Thiền sư nổi tiếng thế giới Ajahn Brahm: “Đây là cuốn sách tốt nhất của thầy”

06/02/202611:30(Xem: 875)
Thiền sư nổi tiếng thế giới Ajahn Brahm: “Đây là cuốn sách tốt nhất của thầy”

thien su Ajahn Brahm (10)thien su Ajahn Brahm (13)
Thiền sư nổi tiếng thế giới Ajahn Brahm:

“Đây là cuốn sách tốt nhất của thầy”


Thiền sư Thiền sư Ajahn Brahm là một trong những vị thiền sư Phật giáo Nguyên thủy (Theravāda) nổi tiếng nhất thế giới hiện nay, đặc biệt được yêu mến ở phương Tây, đã vào Việt Nam. Khóa thiền “KINDFULESS - Chánh niệm Từ bi” đang diễn ra tại thiền viện Phước Sơn dưới sự hướng dẫn trực tiếp từ Ngài Thiền sư nổi tiếng thế giới này.

Trong những ngày này, Thiền sư Ajahn Brahm đã dành thời gian tiếp riêng Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Hùng, Chủ tịch công ty sách  Thái Hà cùng các đồng nghiệp và các học trò trong nhóm “Thiền trong từng phút giây”. Tại buổi tiếp, Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Hùng đã dâng lên Ngài bức tranh Đức Phật Thích Ca Mâu Ni được chế tác bằng gạo, cùng 2 cuốn Kinh Pháp Cú bỏ túi bản tiếng Việt và bản 3 ngôn ngữ Pali – Anh - Việt do Thái Hà Books xuất bản chỉ tặng chứ không bán và cuốn sách quý “Chánh niệm, Hỷ lạc và Giác ngộ” được xuất bản chào mừng chuyến vào Việt Nam của Ngài.

Ngay sau khi thấy cuốn sách được dâng tặng, Thiền sư Ajahn Brahm đã nói ngay “Đây là cuốn sách tốt nhất của thầy”. Ngài lại nhấn mạnh lần thứ 2 “Đây là cuốn sách tốt nhất – It is the best book”. Lời của Ngài làm xúc động tất cả những ai đang có mặt trong buổi tiếp, kể cả quý vị thị giả cũng như quý sư. Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Hùng vô cùng hạnh phúc vì cuốn sách tốt nhất của Ngài đã kịp thời xuất bản tại Việt Nam với phiên bản tiếng Việt.

Thiền sư Ajahn Brahm là tác giả của khá nhiều cuốn sách nổi tiếng, phần lớn được biên soạn từ pháp thoại, nên văn phong rất gần gũi, dễ đọc mà vẫn sâu sắc. Những tác phẩm tiêu biểu nhất như “Opening the Door of Your Heart - Mở cửa trái tim”. Cuốn sách gồm các câu chuyện ngắn, hài hước, cảm động với chủ đề về từ bi, buông bỏ, chữa lành khổ đau, phù hợp cho người mới tiếp cận Phật pháp. Cuốn thứ 2 là “Don’t Worry, Be Grumpy - Đừng lo, cứ cau có đi! (tên dịch vui)) với các bài pháp thoại ngắn, đời thường, nhấn mạnh sự tự do nội tâm, không cần phải “giả vờ tích cực”. Cuốn sách “A Short History of Buddhism - Lược sử Phật giáo” với liới thiệu ngắn gọn, mạch lạc về lịch sử và tinh thần Phật giáo, phù hợp cho người học, giảng dạy nhập môn. Cuốn “Kindfulness - Từ bi trong chánh niệm”  viết về sự kết hợp mindfulness + kindness, nhấn mạnh chánh niệm không khô cứng mà phải thấm đẫm từ bi, phù hợp với thiền ứng dụng, giáo dục, trị liệu. Cuốn “The Art of Disappearing - Nghệ thuật biến mất”  bàn sâu về buông bỏ cái tôi, rút lui khỏi sự ồn ào của bản ngã với văn phong nhẹ nhàng nhưng thâm trầm. Những cuốn này Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Hùng nhấn mạnh rằng ông đã đọc hết bản tiếng Anh và đều rất thích.

Nhưng cuốn  “Mindfulness, Bliss, and Beyond - Chánh niệm, Hỷ lạc và Giác ngộ” quả thực là cuốn sách rất đặc biệt, rất quan trọng, rất chất lượng và đúng là “The Best” vì  chuyên sâu nhất về thiền. Sách trình bày rõ ràng con đường từ chánh niệm đến định jhāna. Cuốn sách này thường được xem là “sách gối đầu” cho người hành thiền nghiêm túc và muốn đi dài hơi trong lối sống thiền, dành cho những ai muốn đi đến đích cuối cùng là Giác ngộ Giải thoát.

Trong toàn bộ buổi tiếp, Thiền sư Ajahn Brahm lắng nghe tâm sự của Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Hùng, ghi nhận tấm lòng của người đứng đầu một đơn vị xuất bản có uy tín, nhất là mong muốn của ông muốn mời thiền sư ra Hà Nội để nói chuyện về sách và hướng dẫn thiền. Ngài chia sẻ về lịch trình tiếp theo sau khi rời TP Hồ Chí Minh là Thái Lan, Campuchia, Srilanka. Tiến sỹ Hùng tiếp ngay “Sau Srilanka là Hà Nội Việt Nam”. Ngài cười rất hiền từ và tràn đầy năng lượng.

Chi tiết rất quan trọng trong buổi tiếp riêng là ký tặng sách. Cả đoàn ai cũng mang theo một cuốn với mong muốn có chữ ký của Ngài vào sách để làm kỷ niệm. Ngài chậm rãi ký rất chậm. Trong chữ ký có cả khuôn mặt đang cười. Chữ ký của Ngài như một bức tranh. Ngài cứ mỉm cười, ung dung tự tại ký như vẽ tranh trên từng cuốn sách. Thị giả nhắc hết giờ và đề nghị không đưa sách cho Ngài ký nữa. Tuy nhiên Ngài vẫn cứ đưa tay ra vẫy, dùng ánh mắt ra tín hiệu để cứ mang đến. Ngài ký đến xong hết mới thôi.

Cả đoàn cầm sách quý “Chánh niệm, Hỷ lạc và Giác ngộ” vừa có chữ ký tươi của Ngài trên tay, quây quần quanh Ngài trong tình Thầy trò Úc – Việt và cùng đồng thanh hô vang từ “tuyệt vời/ lành thay” bằng ngôn ngữ Pali:  “Sadhu”

Thiền sư Ajahn Brahm (Ajahn Brahmavamso Mahathera) sinh năm 1951, người Anh, tên tục là Peter Betts. Ngài tốt nghiệp Đại học Cambridge, chuyên ngành Vật lý lý thuyết,  sau đó xuất gia theo Phật giáo Nguyên thủy tại Thái Lan.

Ngài là đệ tử thân cận của thiền sư Ajahn Chah, một bậc thầy thiền rừng lừng danh. Ngài tu học nhiều năm trong rừng, sống rất khắc khổ, giữ giới nghiêm mật. Sau này Ngài được mời sang Úc, góp phần khai sáng và phát triển Phật giáo Theravāda tại phương Tây.

Ngài là đồng sáng lập và là trụ trì Tu viện Bodhinyana, Tây Úc, là chủ tịch tinh thần của Hiệp hội Phật giáo Tây Úc (BSWA), là người mạnh mẽ ủng hộ bình đẳng giới trong Tăng đoàn, từng gây nhiều tranh luận nhưng được đông đảo Phật tử kính trọng.

Phong cách giảng dạy của Ngài rất gần gũi, hài hước, đời thường. Ngài dùng dùng nhiều ví dụ sinh động, chuyện cười, nhưng cốt lõi là thiền định sâu sắc và từ bi.

Là người đã đọc hết các cuốn sách của Ngài cũng như nghe rất nhiều bải Pháp thoại Ngài giảng trên mạng, người đứng đầu công ty sách Thái Hà, TS Nguyễn Mạnh Hùng cho biết, thiền sư Ajahn Brahm luôn nhấn mạnh rằng “Buông bỏ là con đường dẫn tới an lạc.”  Ông cũng cho biết điểm đặc biệt và khác lạ ở Thiền sư Ajahn Brahm là “Thiền rất sâu nhưng lời giảng thì rất dễ hiểu, phù hợp cả người mới tu lẫn người đã hành thiền lâu năm”.

Quỳnh Dương 



Một số hình ảnh Thiền sư Ajahn Brahm
hoằng pháp tại Việt Nam cuối tháng 1 năm 2026


thien su Ajahn Brahm (1)thien su Ajahn Brahm (8)thien su Ajahn Brahm (10)thien su Ajahn Brahm (13)thien su Ajahn Brahm (15)thien su Ajahn Brahm (17)thien su Ajahn Brahm (18)thien su Ajahn Brahm (19)thien su Ajahn Brahm (20)thien su Ajahn Brahm (21)thien su Ajahn Brahm (22)thien su Ajahn Brahm (23)thien su Ajahn Brahm (24)thien su Ajahn Brahm (25)thien su Ajahn Brahm (26)thien su Ajahn Brahm (27)thien su Ajahn Brahm (28)thien su Ajahn Brahm (29)thien su Ajahn Brahm (30)thien su Ajahn Brahm (31)thien su Ajahn Brahm (32)thien su Ajahn Brahm (33)thien su Ajahn Brahm (34)thien su Ajahn Brahm (35)thien su Ajahn Brahm (36)thien su Ajahn Brahm (37)thien su Ajahn Brahm (38)thien su Ajahn Brahm (39)thien su Ajahn Brahm (40)thien su Ajahn Brahm (41)thien su Ajahn Brahm (42)thien su Ajahn Brahm (43)thien su Ajahn Brahm (44)xem tiep

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
14/06/2011(Xem: 8662)
Tôi đến Úc giữa năm 1998, không theo diện du học mà được bảo lãnh theo diện nhà truyền giáo (Minister of Religion). Mình hiện là phó trụ trì tu viện Quảng Đức tại Melbourne, nơi có khoảng 50.000 người Việt định cư. Ngoài công tác chuyên môn của một Tăng sĩ, hiện tại mình đang theo học năm thứ 2 cử nhân ngành social work tại Đại học Latrobe (http://www.latrobe.edu.au. Sau khi tốt nghiệp ngành này, có thể làm việc cho các bộ, sở Chính phủ (Government Departments), bệnh viện và trung tâm sức khỏe cộng đồng (Public Hospitals and Community Health Centres) cơ sở tôn giáo và trung tâm phúc lợi xã hội (Religious and Community Welfare Agencies); chính quyền địa phương (Local Government).....
26/05/2011(Xem: 6138)
Qua thời gian lâu dài, Thích Trí Quang vẫn là một trong những nhân vật gây nhiều tranh cãi nhất trong lịch sử Chiến tranh Việt Nam. Học giả bên cánh hữu thì cho rằng Trí Quang chắc chắn là tay sai cộng sản hoạt động theo chỉ thị của Hà Nội. Học giả bên cánh tả thì lí luận rằng Trí Quang là một lãnh đạo tôn giáo ôn hoà dấn thân cho dân chủ và quyết tâm đòi chấm dứt chiến cuộc nhanh chóng. Bài viết này cho rằng cả hai lối lí giải ấy đều không có tính thuyết phục. Như nhiều giới chức Hoa Kì đã kết luận đúng đắn ngay trong thời gian cuộc chiến còn diễn ra, không ai có bằng chứng vững chắc để nói được rằng Trí Quang là một công cụ của cộng sản hay chí ít là có thiện cảm với những mục tiêu của Hà Nội hay Mặt trận Dân tộc Gỉải phóng Miền Nam (MTDTGPMN). Nếu căn cứ vào những bằng chứng được lưu trữ qua các cuộc đàm thoại của Trí Quang với giới chức Mĩ thì rõ ràng là, Trí Quang thực sự có thái độ chống cộng mạnh mẽ và hoàn toàn chấp nhận việc Mĩ dùng sức mạnh quân sự đối với Bắc Việt và Trung Q
16/05/2011(Xem: 8377)
Ngày 30-4-2011 vừa qua, Thời Đại Mới có mở một cuộc đàm thoại nội bộ về nhu cầu nghiên cứu các phong trào tranh đấu ở các đô thị miền Nam trước đây. Sau buổi đàm thoại, chúng tôi có yêu cầu anh Ngô Vĩnh Long viết lại những ý kiến của anh thành bài và yêu cầu anh Cao Huy Thuần tóm tắt quan điểm mà anh đã phát biểu. Dưới đây là tóm tắt đàm thoại của anh Cao Huy Thuần.
11/05/2011(Xem: 7786)
1. Người Nhật thà thích người da đen, chứ nhất định không chịu thích chúng ta, vì người Trung Quốc mất tinh thần lâu rồi. 2. Mọi người đều cười người Nga, nhưng tôi biết nước Nga sau này sẽ phát triển, vì ở đó người ta dù bị đói 2 ngày thì vẫn xếp hàng, còn chúng ta dù chỉ có 2 người thì cũng chen lấn đến mức không thể đóng cửa xe bus.
09/05/2011(Xem: 6628)
Duy Tuệ đẩy mức độ công kích Phật giáo lên rất cao so với Bà Thanh Hải, cực đoan hơn, quá khích hơn. Ông Duy Tuệ không chỉ muốn leo lên mức “minh sư thời đại” như bà Thanh Hải, mà muốn “thông tỏ sự hiểu lầm sau hàng ngàn năm”, bôi đen quá khứ, phỉ nhổ truyền thống, phủ nhận Phật giáo cả trong hiện tại lẫn lịch sử.
12/04/2011(Xem: 6465)
‘ Tôi muốn biết Thượng đế đã tạo nên thế giới này như thế nào.’- Einstein ‘Tôi không cần đến giả thiết này’- Pierre Laplace trả lời Napoleon Bonaparte
25/03/2011(Xem: 7127)
Bất kỳ tôn giáo, giáo phái, hay học thuyết nào xuất hiện trên đời, cũng đều có lập trường, tư tưởng và mục đích riêng. Mỗi trường phái đều có nhận xét, đánh giá của mình về các trường phái khác. Ở đây, bằng cái nhìn của một người theo đạo Phật, chúng ta thử phân tích đường lối hành đạo của giáo phái Thanh Hải. Điều đầu tiên chúng ta nên tìm hiểu là Pháp Môn Quán Âm của họ.
10/03/2011(Xem: 5896)
Tác phẩm "The Buddhist Conquest of China", xuất bản từ năm 1959, cũng đủ chứng tỏ tác giả, Erik Zurcher, là một trong vài sử gia sáng giá nhất của Tây phưông về Phật giáo, nhất là về Phật giáo Trung Quốc. Dưới đây là một bài tham luận của ông tại hội nghị chuyên đề được tổ chức bởi Pháp Quốc Học hội (Collège de France) (*2), ngày 23 và 25.2.1988 (*3). Bị chinh phục bởi kiến thức quảng bác và cách so sánh rất tinh tế của tác giả, giúp thấy được những khác biệt nền tảng trong quá trình phổ biến và phát triển của Phật giáo và của Catô giáo tại Trung Quốc, nên dịch ra đây với hy vọng người đọc sẽ rút ra được những điều bổ ích. Đây là bản hiệu chính của bản dịch tháng 5.1993 (đã đăng trên Bông Sen Âu châu, tháng 6.1993).
08/03/2011(Xem: 7622)
Thế giới đang chuyển mình để bước vào thế kỷ 21. Giáo hội Thiên Chúa La Mã cũng đang chuyển mình để Bước qua ngưỡng cửa hy vọng. Sự chuyển mình của Giáo Hội La Mã đã khởi sự từ đầu thập niên 60 dưới triều đại Giáo Hoàng John 23 bằng Đại hội Công Đồng Vatican 2 vào ngày 11 tháng 10 năm 1962. Giáo Hoàng này là một người có tinh thần canh tân và là người nhìn xa trông rộng. Ngài được bầu lên thay Giáo Hoàng Pius 12 vào ngày 28 tháng 10 năm 1958 khi đó đã 76 tuổi. Đúng ba tháng sau ngày nhậm chức, vào ngày 25-1-1959 Ngài công bố ba quyết định lớn: 1- Mở một hội nghị của giáo khu La Mã thuộc Tòa thánh. 2- Mở một cuộc hội nghị Công Giáo toàn thế giới (Công Đồng Vatican 2). 3- Tổng xét lại các nghi thức phụng vụ.
24/02/2011(Xem: 12990)
Sự ra đời đạo Tin lành Sự phân liệt lần thứ hai của đạo Kitô vào đầu thế kỷ XVI dẫn đến sự ra đời của đạo Tin lành. Cuộc cải cách này gắn liền với tên tuổi hai đại biểu la Máctin Luthơ (1483 – 1546) và Giăng Canvanh (1509 – 1546). Thế kỷ XVI là thế kỷ mở đầu cho các cuộc cách mạng tư sản châu Âu. Máctin Luthơ chịu ảnh hưởng của tư tưởng tự do tư sản, phản kháng lại những quy định khắc nghiệt của của Công giáo. Ông thừa nhận Thánh kinh nhưng phủ nhận truyền thống của nhà thờ, bãi bỏ những nghi lễ phiền toái, cải cách lại ngày phục sinh của chúa, chủ trương cho phép các mục sư lấy vợ... Những tư tưởng cải cách này đã dẫn tới xung đột gay gắt quyết liệt với Toà thánh Vaticăng và dẫn đến việc ra đời một tôn giáo mới : đạo Tin Lành.