Tu Viện Quảng Đức105 Lynch Rd, Fawkner, Vic 3060. Australia. Tel: 9357 3544. quangduc@quangduc.com* Viện Chủ: TT Tâm Phương, Trụ Trì: TT Nguyên Tạng   
Bài mới nhất

Đức Phật với thí dụ về Ngựa

31/01/201419:13(Xem: 3494)
Đức Phật với thí dụ về Ngựa
con_ngua_19

Đức Phật với thí dụ về Ngựa
Thanh Yên

Ngựa là một con thú được thuần hóa sớm và hiện diện khá thân thiết trong đời sống nhân loại, bằng chứng là tiền nhân của chúng ta đã liệt kê nó vào trong lục súc ố sáu con vật nuôi quanh quẩn trong nhà. Thuở chưa có máy móc, ngựa được xem như là phương tiện di chuyển tiện lợi nhất, có thể tương đương với một chiếc xe “Cub” hiện đại, nếu không nói là tiện lợi hơn vì nó dư sức vượt núi băng ngàn, phóng qua nhiều chướng ngại vật, tự động chạy về “ga-ra” một mình mà không cần thay đồ phụ tùng hay vô dầu mỡ chi cả. Đó là chưa kể đến khả năng có thể sinh sôi được nhiều chiếc “Cub con” khác! Đến nỗi, khi cơ giới xuất hiện, người ta vẫn đo sức máy bằng sức ngựa ố mã lực ố danh từ được góp mặt trên các tờ kinh cổ. Hàng Phật tử năm châu chúng ta, ai mà chẳng tri ân chú ngựa Kiền Trắc, sinh vật đã chở Đức Đạo Sư vượt hoàng thành vào một đêm tối mùa Xuân, mở đầu chuyến đi lịch sử, với chàng Sa Nặc bám lủng lẳng ở đằng đuôi.

Sau khi thành đạo, trên các nẻo đường du hóa, có hơn một lần Đức Đạo Sư đã mang loài ngựa ra làm hình ảnh ví dụ để huấn thị hàng môn đệ:

“Này các Tỳ kheo! Trên đời này có bốn loại ngựa hay:

1. Hạng ngựa vừa thấy bóng roi đã chạy, như người vừa nghe nhắc rằng có ai đó mệnh chung liền tỉnh ngộ tu tập và đạt kết quả tốt.

2. Hạng ngựa không sợ bóng roi, chỉ sợ gậy (có đóng đinh nhọn) thúc vào mông, giống như người vừa thấy ai đó mệnh chung, liền tỉnh ngộ, tinh cần tu tập và đạt kết quả tốt.

3. Hạng ngựa đợi gậy đâm vào thịt mới sợ, như hạng người khi tận mắt thấy thân nhân mình mệnh chung, liền tỉnh ngộ, tinh cần tu tập và đạt kết quả tốt.

4. Hạng ngựa đợi đến lúc gậy thúc thấu xương mới sợ, như hạng người khi tự thân bị bệnh khổ mới tỉnh ngộ, tinh cần tu tập và đạt kết quả tốt”.

(Tương Ưng ố Kinh Gậy thúc ngựa)

Cuộc sống rày đây mai đó, gần gũi với thiên nhiên, loài người, cùng thú vật của Đức Phật đã khiến cho các bản kinh thời nguyên thủy mang rất nhiều hình ảnh sống động của thế giới hiện thực. Nhờ vậy loài ngựa đã in dấu chân rải rác trên các tờ lá bối. Chẳng hạn như: “Hôm nọ, có một chàng trai tên Kesy đến viếng Phật. Biết anh làm nghề luyện ngựa, Đức Đạo Sư bèn hỏi thăm anh về khả năng chuyên môn. Nghe đúng sở trường, Kesy thao thao giảng giải về bí quyết nghề nghiệp của mình: - Bạch Thế Tôn, con thường chia ngựa ra làm bốn loại:

1. Loại được nhiếp phục bằng lời mềm mỏng.

2. Loại được nhiếp phục bằng lời thô ác.

3. Loại được nhiếp phục bằng lời mềm mỏng lẫn thô ác.

4. Loại bất trị, không thể nhiếp phục nổi. Với hạng này chỉ còn cách đem giết thịt để khỏi mất danh dự của nhà luyện ngựa”.

Xong, Kesy hỏi Phật về cách nhiếp phục hàng môn đệ. Đức Đạo Sư đáp rằng, Ngài cũng chia hàng đệ tử ra làm bốn loại:

1. Hạng người được nhiếp phục bằng lời mềm mỏng: khi được chỉ dạy về các việc thiện của thân, khẩu, ý cùng các quả báo tương ứng ở cõi trời, người, họ liền tinh cần tu tập.

2. Hạng người được nhiếp phục bằng lời cứng rắn: khi được chỉ dạy về các hành động bất thiện của thân, khẩu, ý, cần nên tránh vì chúng sẽ đưa đến quả báo tương xứng nơi ba đường ác.

3. Hạng người được nhiếp phục bằng lời mềm mỏng lẫn cứng rắn: bao gồm cả hai lối trên.

4. Hạng người bất trị, không thể nhiếp phục bằng lời mềm mỏng hay cứng rắn, thì đành phải giết đi.

Nghe đến đây, Kesy hốt hoảng hỏi: - Nhưng, bạch Thế Tôn, tại sao lại giết đi? Há không phải Ngài thường khuyên răn hàng môn đệ nên trì giới bất sát đó sao?

- Này chàng trai, trong giáo pháp của ta, giết đi chỉ có nghĩa là không thèm nói tới, vì đương sự không xứng đáng để bỏ công dạy dỗ, nhắc nhở nữa.

(Tương Ưng Bộ kinh)

Trong thời buổi ngày nay, nếu bị ví với ngựa thì thật là đau khổ, nhất là đối với những chúng sanh chưa sạch phiền não, còn đầy đủ hỷ, nộ, ái, ố và kiêu hãnh như chúng ta chẳng hạn. Vậy mà, nào đã hết đâu, Đức Phật còn chia hạng người bất trị trên thành tám loại, tương ứng với tám hạng người hung dữ. Đó là những tôn giả nào, khi được bạn bè nhắc nhở và phê bình, chỉ cho khuyết điểm trong các cuộc họp mặt, lại tỏ thái độ bất mãn chống đối... thay vì tri ân người chỉ dạy và cố gắng sửa đổi, như sau:

1. Hạng người ưa cãi, chối bai bải được coi như giống con ngựa dữ bị tra hàm thiếc và roi mà vẫn hục hặc không chịu bước đi.

2. Hạng người cứ đứng lầm lì, không thèm ừ hử, xác định xem khuyết điểm vừa nêu là đúng hay sai, giống như con ngựa dữ dựa vào hai bên gọng xe, không chịu đi.

3. Hạng người thích trả đũa, bới móc trở lại lỗi lầm của người cử tội mình, giống như con ngựa dữ ngã nhào xuống đất, trầy đầu gối, làm gãy gọng xe.

4. Hạng người chê bai cử tội mình, cho là ngu dốt, không xứng đáng để mắt tới, như con ngựa dữ chạy thụt lui không chịu tiến bước.

5. Hạng người đem lòng oán hận, thù vặt người chỉ lỗi mình, như con ngựa chạy bừa, bất kể đường xấu, làm cho xe hư bánh gãy trục.

6. Hạng người không sợ lầm lỗi, chẳng biết ngán ai, bỏ cuộc họp ra ngoài, giống như con ngựa dữ bất kể nài và roi, ngậm hàm thiếc chạy càn vô phương cứu chữa.

7. Hạng người tỏ thái độ giận dữ, khoa tay múa chân, la hét và thốt ra lời thô ác... giống như con ngựa dữ dựng ngược hai chân và sùi bọt mép.

8. Hạng người bướng bỉnh không muốn ai đụng chạm đến mình, nên khi bị phê bình liền cởi áo vứt ra trước cuộc họp, lớn tiếng dọa từ bỏ đoàn thể để... để vạ cho người xây dựng mình.

(Theo Vinayapitaka)

Nhưng nếu cố gắng... hạ hỏa và dẹp đi chút đỉnh tự ái, bình tâm nhìn lại, chúng ta phải xấu hổ mà thú nhận rằng, tám chú ngựa hung hăng trên đều có đủ mặt, đứng lấp ló trong các ngõ ngách của tâm thức mỗi người. Chỉ cần mất bình tĩnh một chút là ta sẽ lâm vào tình trạng: “Cũng như ngựa dữ không cương, tất đưa người cỡi thẳng xuống hố sâu” (Kinh Di Giáo). Những tội phạm hình sự nhan nhản trên các trang thông tin đại chúng đều thuộc vào loại người ngồi nhằm xe thổ mộ có ngựa bị... đứt dây cương kiểu này. Và không phải là chuyện khi khổng khi không mà Đức Phật đã ví sự xáo động, bất tịnh của tâm thức loài người với khỉ và ngựa, mà danh từ chuyên môn gọi là “tâm viên ý mã”. Còn hơn thế nữa, vó câu của chú ngựa ý này đã dong ruổi đường xa trên những đôi hia bảy dặm, không có phút giây nào ngơi nghỉ: băng ngàn vượt suối, tung vó khắp mười phương thế giới, bay bổng lên trời, chui tọt xuống đất, lăn vào quá khứ, vươn mình đến tương lai... Nhốt được chú ngựa hoang đàng này vào chuồng, tra hàm thiếc, dùng roi gậy điều phục là việc làm suốt cả đời người chủ những người con Phật, dù ở tận thâm sơn cùng cốc hay giữa phố thị kinh kỳ. Cuộc chiến đấu thật là gian khổ vì nài và thú đôi khi chỉ là một, nó đòi hỏi một công lực thâm hậu, như lời xác định của Đức Đạo Sư: “Người nào ngăn được cơn giận dữ nổi lên như dừng được chiếc xe đang chạy ngon trớn mới thật là kẻ chế ngự giỏi. Ngoài ra chỉ là kẻ cầm cương hờ mà thôi” (Pháp Cú, câu 222). Khó khăn đấy, nhưng không phải là bất khả, vì trong hai nghìn năm lịch sử, đã có biết bao trang dũng sĩ chiến thắng trở về, như lời tán dương của Đức Đạo Sư:

Tinh cần giữa phóng dật

Tỉnh thức giữa quần mê

Bậc trí như tuấn mã

Bỏ xa con ngựa què.

(Pháp Cú ố câu 29)

Lịch sử Phật giáo còn ghi lại câu chuyện của Thiền sư Đạo Nhất (709-788), một vị cao tăng Trung Hoa thời Đường, đã được thời nhân gọi là Mã Tổ, một phần vì sư họ Mã, một phần vì lời tiên đoán của Lục Tổ Huệ Năng với vị thầy của ông, về sự xuất hiện của Đạo Nhất: “Dưới chân ngươi sẽ có con ngựa to đạp chết người trong thiên hạ”. Chúng ta hãy nghe qua cách điều phục ngựa của sư.

Sư thường ngồi thiền mỗi ngày. Hôm nọ, Thiền sư Hoài Nhượng đến thăm, hỏi: - Đại đức ngồi thiền để làm gì?

- Thưa, để làm Phật.

Thiền sư Hoài Nhượng bèn lấy một cục gạch đến trước am sư ngôi mài. Thấy lạ, sư hỏi: - Thầy mài gạch để làm gì?

- Để làm gương.

Gạch đấy thể nào làm gương được?

- Ngồi thiền đâu thể thành Phật nổi?

- Vậy phải làm thế nào mới được?

- Như trâu kéo xe, nếu xe không đi, nên đánh xe hay đánh trâu?

Sư lặng thinh, ngài Hoài Nhượng dạy tiếp: - Ông học ngồi thiền, hay học làm Phật? Nếu học ngồi thiền, thiền không phải ngồi nằm. Nếu học làm Phật, Phật không có tướng nhất định. Đối pháp không trụ, chẳng nên thủ xả. Ông nếu ngồi để làm Phật tức là giết Phật, nếu chấp tướng ngồi thì chẳng đạt được ý kia.

Sư nghe đến đấy liền ngộ.

(Tục tạng kinh)

“Mã Tổ ngộ cái gì?” là một câu hỏi khó giải đáp đối với các nhà học Phật. Theo phong cách nhà thiền thì “đáp tại vấn xứ”, nghĩa là người hỏi phải tự tìm ra lời đáp chứ không ai có thể trả lời giùm mình được.

Để mừng Xuân con ngựa, chúng tôi xin mạn phép góp nhặt những chú ngựa trong kinh, làm món quà năm mới, thân ái gởi đến bạn đọc. Chúc quý vị một năm an lành và sớm tìm ra câu giải đáp.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
17/01/201116:02(Xem: 3758)
Xuân sanh, Hạ chín, Thu héo, Đông tàn. Nếp nghĩ xuôi dòng đang đi theo một con đường mòn miên viễn như thế. Bỗng có một vị sơn tăng – như thiền sư Mãn Giác (1090) chẳng hạn – huơ tay, mỉm cười, tầm nhìn hướng ra ngõ vắng đầy sương, ánh mắt bắt gặp một cành mai hôm trước và kêu lên hồn nhiên
15/01/201620:49(Xem: 4650)
Hiện nay, ở một số chùa có trưng bày tượng ba con khỉ trong sân chùa. Nhưng không phải ai cũng biết về nguồn gốc cũng như hiểu đầy đủ ý nghĩa sâu xa mà người xưa muốn truyền dạy lại cho thế hệ sau qua bức tượng tưởng chừng như vô tri đó. Thoạt đầu khi mới nhìn qua bức tượng này có lẽ ai trong chúng ta cũng tưởng như đã hiểu được ẩn ý của nó. Đó là: “không nói, không thấy, không nghe”. Nhiều người cho rằng bức tượng ấy muốn dạy chúng ta hãy ở yên và sống cuộc sống của mình, đừng quan tâm đến chuyện của người khác hay những gì đang xảy ra xung quanh. Nhưng nếu hiểu như vậy thì thiếu chính xác và chưa đầy đủ.
15/10/201821:48(Xem: 2435)
Chúng ta đã ở cuối tháng 10 và chỉ còn 2 tháng nữa là cùng đón năm mới 2019. Thật là tuyệt vời khi mỗi năm ở Làng Mai có một thông điệp của năm. Vậy thông điệp 2019 là gì? “Năm mới ta cũng mới” chính là thông điệp năm mới 2019 đấy ạ.
23/01/201409:57(Xem: 4830)
Nụ cười của Ngài thực là lạ! Cười gì mà căng hết cả đường gân sớ thịt của khuôn mặt. Cười gì mà phô ra ngoài hết tất cả hàm răng, cả đầu lưỡi. Cười rứa mà sao thấy khuôn mặt của Ngài vẫn cứ đẹp lạ đẹp lùng, khuôn mặt Ngài vẫn cứ tròn đầy ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp của chư Phật ba đời. Hỏi thử vô lượng chúng sinh ở cả ba cõi, ai dám… chê nụ cười của Đức Từ Thị ấy nhỉ?
22/01/201707:17(Xem: 1914)
_ Chiều chiều con quạ lợp nhà Con cu chẻ lạt, con gà đưa tranh Câu hát đơn giản truyền đi một thông điệp hoà bình và hạnh phúc, giấc mơ đã xuyên triền miên qua nhiều thế hệ. Ước mơ hòa bình : quạ là loài ác điểu chuyên ăn cướp trứng và bắt cóc gà con ; gà là loài gia cầm hiền lành, nhưng khi bảo vệ ổ trứng và đàn con cũng trở thành hung tợn, thường đánh bạt đối phương. Ở đây hai con chim thù địch hợp tác làm chung một việc. Quạ chim trời, ở vị thế cao, làm việc chủ đạo là lợp nhà ; gà, chim chuồng, ở vị trí thấp, đưa tranh làm việc trung gian ; cu, biểu tượng cho tình yêu đôi lứa, chẻ lạt, tạo điều kiện ràng buộc.
17/01/202020:05(Xem: 973)
Xuân mang ý nghĩa vui vầy sum họp ít nhất theo văn hóa truyền thống Việt Nam. Xuân mang đến sự nghỉ ngơi, tiêu khiển, quân bình thời tiết cho khí hậu ôn hòa, cây lá đơm hoa vươn lên sức sống. Đó là cách nhìn suy nghĩ của đa số con người sống trên hành tinh trái đất này. Tuy nhiên cũng có nhiều người chẳng màng, chẳng để ý mùa xuân, mùa đông… mà chỉ hoạt động theo dòng chảy cuộc đời, theo quan niệm triết sống của riêng mình. Nhưng thế nào, nhất quán ai cũng công nhận mùa xuân là mùa đẹp, vì cảnh vật cây cỏ thêm màu, thêm sắc.
13/01/202020:40(Xem: 1095)
Bạn chúc mình được thân tâm an lạc ! Biết vui với hạnh phúc có trong tầm tay ... Biết chấp nhận chuyện khó thể đổi thay, Là biết sống hoà hợp ...thân tình vui vẻ .
15/01/201417:25(Xem: 5058)
Cảm xúc cuối năm... Tuyết lưu luyến mùa Đông chưa rời bước, Cho cành Mai chớm nụ rước mùa Xuân, Để lòng tôi được xao xuyến , bâng khuâng, Cùng kỷ niệm những ngày Xuân quá khứ .
31/01/201403:04(Xem: 4077)
Cành Lộc Xuân Giáp Ngọ