Cây Nêu Tâm Ảnh

16/01/202619:33(Xem: 1177)
Cây Nêu Tâm Ảnh


cay neu ngay tetHình minh họa


CÂY NÊU TÂM ẢNH


Bụt trong văn hóa Việt Nam là một hiện thân vừa nhân hậu vì hay cứu khổ giúp đời mang hình ảnh đức Phật, vừa là vị thần linh có quyền phép trấn tà, trừ vọng mang hình ảnh thần thánh. Đó là biểu tượng hiền thần, hỷ thánh trong nếp sống tinh thần dân gian Việt Nam. Hễ nơi nào có đau khổ, bất công, nguy khốn là có Bụt hiện lên cứu cấp. Người Việt đi vào đời bằng Bụt, rồi đi sâu vào đạo bằng Phật.

Trong tâm thức Việt:

Bụt là cánh cửa tâm hồn, nơi lòng tin nhân hậu được gieo.

Phật là con đường dấn thân tiếp nối vào đời, nơi trí tuệ và giải thoát được mở ra.

Cây nêu ngày Tết Việt Nam là tâm ảnh về Bụt, là bài học đầu thật dễ thương của tuổi thơ; là sự khôn ngoan mềm dẻo của người dân hiền trừ ma, ếm quỷ hung ác thường tìm cách dẫn lối đưa đường; là tinh thần khôn ngoan của người dân chân đất giữ làng giữ nước được sự mách bảo quyết đoán mà hiền từ, đơn thuần mà trí tuệ của Bụt.

Bởi thế, cứ đến ngày 23 tháng Chạp, khi các ông Táo cả nước cưỡi cá chép lên chầu Ngọc Hoàng Thượng Đế, sợ nhà cửa bị bỏ trống, ma quỷ kéo vào xâm hại nên người ta phải cắm cây nêu mời tổ tiên và thiện trụ “ăn oản giữ nhà”. Nhìn ngọn nêu tre cao vút phất phơ trong gió, người âm cũng như người dương đều dường như bắt gặp tín hiệu an hòa của Bụt với chiếc áo cà sa cổ tích trãi rộng trên đầu ngọn tre để che bóng cho con người với câu nói của người Mẹ mở rộng vòng tay che chở, bao che nhân gian trước móng vuốt ma quỷ đang chực chờ xâu xé: “Bóng áo cà sa che mặt trời trải rộng tới đâu thì quỷ sứ phải tránh ra để nhường đất lại cho người.” Mảnh đất tâm linh đã trải dài xa rộng mênh mông. Phần che nắng, phủ đất bên ngoài chỉ mới là không gian đo đếm được; mảnh đất bên trong mới chính là giang sơn vô biên của con người níu ngọn cây nêu, giải trừ quỷ sứ theo dòng cổ tích văn hiến Việt Nam.

Niềm tâm cảm dân gian tin rằng, cây nêu là một nhịp cầu nối tâm linh giữa nhân thế và cõi vô hình. Con người thấp cổ bé miệng nên phải nhờ cây tre cao vút. Trên ngọn tre có treo phong linh để tạo ra âm thanh cảnh báo. Có luôn cả các vật dụng ra mắt và phẩm vật chân quê như cau, trầu, thuốc, rượu... cùng lễ nghi với lời khấn nguyện được viết trên mực Tàu giấy đỏ treo dọc theo thân tre. Sự giao tiếp giữa hai thế giới qua nhịp cầu tre chân phương mà huyền nhiệm: Đó là cây nêu ngày Tết – Cây Nêu Tâm Ảnh. Khi hình tượng đã an trú trong tâm ảnh, mọi thước đo của nhân gian đều trở nên bất lực; bởi ký ức ấy không thuộc về một đời người, mà thuộc về chiều sâu lặng lẽ của nhiều thế hệ.

Năm mươi năm qua, người Việt đã có dịp tỏa ra khắp bốn phương trời. Mỗi người có thể khác nhau về giới hạn địa phương, hoàn cảnh xuất thân, điều kiện kinh tế, xã hội... nhưng trong cùng thẳm của mỗi tấm lòng đều lắng đọng tâm ảnh quê hương; trong đó, cây nêu tâm ảnh vẫn hiển hiện và nhắc nhở những bóng dáng nguồn cội. Cứ ngỡ rằng khi xa thì lòng cũng vắng, như xa mặt cách lòng; nhưng có trải nghiệm những năm dài tha hương rồi mới hiểu, ai cũng mang trong mình một quê hương thiên cổ để trở về.

Tôi xa Huế đã 44 năm. Nhớ cái Tết xa nhà đầu tiên năm 1982 ở trại tạm cư Chi-Ma-Wan, đảo Hồng Kông. Phút Giao Thừa im ắng, cả đoàn người mới ly hương ra đứng nhìn biển Đông chìm trong đêm tối, hướng về vùng trời Quê Mẹ Việt Nam mà tưởng tượng ngọn nêu mang chút chân trời viễn xứ có chăng giọt nước mắt thương mẹ, nhớ nhà. Biền biệt từ đó, 43 cái Tết đi qua hơn nửa sau đời mình. Những cái Tết tiếp theo chỉ còn là ý niệm trong ký ức khó phai mờ. Tết không ở quê hương thì nơi nào mà chẳng Tết khi cây nêu tâm ảnh đã mang đậm dấu ấn quê hương đầy đạo vị trong thần trí và tâm tưởng của chính mình.

Quê hương là Đất Tổ nơi mình sinh ra, là cửa ngõ để vào đời; nhưng không phải là nơi duy nhất để mình dựng được cây nêu đón thiện thần và hồn thiêng sông núi trong dịp Tết đến, Xuân về.

Trong số 130 quốc gia trên toàn thế giới, có khoảng 6.5 triệu người Việt đang sinh sống thì riêng Hoa Kỳ là đất nước “kỳ khôi” hơn cả. Tuy chỉ có 5 chủng tộc chính thức là đen, vàng, đỏ, trắng, nâu nhưng có tới 300 sắc dân. Hàng năm có từ 8 đến 10 “Năm Mới” thành văn nhưng có tới hàng mấy mươi kiểu “Tết” theo phong vị đất lề quê thói để chúc mừng nhau Năm Mới.

Từ khoảng thập niên 2010, và trở nên rõ nét sau năm 2020, trong bối cảnh xã hội phương Tây ngày càng ý thức sâu về tính đa văn hóa, danh xưng “Tết Trung Hoa” (Chinese New Year) dần được thay bằng “Tết Âm Lịch” (Lunar New Year). Sự chuyển dịch này không nhằm phủ nhận vai trò lịch sử của văn hóa Trung Hoa, mà để nhìn nhận thực tế rằng Tết Âm lịch là di sản chung của nhiều nền văn hóa Đông Á, trong đó có Việt Nam, Hàn Quốc và Triều Tiên đã nói lên một không gian ký ức rộng mở, nơi nhiều quê hương cùng có quyền trở về.

Cứ ngỡ mình lâu ngày, xa quá dần quên, nhưng thật lạ lùng, thế giới ngày xưa càng ngày càng hiển hiện. Tuổi đời càng cao, ký ức càng mỏng lại; bao nhiêu hình ảnh xuôi ngược bốn phương nhạt dần với bộ nhớ phôi pha cho cây đa bến cũ, cây nêu ngày Tết thời xa xưa hiện về:

“Ảnh bất tại ngoại, tâm tức kỳ nguyên:”

Ảnh không lơ lửng ở ngoài,

Tâm là nguồn cội quan hoài bóng xưa.

Hơn nửa đời người xa quê hương, quãng đường ấy đủ dài để những hình ảnh bên ngoài dần mờ đi, nhưng cũng đủ sâu để những gì thuộc về tâm lại hiện rõ hơn.

Trong hành trang của người Phật tử sống xa quê, có những thứ không thể mang theo bằng vali, nhưng vẫn theo mình rất bền. Cây nêu là một trong số đó. Mùa Tết ở xứ người, ngoài một số chùa viện Phật giáo và các trụ sở hội đoàn người Việt còn có nơi dựng nêu như một biểu tượng truyền thống văn hóa, nhà tư nhân không ai dựng cây nêu trước sân. Nhưng lạ thay, mỗi khi năm cũ sắp khép lại, trong tôi lại hiện lên rất rõ hình ảnh một cây tre thẳng, mảnh, đứng lặng lẽ giữa trời đất.

Cây nêu trong ký ức tuổi nhỏ là dấu hiệu của Tết. Cây nêu trong tâm ảnh của tuổi già lại là dấu hiệu của sự dừng lại. Tôi không còn nghĩ cây nêu là để xua đuổi điều gì bên ngoài.

Sống đủ lâu, đi đủ xa, người ta hiểu rằng những thứ cần xua đuổi nhất không nằm ngoài cổng, mà nằm rất sâu trong chính mình: lòng tham, nỗi giận và thói quen bảo thủ là sự bám chấp một đời dễ đâu buông xả. Nhưng cây nêu, khi đi vào Phật giáo và đi sâu vào tâm thức, trở thành một lời nhắc cần buông bỏ sự cố chấp, thay đổi thói quen và làm dịu nhiễu động của năm cũ.

Bởi vậy, cây nêu dân gian đã gần gũi và mọc lên ở cửa thiền không chỉ tại Việt Nam mà khắp nơi có “mái chùa che chở hồn dân tộc” của chùa Việt, xứ người. Cây nêu Tết trong sân chùa qua tầm nhìn đại chúng là một pháp khí văn hóa thiền môn.

Trong chốn chùa chiền Huế, cây nêu không hiện diện để khuấy động niềm tin, mà để gợi mở sự lắng nghe. Tiếng phong linh theo gió không nhằm đánh thức thực dụng, cũng chẳng mượn phô trương huyễn hoặc. Nó đứng đó, an nhiên tùy duyên với sương gió, vươn cao trong tĩnh lặng, như một cột mốc của tâm theo phong cách người Huế sống đạo: không cực đoan, không ồn ào, không cần chứng tỏ. Cây nêu dạy tôi một bài học rất Huế rằng, đứng vững bằng chính xương sống và thần thái của bản thân và phẩm chất cần thiết của mình: cao không để mà ngự trị, thanh không phải lụy vào hình tướng, dễ tiếp cận không phải tuân phục dễ dàng, nhận lời phó thác mà không cần làm trung tâm.

Sống xa quê hơn nửa đời, tôi không còn tìm cách tái hiện Tết Việt cho đủ hình thức. Thay vào đó, tôi dựng cây nêu trong tâm. Mỗi độ Xuân về, tôi tự hỏi: trong năm qua, mình đã để bao nhiêu thứ không cần thiết treo lủng lẳng trong lòng? Bao nhiêu lời nói thừa? Bao nhiêu lo lắng quá mức? Bao nhiêu chấp trước không chịu buông? Trả lời được những câu hỏi ấy, với tôi, đã là một nghi lễ nghinh Xuân.

Cây nêu tâm ảnh không cần treo nhiều đồ phụ dụng.


Chỉ cần một tiếng chuông rất khẽ đủ để nhắc mình dừng lại: Dừng một chút trước khi nói để tập thói cẩn trọng. Dừng một chút trước khi phán xét để tránh nỗi oan khiên. Dừng một chút trước khi chạy để ngăn bớt tốc độ đời sống cuốn đi quá nhanh.

Là một Phật tử, tôi hiểu rằng, đạo không nằm ở việc mình đang ở đâu, mà ở cách mình đang sống. Cây nêu không cần phải được dựng lên trước mắt người khác. Nó chỉ cần được dựng đúng chỗ trong lòng mình. Khi cây nêu đã đứng vững trong tâm, thì dù ở đâu, Xuân cũng là Mùa Xuân Di Lặc.

Hơn nửa đời xa quê, tôi không còn nôn nao tìm lại hình ảnh cũ. Tôi chỉ mong giữ được tinh thần cũ: biết dựng lên một cột mốc lặng lẽ mỗi độ Năm Mới, để tự nhắc mình sống chậm hơn, nhẹ hơn và bớt làm khổ mình cũng như làm khổ người khác.

Và như thế, dù không còn sân nhà để dựng nêu, tôi vẫn biết:


Xuân đã về – khi lòng biết dừng.

Tay buông tâm xả nhẹ vô ngần.

Cây nêu tâm ảnh không sân trước,

Vẫn chiếu trong ngời một ánh xuân.

Sacramento, cuối đông 2026
Trần Kiêm Đoàn

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
13/01/2014(Xem: 9290)
Phần này tóm tắt các chi tiết và bổ túc bài viết1 "Nguồn gốc Việt (Nam) của tên gọi 12 con giáp - Ngọ ngựa (phần 13)", do đó số thứ tự của bài viết này là 13A; những bài viết sau nữa về Ngọ ngựa sẽ có số thứ tự là 13B, 13C … để người đọc dễ tra cứu thêm.
13/01/2014(Xem: 9959)
Ngọ hay Ngũ 午 là chi thứ 7 trong thập nhị chi hay 12 con giáp. Biểu tượng của Ngọ là con ngựa dùng chỉ thời gian như giờ Ngọ từ 11 giờ sáng đến 1 giờ chiều (chính ngọ là đúng trưa, giữa trưa hay 12 giờ trưa), tháng 5 ... và xác định không gian như hướng Nam. Phần này không bàn về khái niệm thời không gian hay Ngũ Hành/kinh Dịch của Ngọ mà chỉ chú trọng vào các liên hệ ngữ âm của Ngọ và ngựa so với mã 馬 (tiếng Hán Việt/HV cũng chỉ con ngựa). Phần sau sẽ cho thấy mã là tiếng Hán có gốc Hán Tạng, khác hẳn với ngựa tiếng Việt - và liên hệ trực tiếp của Ngọ và ngựa cho thấy tên chi này có nguồn gốc Việt (Nam) chứ không phải Trung Quốc/TQ cũng như tên gọi của 11 con giáp còn lại ...
13/01/2014(Xem: 9106)
Nhân dịp đầu Xuân năm Giáp Ngọ, tôi kính gởi đến chư Tôn Hòa Thượng, cùng hàng chúng trung tôn của Đức Thế Tôn lời chúc nguyện tứ đại an hòa, để cùng nhau chung vai sát cánh xây dựng cơ đồ Phật giáo đang cơn nguy cơ tha hóa, do nội ngoại chướng duyên, vu hãm hầu lũng đoạn hàng ngũ, tổ chức chúng ta với dụng tâm bất chánh làm lệch hướng Chánh Pháp.
02/01/2014(Xem: 9839)
Thời gian luôn là điều trọng yếu cho sự tư niệm của người đệ tử Phật. Đông qua thì Xuân tới như sự suy-thịnh được-mất giữa thế gian này. Hơn thế nữa, cửa tử là con đường độc lộ mà mỗi ngày dẫn ta tiến tới gần hơn. Xin hãy cùng nhau quán chiếu sự mỏng manh của kiếp sống và danh vị. Xin hãy tha thứ những gì cần tha thứ, xin hãy bỏ qua những gì cần bỏ qua. Vì mùa Xuân có nở hoa hay không là tùy thuộc vào đất tâm an lành của chính mình. Sự tranh chấp mãnh liệt luôn thiêu đốt tất cả cây cỏ và bông hoa.
25/09/2013(Xem: 14082)
Thế là, dù muốn hay không, tôi vẫn phải nhận thêm một tuổi nữa, và năm nay… Nhâm Thìn là năm tuổi của tôi. Thuở còn bé, thỉnh thoảng tôi vẫn nghe… ké người lớn nói chuyện với nhau: “Năm tuổi của tôi”. Tôi không rõ năm tuổi là năm gì, ý nghĩa ra sao, nhưng qua câu nói và thái độ khi nói, tôi vẫn cảm nhận được nỗi lo lắng sợ hãi của các bậc trưởng thượng. Sợ gì nhỉ? Tai nạn? Đau ốm? Mất mát hay chết? Nhưng rồi sau đó có ai chết đâu và có xảy ra chuyện gì đâu. Còn xui xẻo trong năm, nếu có, thì tuổi nào mà tránh được, chả cứ năm tuổi. Thế nhưng, các bác vẫn sợ và e dè để rồi năm đó “án binh bất động” không cựa quậy gì ráo.
12/04/2013(Xem: 823)
Người Á đông phần nhiều biết sống chịu đựng. Chịu đựng để vươn lên cái đẹp và tự khẳng định chính mình. Người xưa từng nói ”lùi một để tiến thêm hai” là vậy. Sự ẩn nhẩn như thế kể không phải là nhát hèn mà đó là đức tính gắn liền với đời sống tu học phật pháp.
08/04/2013(Xem: 6243)
Nhớ nghĩ đến cuộc đời giáo hóa độ sinh của Đức Phật, chúng ta hình dung ra những phong cảnh từng lưu dấu ấn của Ngài, quả thật là trong lành, tuyệt đẹp vô cùng. Thật vậy, xuất hiện trên thế gian này, Đức Phật đã chọn một cảnh thiên nhiên đơn giản, nhưng tràn đầy sức sống.
29/03/2013(Xem: 10948)
Thông Bạch Xuân Quý Tỵ - 2013
28/03/2013(Xem: 5901)
Trước Phật Ðường hương xuân rền chuông đảnh Thuận đường tu, Ðạo Pháp kiến tình nhau Dẫu xa xôi ngàn dặm vẫn thâm sâu Lòng hoan hỷ mừng nhau cùng tu tiến.
28/03/2013(Xem: 5054)
Có phải hôm nay là buổi sáng đầu tiên của mùa xuân Nên những con chim dậy sớm hót vang trên những cành cây, Và những bông hoa dại nở bung trên những thảm cỏ nhung mà mượt