Cành mai vàng.

12/04/201318:44(Xem: 671)
Cành mai vàng.

mai vang

Cành Mai vàng

Một loại cây thân nhỏ, mặt lá nhám,ï cánh hoa vàng tròn có nhụy nhyễn, khi sáu cánh hoặc tám cánh, vô cùng đặc biệt. Mai nỡ trông đẹp và hiền hòa. Còn nữa, khi Mai rụng xuống, nhụy sẽ biến thành những nụ đỏ cũng tựa như một loài hoa. Thân Mai chắc bền, chịu đựng được nắng mưa, chỉ có mặt ở những vùng nhiệt đới gió mùa. Mai không quý phái như những loài hoa khác, không ủy mị như Lan, chẳng kiêu sa như Hồng, càng không phô sắc khoe hương như Hải Đường và Thược Dược. Mai vốn là thế, bản chất phần nào giống với đặc tính của người Á đông.

Người Á đông phần nhiều biết sống chịu đựng. Chịu đựng để vươn lên cái đẹp và tự khẳng định chính mình. Người xưa từng nói ”lùi một để tiến thêm hai” là vậy. Sự ẩn nhẩn như thế kể không phải là nhát hèn mà đó là đức tính gắn liền với đời sống tu học phật pháp. Tính Mai cũng vậy, thầm lặng kinh qua một mùa băng giá để tự thức dậy trong một dáng dấp hiền hòa và tươi vui. Như thiền sư Huyền Giác đã từng nhận xét về Mai như sau:

“ Nếu chẳng một phen sương lạnh thấm

Hoa Mai đâu dễ ngửi mùi hương “

Thật đúng như vậy, cuộc đời không dễ gì cho ta bất kỳ một thành qủa nào mà không thông qua thử thách. Ngay cả một số người bổng dưng có được những cơ may quý báo trong đời này thì theo Đạo Phật hẳn cũng thông qua nhiều cạm bẩy trong quá khứ. Nghĩa là tất cả các giá trị chỉ hiển hiện khi và chỉ khi con người buộc phải bù lại một điều gì đó bằng khả năng, ý chí hay một cuộc dấn thân quên mình. Nôm na là con đường dù ít nhiều chông gai, nếu muốn đến đích thì bạn phải đi, hơn thế nữa cần phải giáp mặt. Các bậc thánh xưa nay đều vậy, trước khi thể nhập chân lý đều phải kinh qua những sóng gió bấp bênh. Đức Phật Thích Ca phải sáu năm khổ hạnh rừng già, tổ Đạt Mạ chín năm ngồi vách, đến ngài Bách Trượng cả đời ruộng rẩy một ngày không làm một ngày không ăn, tất cả nhầm để chứng minh rằng muốn đạt được Đạo thì cần thỏng tay vào chợ.

Chân lý không phải là viên ngọc đựng trong tháp ngà, không là một thứ quyền năng trên cao hay nằm trên chóp đỉnh của sự lộng lẩy quyền bí, mà chân lý chính là thực tại sinh động được đánh đổi bằng xương bằng máu, bằng sự giáp mặt với gió bụi phong trần để từ đó nhận ra một điều vô giá, thánh thiện và hoàn toàn không bị nhiễm ô. Chúng ta hãy nghe Lục Tổ Huệ Năng tuyên bố về chân lý như một kinh nghiệm thể nhập thật hùng hồn: “ Phật Pháp tuyệt không ngoài thế gian mà có”. Như vậy giữa thế gian vốn có điều thánh thiện, nơi chúng sinh vốn có Phật tâm, từ bùn lầy uế bẩn vẫn cứ hiện ra những cánh sen tinh khiết. Vậy thì Mai vàng cũng không chết cứng giữa cái lạnh đêm trước, mà tự đứng dậy trong sức mạnh nhẫn nhục như một dũng sĩ đang băng qua giữa cảnh chợ đời.

Cành Mai không những thầm nhắc với chúng ta về điều ấy_đức nhẫn nhục cần có cho một hành giả_ mà còn mách bảo với chúng ta về một đức tính khác cũng rất cần thiết cho lộ trình hướng thượng, đó là ý chí kiên trì. Một khi đã chọn thì phải theo, theo đến tận cùng, nghĩa là bước đi không ngừng nghĩ, không chùn chân với bất kỳ hoang tưởng nào. Hành giả phải như một cành Mai, cô độc vận hành trong đêm tối, ý chí dạt dào giữa muôn trùng sóng gió để có một ngày…

“ Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết

Đêm qua sân trước một nhành Mai”

Mãn Giác thiền sư đã nhận ra nơi nhành Mai một cái gì đó vượt ngoài biên hạn mà mắt thường không thể thấy được. Phải thật sự bằng tuệ giác, bằng thật chứng cao vời ngài mới hiển hiện như một nhành Mai. Ngài muốn nhấn mạnh rằng việc xuân mang hoa tới lấy hoa đi theo lẽ sinh diệt là chuyện bình thường nhưng với Mai trong thiền ý thì xuân chẳng tài nào làm được, vì đêm qua giữa lúc không còn xuân nữa thì nhành Mai vẫn nở như một phép mầu.

Trong lần về thăm quê hương vừa rồi tôi có gặp một đôi vợ chồng nghèo lắm, sống bằng nghề làm thuê cho người khác, nhà tranh vách lá cùng với bốn mặt con, vất vả vô cùng. Mỗi năm mùa tết đến gần, anh phải đầu tắt mặt tối, làm lụn cực khổ nín cả thở thì gia đình mới được cái tết ấm êm. Nhưng năm nay anh tâm sự :” Đúng là năm chuột thầy ơi ! gia đình còn vất vả nhiều, mỗi năm vợ chồng cậy vào nghề bán Mai cũng xoay sở được phần nào. Năm nay lại khác, lượng Mai giảm đi vì rừng bị đốn phá nhiều, mọi thứ nguyên sinh cũng không còn như xưa nữa. Anh tự nhủ, dù sao trong nhà cũng có được vài cành Mai trong ba ngày tết. Anh mỉm cười.” Đó là câu chuyện thật, đời thật về những con người giữa thời đại mới. Cái nghèo vẫn cứ đeo bám như một hồn ma. Nhìn anh tay vịn cành Mai có vẻ an phận, tôi chợt thấy nơi anh dường như lâu lắm rồi anh chưa từng tận hưởng cành Mai mà chỉ dùng nó để bán cho người.

Anh biết không, thường thì mở đầu cho năm mới con người ta có khuynh hướng muốn quên đi hoàn toàn cái cũ, hoặc nói rõ hơn là những điều xui xẻo bất an. Nhưng ở một người giản dị như anh tôi nghỉ rằng cái khó, cái cực không dễ gì làm anh ngả quỵ. Bởi lẽ cái tâm lặng lẽ và sự nhàn hạ của anh cho thấy điều đó, điều mà cành Mai vừa mới truyền đạt trong anh, nhẫn nhục và lòng kiên định.

Như vậy, Mai muốn nói gì, gửi gấm điều gì đến với con người ? Người học Phật và kẻ thế gian nếu sống được như Mai thì hoàn cảnh sẽ khác đi và phẩm chất cũng trở nên hoàn mỹ. Trong đạo, người hành giả thường phải đối mặt với những thử thách thì có thể học theo đức tính của Mai, không lụy bước chùn chân và lòng nhẫn kham nghịch cảnh. Ngoài đời, kẻ thế tình lòng hay chao đảo thì Mai sẽ gợi lại trong họ một thái độ sống hiền hòa và ý chí vững vàng giữa lộ trình cuộc sống. Riêng tôi xin được vài lời gửi tặng cành Mai

“ Kinh qua mùa rét mướt

Cùng gió táp mưa sa

Tưởng chừng đêm hôm trước

Mai lặng chết êm đềm

Nào ngờ Mai thức dậy

Khoác lên chiếc áo vàng

Hiện nét cười vui thú

Ta nhìn Mai hân hoan.

Thích Thiện Lợi

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
15/01/2014(Xem: 9692)
Cảm xúc cuối năm... Tuyết lưu luyến mùa Đông chưa rời bước, Cho cành Mai chớm nụ rước mùa Xuân, Để lòng tôi được xao xuyến , bâng khuâng, Cùng kỷ niệm những ngày Xuân quá khứ .
15/01/2014(Xem: 7179)
Không phải ngẫu nhiên mà người phương Tây có nhận xét: “Người Việt Nam coi trọng người chết hơn người sống”. Cứ nhìn vào những kỳ lễ lạt, cúng kính tất sẽ thấy được về mặt nào đó nhận xét trên không phải là không có lý do xác đáng. Tưởng nhớ đến người đã nằm xuống là nghĩ về nguồn cội,
14/01/2014(Xem: 20647)
Xuân đã về trên cánh Mai vàng Sắc Xuân tươi thắm đẹp Trần gian Trăm hoa đua nở càng lộng lẫy Nhân thế đón Xuân rộn tâm can
13/01/2014(Xem: 13277)
Hằng năm, cứ vào độ Xuân về Tết đến, tôi cố gắng viết một bài để đóng góp vào số Báo Xuân Viên Giác và Website chùa Viên Giác; Cũng là dịp để mong được gặp gỡ quý Độc giả, quý Văn Thi hữu trên Văn Đàn và xin gởi trao những lời Chúc Mừng Năm Mới thân thương nhứt.
13/01/2014(Xem: 9009)
Trong số những con ngựa nổi tiếng thời cổ đại, đầu tiên phải nhắc đến Ngựa Xích Thố thời Tam Quốc. Con ngựa này dài một trượng, cao tám thước, màu đỏ rực như lửa, tuyệt không có một sợi lông tạp, ngày đi ngàn dặm, trèo non vượt suối dễ dàng.
13/01/2014(Xem: 12896)
Hình tượng con ngựa hiện diện từ sớm trong văn hóa Đông-Tây, con ngựa là một trong những loài vật được con người thuần hóa và sử dụng trong đời sống hàng ngày và loài vật gắn liền với chiến tranh. Hình ảnh con ngựa còn là chủ đề cho các môn nghệ thuật như hội họa, điêu khắc, thơ văn... Đối với văn hóa phương Tây, ngựa gắn liền với nhiều biểu tượng thần thoại và gắn liền với hình ảnh Nhân Mã trong 12 Cung Hoàng đạo.
13/01/2014(Xem: 8976)
Một cây cầu có thể đưa hết tất cả người, súc vật, hàng hóa đi qua trên đó. Đưa qua hết thảy, không kể sang hèn quí tiện. Cái chính là có đưa qua hết - tất cánh độ khứ - được hay không? Nếu không qua lọt, hoặc đi qua một cách khó khăn thì đích thị là cầu khỉ rồi. Hoặc đôi khi người qua rồi, bóng còn kẹt lại bên cầu.
13/01/2014(Xem: 12251)
Lời Ngỏ: Nhân dịp mừng Xuân Giáp Ngọ 2014, Trang Nhà Quảng Đức xin trân trọng giới thiệu kinh "Lâu đài của ngựa Kiền-trắc". Kanthaka (Kiền Trắc) là con ngựa quý ra đời tại hoàng cung của Vua Suddhodana (Tịnh Phạn) cùng một ngày với Thái tử Siddattha (Sĩ-đạt-ta). Kiền-trắc lớn lên và phục vụ nhà vua cho đến năm 29 tuỗi, nó cùng với người giữ ngựa Channa (Xa-nặc) đưa Thái tử lên đường xuất gia; sau đó ngựa đau buổn phát bệnh , từ trần và tái sanh lên cõi Trời. Câu chuyện này thuật lại cuộc gặp gỡ giữa Tôn giả Mục-kiền-liên và Thiên tử Kiền-trắc trên Thiên giới.
13/01/2014(Xem: 9098)
Phần này tóm tắt các chi tiết và bổ túc bài viết1 "Nguồn gốc Việt (Nam) của tên gọi 12 con giáp - Ngọ ngựa (phần 13)", do đó số thứ tự của bài viết này là 13A; những bài viết sau nữa về Ngọ ngựa sẽ có số thứ tự là 13B, 13C … để người đọc dễ tra cứu thêm.
13/01/2014(Xem: 9788)
Ngọ hay Ngũ 午 là chi thứ 7 trong thập nhị chi hay 12 con giáp. Biểu tượng của Ngọ là con ngựa dùng chỉ thời gian như giờ Ngọ từ 11 giờ sáng đến 1 giờ chiều (chính ngọ là đúng trưa, giữa trưa hay 12 giờ trưa), tháng 5 ... và xác định không gian như hướng Nam. Phần này không bàn về khái niệm thời không gian hay Ngũ Hành/kinh Dịch của Ngọ mà chỉ chú trọng vào các liên hệ ngữ âm của Ngọ và ngựa so với mã 馬 (tiếng Hán Việt/HV cũng chỉ con ngựa). Phần sau sẽ cho thấy mã là tiếng Hán có gốc Hán Tạng, khác hẳn với ngựa tiếng Việt - và liên hệ trực tiếp của Ngọ và ngựa cho thấy tên chi này có nguồn gốc Việt (Nam) chứ không phải Trung Quốc/TQ cũng như tên gọi của 11 con giáp còn lại ...