PHẦN THỨ SÁU SỰ BIẾN HÌNH

02/10/201015:26(Xem: 4486)
PHẦN THỨ SÁU SỰ BIẾN HÌNH

PHẦN THỨ SÁU
SỰ BIẾN HÌNH

Phúc Âm theo Thánh Luca 9, 28-36

“Khoảng tám ngày sau cuộc đàm thoại, Đức Giêsu đem theo Phêrô, Gio-an và Gia-cô-bê lên núi cầu nguyện. Trong lúc Ngài cầu nguyện, khuôn mặt Ngài biến đổi sáng ngời và y phục Ngài trở thành trắng tinh rực rỡ. Và kìa có hai người đang nói chuyện với Ngài : đó là Môi-sê và Êli, xuất hiện trong vinh quang nói về cuộc khổ nạn mà Ngài phải hoàn tất ở Giê-ru-sa-lem. Phêrô và hai bạn còn ngủ li bì ; tuy nhiên khi tỉnh dậy, họ nhìn thấy vinh quang của Đức Giêsu và hai vị Môi-sê và Êli đứng gần Ngài. Khi họ chia tay với Đức Giêsu, Phêrô nói với Ngài : “Thưa Thầy, chúng con sung sướng được ở đây : chúng con có thể dựng ba lều, một cho Thầy, một cho Môi-sê và một cho Êli.” Phêrô không biết điều mình đã nói. Khi ông còn đang nói, một đám mây đến bao trùm lấy các Ngài, các môn đệ hoảng sợ khi thấy các ngài biến mất trong đám mây. Lúc đó từ đám mây có tiếng nói vang ra : “Đây là CON yêu quý của ta, các ngươi hãy nghe lời người !” Và trong lúc tiếng nói còn vang dội, Đức Giêsu ở lại một mình. Các môn đệ lặng thinh, và trong những ngày ấy, không nói cho ai biết điều họ đã trông thấy.” [Luc, 9, 28-36]

Đức Đạt Lai Lạt Ma : “Một lần nữa, đoạn văn về sự biến hình nêu ra những đề tài chung cho những truyền thống tôn giáo lớn của thế giới. Các đề tài chung ở đây là khả năng có những kinh nghiệm thần bí bằng thị kiến và sự quan trọng của các ẩn dụ như cầu vồng, đám mây, mặc dù trong văn cảnh của Phúc Âm, ý nghĩa của các đề tài ấy có hơi khác vì tính độc nhất (vô nhị) khi quan niệm về Đức Giêsu như CON Thiên Chúa. Nhưng đại thể, nếu một Phật tử thuần thành đạt đến một độ cao thành tựu trên đường tiến hóa tâm linh thì một sự biến đổi như thế có thể được biểu lộ ở cả bình diện vật lý. Các kinh Phật (sutras) kể lại những câu chuyện tương tự về Đức Phật. Giống như trong Phúc Âm, các câu chuyện bắt đầu cho biết Đức Phật đang ngụ tại một nơi nào đó, ở một lúc nào đó. Các môn đệ – chủ yếu là hai môn đệ xuất chúng, Shariputa (Xá Lợi Phất) và Maudgalyayana (Mục Kiền Liên) – nhận thấy có sự thay đổi trong ngoại hình của Đức Phật. Một luồng ánh sáng chiếu tỏa từ thân thể Ngài và một nụ cười nhẹ nhàng đặc biệt chiếu sáng dung nhan Ngài. Rồi thì, một môn đệ hỏi Đức Phật : “Con thấy có những sự thay đổi nơi Thầy. Tại sao chúng xảy ra ? Vì những lý do gì ? Tư tưởng nào đang hiện ra trong tâm trí Thầy ? Xin Thầy vui lòng trả lời cho chúng con.” Những dụ ngôn ấy giống với dụ ngôn mà chúng ta tìm thấy trong đoạn Phúc Âm về sự biến hình.

“Thị kiến về hai vị tiên tri Môi-sê và Êli cũng tương ứng với nhiều truyện kể Phật giáo nói về các sự kiện thần bí trong đó một cá nhân thấy mình đối diện với các nhân vật lịch sử. Người ta gọi đó là những dag-nang, những kinh ngiệm về những thị kiến thuần túy. Trong một số trường hợp, có thể đó là những tiếp xúc đích thực với các nhân vật lịch sử, ở bình diện thần bí. Trong các trường hợp khác, đó là sự gặp gỡ với những người khác mặc lấy ngoại hình và dáng vẻ của các nhân vật ấy. Những sự tiếp xúc như thế có thể xảy ra.

“Để hiểu được các hiện tượng thần bí ấy, cần phải có kiến thức tối thiểu về hiện tượng hiển lộ hay hóa hiện (émanation) nói chung. Ví dụ như mức độ tự trị của một hóa hiện tùy thuộc trình độ thành tựu của cá nhân tạo nên hóa hiện, nói cách khác của chủ thể hóa hiện. Ở một mức độ thấp hơn, một sự hóa hiện được tạo bởi một cá nhân, trong một mức độ rộng lớn được chủ thể hóa hiện kiểm soát và điều khiển gần giống như một máy điện toán. Trái lại, ở một cá nhân đã đạt tới những thành tựu tâm linh cao, các hình thể được hóa hiện có thể có một mức độ tự trị cao. Một đoạn trong bản văn Phật giáo phát biểu rằng những hóa hiện do một vị toàn giác tạo nên có được một mức độ tự trị rất cao. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa các hóa hiện là có thật và chúng là những sinh vật. Trong một ý nghĩa nào đó, chúng chỉ là những tạo vật đơn thuần của tinh thần đã tiến hóa cao đó. Vì thế, một trong bốn giới răn chính của luật tu là cấm sát sinh. Để có sát sinh, đối tượng của hành động sát sinh phải là một con người chứ không phải là một vật hóa hiện : bởi lẽ những người được hóa hiện không được coi như những sinh vật có thật.

“Ngày nay cũng vậy, nhiều người có kinh nghiệm về thị kiến thần bí. Một số người đã bước vào tiếp xúc với các đại sư của Ấn Độ và Tây Tạng. Chính tôi cũng thích có những kinh nghiệm như thế. Nhưng than ôi ! Tôi có nhiều câu hỏi để đặt ra ! Nếu tôi phải làm một kinh nghiệm như thế với các đại sư Ấn Độ của quá khứ, tôi sẽ đóng vai trò một nhà khoa học, một trạng sư của quỷ và tôi có một đống câu hỏi đặt ra ! Nếu những cá nhân đạt tới trạng thái tâm linh tiến hóa cao có khả năng hóa hiện và tự biểu hiện dưới nhiều hình thức, không vì thế mà mọi người sẽ có khả năng tri giác thị kiến và sự hiện diện ấy. Để nắm bắt thị kiến người ta phải đạt tới một mức độ trưởng thành nào đó, có khả năng tiếp thu và mở rộng tâm linh. Ví dụ trong đoạn văn có nói Phêrô nhìn thấy Môi-sê và Êli, nếu vào lúc đó những người khác cùng đi theo Đức Kitô, hoàn toàn có khả năng một số người trong nhóm đã không nhìn thấy Môi-sê và Êli.

“Đối diện với hiện tượng hóa hiện như thế, thông thường người ta muốn biết cơ chế của chúng. Phải giải thích chúng trên nền tảng nào ? Trong Phật giáo, nếu chúng ta đặt mình trong nhãn giới tantra, phương diện bí truyền của Phật giáo Tây Tạng, có thể đưa ra lời giải thích từ động lực của các năng lượng vi tế được gọi là prana. Nhờ vào những kỹ thuật thiền định khác nhau, hành giả có thể đạt đến một trình độ cao của việc điều nhiếp các năng lực tâm lý. Trong hệ thống các sutra, đó là hệ thống phi-tantra, người ta tường trình các kinh nghiệm ấy bằng các ngôn từ chỉ sức mạnh tập trung hay sức mạnh thiền định. Nói đúng ra, đó là những hiện tượng rất huyền bí, tôi không tự cho mình có khả năng giải thích chúng chi tiết. Tôi nghĩ rằng đó là những lãnh vực cần nhiều sự nghiên cứu tìm tòi cũng như thử nghiệm.

“Những cuộc gặp gỡ ở trong thị kiến diễn ra ở những trình độ khác nhau mà người ta có thể xếp thành ba loại lớn. Các cuộc gặp gỡ loại đầu tiên được cảm nghiệm trên một bình diện thần bí và trực giác hơn ; cuộc gặp gỡ thực ra không hiện thực hay hiển nhiên nhưng đúng hơn thuộc bình diện cảm giác hay trực giác một sự hiện diện. Các cuộc gặp gỡ thuộc loại thứ hai thì hiển nhiên hơn nhưng không thuộc bình diện giác quan ; chúng được cảm nhận ở bình diện tâm lý, ý niệm. Còn loại ba là các cuộc gặp gỡ hiển nhiên nhất : đó là các kinh nghiệm từ giác quan như gặp một ai, mặt đối mặt, đôi mắt mở to.

“Một hiện tượng tương tự đi kèm theo các thị kiến thần bí xảy ra ở hồ thiêng Lhamoš Lhatso ở Tây Tạng. Tôi đã nghe nói rằng các du khách nước ngoài đã có những thị kiến ở hồ ấy. Tuy nhiên, nếu mười người nhìn hồ cùng một lúc, mỗi người có thể có một thị kiến khác nhau. Nhưng cũng có thể cả mười người đều thấy cùng một hình ảnh. Thậm chí người ta cũng có thể chụp ảnh các thị kiến. Tại sao lại có những sự khác nhau ấy ? Thật là mầu nhiệm sâu xa. Nhưng hẳn phải có một lời giải thích.

“Trong các đoạn Phúc Âm này, người ta thấy có một sự quy chiếu về số mệnh. Điều này dẫn tôi đến chỗ tự hỏi trong bối cảnh Kitô giáo có hay không niềm tin mỗi người có một số mệnh riêng biệt phải hoàn tất.”

Cha Laurence : Vâng. Mọi người đều có một số mệnh mà nói cho rốt ráo là phải tham dự vào sự hữu của Thiên Chúa.

Đức Đạt Lai Lạt Ma : Người ta có thể nói rằng, do những hoàn cảnh, mà số phận cá nhân được tiến triển và thay đổi không ?

Cha Laurence : Vâng, bởi vì cá nhân được tự do chấp nhận hay không số mệnh hay “tiếng gọi” đó. Có một mối liên hệ giữa số mệnh và sự tự do.

Đức Đạt Lai Lạt Ma : Trong Phật giáo, mặc dù người ta không dùng từ số mệnh, mà thấy có khái niệm karma (nghiệp) là một từ tương đương gần giống số mệnh. Nếu karma bao gồm một lực đẩy có mức độ, thì trong mọi trường hợp, cần có đủ điều kiện để karma được thực hiện. Như tôi đã nói, một số hình ảnh như đám mây, cầu vồng đều được thấy trong nhiều truyền thống tôn giáo. Về mặt tự nhiên, khoa học có thể giải thích cầu vồng hình thành ra sao do độ ẩm, nhiệt độ… Nhưng tôi luôn luôn buộc phải suy nghĩ về những cầu vồng riêng của mỗi người không phải do nhiều màu sắc mà giống như một ánh sáng trắng thuần khiết trải ra theo đường thẳng thay vì tạo thành hình cung. Tôi luôn luôn tự hỏi điều ấy có thể hiện hữu như thế nào.

Trong Phật giáo Tây Tạng, hình ảnh của cầu vồng bao gồm hai chức năng. Trước tiên nó thường kết hợp với các dấu chỉ điềm tốt, may mắn, hoạnh tài. Ngoài ra, cầu vồng còn minh họa bản chất huyễn hóa và không thực thể của các sự vật và biến cố. Tôi thích thú thấy đoạn văn này kể lại một tiếng nói đến từ không trung. Cũng vậy, trong các lời giáo huấn của Phật giáo, người ta tìm thấy những quy chiếu tương tự vào một tiếng nói không biết từ đâu đến. Ở Tây Tạng người ta thường tin rằng vào thế kỷ thứ VII, dưới triều đại của Lha Tho-thơri, các kinh điển Phật giáo từ trời giáng xuống. Các học giả đã bác bỏ và khẳng định kinh điển đưa từ Ấn Độ về. Nhưng thời kỳ ấy, nếu người ta biết được kinh điển thật ra từ Ấn Độ đưa về, hẳn người ta đã không tôn thờ kinh điển. Tóm lại, huyền thoại kinh điển từ Trời giáng xuống đã xuất hiện và huyền thoại ấy đã đóng một vai trò đặc biệt trong truyền thống tâm linh của họ

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
13/04/2026(Xem: 576)
Bài viết này phân tích các mối liên kết xuyên quốc gia giữa các chùa Phật giáo Việt Nam ở hải ngoại tại châu Âu, Úc Châu và Nhật Bản thông qua lăng kính của sự lưu chuyển của Tăng sĩ. Thay vì xem các ngôi chùa này như những không gian tôn giáo dân tộc biệt lập, nghiên cứu này khái niệm hóa chúng như những thực thể vừa gắn kết với địa phương, vừa được liên kết với nhau thông qua sự di chuyển của chư Tăng, mối quan hệ thầy–trò, và các thực hành nghi lễ chung. Tập trung vào một vị Hòa Thượng, lãnh đạo Phật Giáo người Việt tại Đức [2], đóng vai trò như một nút trung tâm trong mạng lưới này, nghiên cứu dựa trên khảo sát thực địa nhiều địa điểm (2023–2025) để lập luận rằng các mối quan hệ liên tự viện có thể được hiểu như một cấu trúc năng động được duy trì bởi sự lưu chuyển Tăng sĩ mang tính lặp lại. Bằng cách nhấn mạnh vai trò của sự lưu chuyển Tăng sĩ, bài viết trình bày các chùa Phật giáo Việt Nam hải ngoại như những tác nhân mang tính quan hệ, được định hình bởi cả sự gắn kết địa phương
12/04/2026(Xem: 271)
Bài này dịch theo bản tin có tựa đề "Millions Found Comfort in a Buddhist Monk. But He Was Never Real. What many failed to notice, is that he isn’t actually real" (Hàng triệu người tìm thấy sự an ủi nơi một vị sư Phật giáo. Nhưng vị sư này chưa bao giờ là người thật. Điều mà nhiều người đã không nhận ra, chính là sự kiện vị sư đó không hề có thật) trên trang báo The Good Men Project, đăng lại từ bài viết của Hikari Mae Hida trên thông tấn Columbia News Service. Bản dịch như sau.
05/04/2026(Xem: 392)
Trong dòng chảy lịch sử nhân loại, các tôn giáo lớn đã hiện diện như những dòng suối tâm linh nuôi dưỡng đời sống con người qua bao thế hệ. Người ta thường lý giải sự trường tồn ấy bằng những hệ thống giáo lý thâm sâu, những mặc khải siêu hình hay những lời hứa về cứu rỗi. Tuy nhiên, dưới ánh sáng của Phật học, ta có thể tiếp cận vấn đề từ một góc nhìn khác — gần gũi hơn, đời thường hơn, nhưng cũng thậm thâm hơn: tôn giáo tồn tại vì nó nương tựa trên hai thực thể căn bản của sự sống — thức ăn và tình thương.
04/04/2026(Xem: 494)
Ám ảnh bởi những người trẻ tuyệt vọng vì gặp khó khăn nơi đất khách, 13 năm qua, Jiho Yoshimizu đã cứu giúp 15.000 lao động Việt thoát khỏi khủng hoảng. Nhận cuộc gọi từ Bệnh viện Tokyo báo tin một nữ thực tập sinh Việt Nam sinh con một mình, Jiho Yoshimizu lập tức kích hoạt quy trình can thiệp khẩn cấp. Đến viện, bà thấy cô gái 20 tuổi ngồi thu mình ở góc giường, tóc bết mồ hôi, ánh mắt hoảng loạn. Sợ mất việc và tư cách lưu trú, cô gái trẻ chưa thạo tiếng Nhật đành giấu chuyện mang thai, lén sinh con trong phòng trọ trước khi bị phát hiện
11/03/2026(Xem: 3833)
Trong việc huấn luyện Huynh trưởng trại Vạn hạnh cấp cao — những huynh trưởng sẽ kế thừa và "lèo lái" tổ chức Gia Đình Phật Tử Việt Nam (GĐPT) theo tinh thần Phật giáo — phương pháp giảng dạy đóng vai trò quyết định. Để tổ chức không bị "thế tục hóa" hay biến thành một câu lạc bộ kỹ năng đơn thuần, giảng sư cần có một sự cân bằng tinh tế, nhưng trọng tâm phải đặt vào thực chứng và sự chuyển hóa tự thân. Con Đường Đưa Người Huynh Trưởng Từ Tri Thức Đến Chuyển Hóa
11/03/2026(Xem: 721)
Trong các nghiên cứu xã hội học tôn giáo hiện đại, đặc biệt là của Peter Berger- Berger quan tâm đến cách các tôn giáo phương Đông như Đạo Phật thích nghi với xã hội hiện đại. Ông xem Đạo Phật là một ví dụ điển hình về việc cung cấp các "lựa chọn" tâm linh trong một thị trường tôn giáo đa dạng, nơi cá nhân tự do chọn lựa niềm tin thay vì bị áp đặt bởi truyền thống, và José Casanova,- thường phân tích Đạo Phật trong bối cảnh hiện đại hóa đa dạng - Ông quan tâm đến "Đạo Phật dấn thân" (Engaged Buddhism) – nơi các triết lý Phật giáo được sử dụng để giải quyết các vấn đề xã hội như hòa bình, môi trường và quyền con người. Ông xem đây là minh chứng cho việc tôn giáo vẫn là một động lực tích cực trong việc hình thành xã hội dân sự toàn cầu, cả hai có một nhận định quan trọng: khi xã hội bước vào kinh tế thị trường, tôn giáo cũng bị kéo vào logic thị trường. Điều này không phải là lỗi của tôn giáo, mà là hệ quả của: Sự cạnh tranh giữa các thiết chế xã hội, nhu cầu tài chính để duy trì cơ sở v
10/03/2026(Xem: 784)
Mỹ: Đau lòng khi con gái khuyết tật bị bạn bè lảng tránh ở hồ bơi, Gordon Hartman chi hơn 50 triệu USD xây công viên giải trí dành cho mọi người. Mùa hè 2006, trong chuyến đi nghỉ của gia đình, ông Gordon Hartman ở San Antonio, bang Texas chứng kiến một cảnh tượng mãi mãi thay đổi cuộc đời mình. Morgan, con gái 12 tuổi của ông, lặng lẽ tiến lại gần một nhóm trẻ đang chơi ném bóng dưới hồ bơi. Vì không thể nói để bắt chuyện, cô bé chỉ biết rụt rè ra hiệu. Thế nhưng, những đứa trẻ lập tức bỏ đi, để lại Morgan bơ vơ nhìn theo. "Trái tim tôi như thắt lại", người đàn ông 65 tuổi nhớ lại.
27/02/2026(Xem: 790)
Đại học Nhật Bản ra mắt "nhà sư robot" ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), kỳ vọng giúp giảm tác động từ tình trạng thiếu hụt tăng sĩ. Đại học Kyoto, một trong những đại học hàng đầu Nhật Bản, ngày 24/2 giới thiệu nhà sư robot "Buddharoid" ứng dụng AI, được huấn luyện qua những bộ kinh Phật phức tạp nhất, qua đó có thể trả lời các câu hỏi nhạy cảm mà nhiều người ngại đặt ra.
06/02/2026(Xem: 2782)
Thiền sư Thiền sư Ajahn Brahm là một trong những vị thiền sư Phật giáo Nguyên thủy (Theravāda) nổi tiếng nhất thế giới hiện nay, đặc biệt được yêu mến ở phương Tây, đã vào Việt Nam. Khóa thiền “KINDFULESS - Chánh niệm Từ bi” đang diễn ra tại thiền viện Phước Sơn dưới sự hướng dẫn trực tiếp từ Ngài Thiền sư nổi tiếng thế giới này. Trong những ngày này, Thiền sư Ajahn Brahm đã dành thời gian tiếp riêng Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Hùng, Chủ tịch công ty sách Thái Hà cùng các đồng nghiệp và các học trò trong nhóm “Thiền trong từng phút giây”. Tại buổi tiếp, Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Hùng đã dâng lên Ngài bức tranh Đức Phật Thích Ca Mâu Ni được chế tác bằng gạo, cùng 2 cuốn Kinh Pháp Cú bỏ túi bản tiếng Việt và bản 3 ngôn ngữ Pali – Anh - Việt do Thái Hà Books xuất bản chỉ tặng chứ không bán và cuốn sách quý “Chánh niệm, Hỷ lạc và Giác ngộ” được xuất bản chào mừng chuyến vào Việt Nam của Ngài.