà diệt đi. Không có việc gì, vật gì, có thực tướng ngay cả chư pháp, tồn tại vĩnh viễn ngoại trừ Tâm Bồ Đề là vô sinh, vô diệt đó chính là Tâm Phật.
05/01/2015(Xem: 30006)
Các soạn và dịch phẩm của cư sĩ Hạnh Cơ - Tịnh Kiên - Mười Vị Đệ Tử Lớn Của Phật (dịch từ tác phẩm Thập Đại Đệ Tử Truyện, nguyên tác Hoa văn của Tinh Vân pháp sư, nhà xuất bản Phật Quang, Đài-bắc, ấn hành năm 1984) Chùa Khánh Anh (Paris) in lần 1, năm 1994 Tu viện Trúc Lâm (Edmonton) in lần 2, năm 1999 (có thêm phần “Phụ Lục” do dịch giả biên soạn) Ban Phiên Dịch Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam (Nha-trang) in lần 3, năm 2004 Chùa Liên Hoa và Hội Cư Sĩ Phật Giáo Orange County (California) in lần 4, năm 2005 - Lược Giải Những Pháp Số Căn Bản Làng Cây Phong (Montreal) in lần 1, năm 1996 Ban Bảo Trợ Phiên Dịch Pháp Tạng Việt Nam (California) in lần 2 (có bổ túc và sửa chữa), 2008 - Giấc Mộng Đình Mai của Nguyễn Huy Hổ (tiểu luận) Làng Cây Phong (Montreal) in lần 1, năm 2001 - Bộ Giáo Khoa Phật Học (dịch từ bộ Phật Học Giáo Bản – sơ cấp, trung cấp, cao cấp – nguyên tác Hoa văn của Phương Luân cư sĩ, Linh Sơn Xuất Bản Xã, Đài-bắc, ấn hành năm 1996) * Giáo Khoa Phật Học
05/01/2015(Xem: 27383)
Các soạn và dịch phẩm của cư sĩ Hạnh Cơ - Tịnh Kiên - Mười Vị Đệ Tử Lớn Của Phật (dịch từ tác phẩm Thập Đại Đệ Tử Truyện, nguyên tác Hoa văn của Tinh Vân pháp sư, nhà xuất bản Phật Quang, Đài-bắc, ấn hành năm 1984) Chùa Khánh Anh (Paris) in lần 1, năm 1994 Tu viện Trúc Lâm (Edmonton) in lần 2, năm 1999 (có thêm phần “Phụ Lục” do dịch giả biên soạn) Ban Phiên Dịch Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam (Nha-trang) in lần 3, năm 2004 Chùa Liên Hoa và Hội Cư Sĩ Phật Giáo Orange County (California) in lần 4, năm 2005 - Lược Giải Những Pháp Số Căn Bản Làng Cây Phong (Montreal) in lần 1, năm 1996 Ban Bảo Trợ Phiên Dịch Pháp Tạng Việt Nam (California) in lần 2 (có bổ túc và sửa chữa), 2008 - Giấc Mộng Đình Mai của Nguyễn Huy Hổ (tiểu luận) Làng Cây Phong (Montreal) in lần 1, năm 2001 - Bộ Giáo Khoa Phật Học (dịch từ bộ Phật Học Giáo Bản – sơ cấp, trung cấp, cao cấp – nguyên tác Hoa văn của Phương Luân cư sĩ, Linh Sơn Xuất Bản Xã, Đài-bắc, ấn hành năm 1996) * Giáo Khoa Phật Học
15/12/2014(Xem: 15721)
Tôi rất vui mừng hiện diện với tất cả quý vị chiều hôm nay. Tôi đã được yêu cầu nói về "Tại sao Phật Giáo?" dĩ nhiên đây là câu hỏi đáng quan tâm, một cách đặc biệt ở phương Tây, nơi mà chúng ta đã có những tôn giáo của chúng ta, vậy thì tại sao chúng ta cần Phật Giáo? Tôi nghĩ thật quan trọng để hiểu rằng khi chúng ta nói về Phật Giáo, chúng ta có nhiều phương diện khác nhau đối với Phật Giáo. Đấy là những gì chúng ta có thể gọi là khoa học Phật Giáo, tâm lý học Phật Giáo, và tín ngưỡng Phật Giáo:
19/11/2014(Xem: 15357)
Có một số người học Phật thích tìm kiếm, thu thập những tư tưởng cao siêu, từ đó đem ra lý giải, phân tích rất hay nhưng phần hạ thủ công phu, tu tập cụ thể như thế nào lại không nghe nói tới! Họ đã quên rằng, kiến thức ấy chỉ là âm bản, chỉ là khái niệm, không phải là cái thực. Cái thực ấy phải tự mình chứng nghiệm. Cái mà mình chứng nghiệm mới là cái thực của mình.
16/11/2014(Xem: 19848)
Lý thuyết nòng cốt của Phật giáo về sự cấu tạo con người và vũ trụ là năm uẩn. Uẩn có nghĩa là sự chứa nhóm, tích tụ: 5 uẩn là 5 nhóm tạo thành con người. Sở dĩ gọi “nhóm” là vì: 1) Tâm vật không rời nhau, tạo thành một nhóm gọi là uẩn. 2) Gồm nhiều thứ khác nhau họp lại, như sắc uẩn là nhóm vật chất gồm 4 đại địa thủy hỏa phong (chất cứng, chất lỏng, hơi nóng, chuyển động) và những vật do 4 đại tạo thành. 3) Mỗi một nhóm trong 5 uẩn có đặc tính lôi kéo nhóm khác, như sắc uẩn kéo theo thọ, thọ kéo theo tưởng, tưởng kéo theo hành... 4) và cuối cùng ý nghĩa thâm thúy nhất của uẩn như kinh Bát nhã nói, là: “kết tụ sự đau khổ”.