Bên Cánh Cửa Tre (truyện ngắn của Thích Hạnh Phẩm, do PT Tường Dinh diễn đọc)

29/05/202010:49(Xem: 4977)
Bên Cánh Cửa Tre (truyện ngắn của Thích Hạnh Phẩm, do PT Tường Dinh diễn đọc)

canh cua tre

Bên Cánh Cửa Tre
Truyện ngắn của Thích Hạnh Phẩm

do PT Tường Dinh diễn đọc





Hôm nay ngày Đại Tường Sư Ông, Sau thời công phu sáng, trước Giác Linh đài, chí thành đảnh lễ, không gian như lắng yên, tĩnh lặng…tất cả nhìn tôn ảnh của Sư Ông với tất cả niềm kính cẩn thiêng liêng, trên bàn thờ những đóa sen hồng đang nở, hòa với những ngọn nến thật huyền diệu lung linh…

- Tâm hả con, vào nhanh đi.

Tiểu Tâm bối rối cả người té ra là …, Chú sợ quá, quỳ xuống lạy Hòa thượng trong tiếng khóc nức nở trong nỗi niềm vừa lo âu và hối hận. Hòa Thượng lấy tay xoa lên đầu chú, vuốt cái chõm tóc dài đang ướt và nắm tay chú nhẹ nhàng từ tốn bảo:
- Con thay quần áo nhanh đi, ước hết rồi, hơ ấm, lạy Phật, rồi ngủ đi con!

Tiểu Tâm rón rén thay vội bộ quần áo đã ướt, đến bên nồi lửa than hơ tay, đi nhanh đến phía Tổ Đường lạy ba lạy rồi về phòng. Mấy huynh đệ đã ngủ yên, chú nằm đó nhưng vẫn miên suy nghĩ, chú vẫn thút thít dù Hòa Thượng chẳng đánh roi nào.

Tiết trời mùa đông, từng trận mưa phùn rả rích suốt cả tuần, từng trận gió lạnh thổi tới đâu như những con dao bén thoa muối cắt vào da thịt. Nếu ai đã từng sống ở miền Trung xứ Quảng chắc chắn rằng không thể nào quên những cơn lạnh tái tê như thế. Người dân xứ này nếu như nhà nghèo thì mùa đông là một cực hình, phần lớn là do thiếu đồ ấm, lò sưởi, chưa nói đến là phải chạy lo miếng ăn từng bữa. Hầu như, những người lớn tuổi già yếu thường hay từ trần trong những lúc thời tiết khắc nghiệt như vầy. Tôi còn nhớ, lúc còn nhỏ, mỗi khi tới mùa đông, ông bà nội tôi phải co ro trong mấy chiếc bao bố tời dầy cộm, rồi thường xuyên cứ ngồi bên cái nồi lửa mà mẹ tôi mỗi khi nấu cơm xong thường lấy than để vào trong đó. Nhiều lúc tôi thấy chân của ông bà nội tôi thường nứt ra đổ máu do không chịu nỗi với cái lạnh.

Ấy thế, tại một làng nông thôn xứ Quảng ấy, có một ngôi chùa với vị Hòa Thượng tuổi ngoài bảy mươi cùng với những người đệ tử sống thanh bần tu niệm. Vị Thầy ấy tuy không phải là bậc thông kim bác cổ, hay có tài năng gì xuất chúng nhưng đức của Ngài cuộc sống chuyên tu, thanh bần, giản dị, thật làm cho người nể phục, là ngọn lửa hồng sưởi ấm cho bà con xóm làng trong những ngày đông giá rét, như gió mát của mùa hè oi bức não lòng, là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho dân làng trong những khó khăn nghịch cảnh. Ngài ít nói chuyện, thậm chí cũng ít nói về đạo lý, nhưng từng oai nghi của Ngài thật là những bài pháp không lời có năng lực hết sức đặc biệt. Và mỗi khi Ngài nói ra như được lưu xuất từ tấm tình thương bao la vô hạn của Ngài.
Dân chúng nơi này hầu hết đều làm nghề nông, vì vậy chùa là nguồn vui tinh thần chính cho bà con trong thôn xóm. Ngày, nơi đồng ruộng; đêm về cùng nhau đến chùa thắp hương lễ Phật, tụng kinh, những ngày Sóc Vọng, hoặc ngày mùa thì còn có thêm chè xôi, hương nếp mới. Tuy không phải là cao sang nhưng cuộc sống bình dị ấy đã truyền từ bao thế hệ, nó đã trở thành một nguồn sống linh thiêng trong huyết quản của người dân xứ này.

Ngôi chùa nhỏ, nằm khiêm tốn bên cạnh dòng sông, phía sau chùa là ngọn đồi nhỏ bao bọc, chính vì địa thế như vậy nên mỗi khi đến mùa đông chùa càng lạnh hơn những nơi khác, nước sông thường nhiều hơn do những trận mưa đổ về, rồi từng trận gió cứ lùa từ sông và đi thẳng vào chùa nên mùa đông lạnh càng thêm lạnh.

Và cứ thế nhịp sống của mái chùa quê và cứ êm ả trôi qua trong tình yêu thương che chở của Thầy, thời chiến tranh quê hương bị chìm trong khói lửa, mái chùa cũng một thời bị đỗ nát hoang tàn, nhưng rồi nơi chốn ấy vẫn trở lại hồi sinh với dân làng mộc mạc.

Ngoài vị Hòa thượng tôn kính ấy chùa còn có mười người đệ tử nữa, ngoài những lúc trong thời khóa tu học, các vị ấy vẫn cần mẫn với thửa ruộng và miếng vườn của chùa. Tinh thần “Nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực- Một ngày không làm, một ngày không ăn” của Tổ Quy Sơn đã thấm đượm trong chốn thiền môn, Tuy làm đây không phải để phát triền kinh tế nhưng cũng để một phần tự túc trong sinh hoạt vừa canh chừng miếng ruộng phước điền của tâm cho những hạt giống tốt được nảy mầm xanh tốt và loại bỏ những hạt giống xấu có nguy cơ làm cho mảnh đất tâm bị đầy cỏ dại. Hơn nữa, làm việc vừa phải trong chánh niệm của người tu thì đó cũng là một trong những pháp môn tu. Hòa thượng cũng thường hay nhắc nhở các môn đệ quan niệm của một nhà tu hành về những vần đề tài vật, và những thứ đó chỉ là những phương tiện tạm thời cho một giai đoạn hay một trú xứ nào đó thôi. Ngài luôn đặc biệt lưu ý đến việc giáo huấn hàng đệ tử của Ngài bằng thân giáo với lòng từ bi độ lượng dù bất cứ trường hợp nào.

Tiểu Tâm con út trong nhà, vào chùa được hơn hai năm, chú thường hay nói cũng không phải vì thích tu nhưng vì thích cảnh chùa nên vào chùa vậy thôi. Thời gian gần đây, Chú thường nói hay nhớ nhà, sau thời kinh tinh độ, thỉnh thoảng chú lén chạy về nhà rồi vội vàng về chùa, mấy tiểu khác vẫn biết nhưng không dám nói ra.

Tối đêm đó, trong một đêm mưa tầm tả, gió từng cơn giật mạnh làm cho bụi tre phía sau chùa như từng hồi gào thét, phía dưới sông nước trên đầu nguồn đổ về làm cho dâng cao, trời càng thêm lạnh.

Ầm…ầm, cánh cửa sau của chùa làm bằng phên tre chỉ khép hờ bị ngọn gió mạnh đánh bật va vào vách, Hòa Thượng nhẹ nhàng khoan thai kéo đóng lại nhưng không cài then, chỉ lấy viên đá kê chắn không cho gió lùa vào. Sau đó, Hòa Thượng về phòng, ôm tấm chiếu tre đem xuống trải ra nằm sau tấm cửa, vì Hòa Thượng lo cho Tiểu Tâm không vào được trong nhà giữa đêm mưa lạnh cóng.
Sau đêm Đông ấy, Tiểu Tâm

như hoàn toàn một người mới, như một khởi điểm cho lộ trình tu học,chú từng bước trưởng thành nhanh chóng với thời gian…
- Ở đời, dù học nhiều kinh điển đi chăng nữa, đôi lúc tưởng chừng như quên hết, chỉ còn lại chút tình thương để sống với đời.
Thầy tôi nói khẽ trong cảm xúc, bên ngoài ánh nắng ban mai đang chiếu nhẹ vào mái chùa tranh, qua khung cửa, một sự trùng hợp đến lạ kỳ, cũng tấm cửa bằng tre do chính Thầy tôi kết. Lắng lòng xúc cảm, cách đây hơn 40 năm bên trong cánh cửa tre Sư Ông đã đợi Thầy tôi, dìu Thầy tôi vào Đạo; và bây giờ, bên trong cánh cửa tre của ngôi chùa quê bình dị, Thầy Tôi đã đưa huynh đệ chúng tôi từng bước trưởng thành nơi chốn thiền môn, một khởi điểm của tình thương để làm chất liệu sống giữa biết bao giông tố của cuộc đời…

Thích Hạnh Phẩm
Melbourne, mùa Đông năm 2020




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/04/2013(Xem: 23314)
Quý vị đang cầm trên tay quyển "Đại Đường Tây Vức Ký" được chuyển dịch từ chữ Hán sang tiếng Việt là do kết quả của sự miệt mài dịch thuật của chúng tôi từ ngày 24 tháng 10 năm 2003 đến ngày 10 tháng 12 năm 2003 tại Tu Viện Đa Bảo, Úc Đại Lợi nhân mùa nhập thất lần đầu tại đây.
10/04/2013(Xem: 4904)
Đúng vào hôm tôi vừa ở Phật Học Đường Báo Quốc về thì Vĩnh đến thăm. Anh đến mang cho tôi một chồng sách Phật viết bằng tiếng Pháp mà anh mới gởi mua ở tận xứ xa. Anh cũng không quên mang tặng chú Tâm Mãn một cuốn tự điển Pháp Việt mới xuất bản, bởi vì anh biết chú Mãn đang cần cuốn này để học thêm Pháp văn.
10/04/2013(Xem: 18625)
Tập truyện Phật giáo này, gồm trên 70 câu truyện, rút từ các kinh, luật và luận, hoặc những chuyện mắt thấy tai nghe, có liên quan đến Phật giáo, cũng đem vào. Tập truyện này viết theo ký ức, nên không nhớ nhân danh, địa danh và thời gian. Mong chự vị độc giả thông cảm cho.
10/04/2013(Xem: 21755)
Tác phẩm “ Life and Teaching of the Masters of the Far East » (1935) ”, hồi ký của Dr. Blair T. Spalding (1857 – 1953) Một phần của hồi ký đã được Nguyên Phong chuyển ngữ với tựa đề “Hành Trình Về Phương Đông”
10/04/2013(Xem: 17204)
Ngôi chùa Sắc Tứ Hưng Phước Tự nằm trên một triền đồi thoai thoải, mặt chùa quay ra hướng đông nam hướng về phía biển đông. Lưng chùa tựa sát vào vách núi. Chung quanh là những điện đường ngang dọc, xây theo lối cổ tự ngày xưa. Đây là một chùa bề thế được bao đời chúa Nguyễn sắc phong cho các vị trụ trì tiền nhiệm tại đó. Nên trong lòng ai cũng cung kính nể vì. Lý do là chùa xây dựng rất đúng với thuật phong thuỷ.
10/04/2013(Xem: 5794)
Trong mùa xuân của thời thơ dại Anselm thường thơ thẩn chạy khắp khu vườn xanh lá cây. Cậu bé yêu đặc biệt một loài hoa trong các hoa của mẹ : Hoa Huệ Kiếm
10/04/2013(Xem: 15462)
Ngay từ khi tôi còn thơ ấu, Ba vẫn thường kể câu chuyện về Kim Các Tự cho tôi nghe. Tôi ra đời trên một mũi biển hiu quạnh nhô ra ra biển Nhật Bản ở phía đông bắc Maizuru. Tuy nhiên, nguyên quán của Ba không ở đây mà ở Shiraku, miền ngoại ô phía đông thành phố Maizuru. Ba được thúc đẩy gia nhập giáo hội và trở nên tu sĩ trụ trì một ngôi chùa tên một mỏm đất xa xôi. Ba lập gia đình ở nơi này và sinh ra một đứa con trai, ấy chính là tôi vậy.
10/04/2013(Xem: 21508)
Ðạo vốn vô ngôn; do ngôn mà hiển đạo, thế nên có mạn lục, có bảo huấn, có bút ngữ, có võ khố. Nay đây, có Hòa thượng Văn Thủ, tự Nhất Ty (1607 – 1648) người nước Nhật Bản, lúc đầu ở ẩn nơi Tây Cương thuộc đất Lạc Tây, về sau Ngài về núi Ðan mai danh ẩn tích. Nhưng các hàng xuất gia khắp chốn hải hồ tìm đến bên Ngài kết am tranh tu học số đông không kể xiết.
10/04/2013(Xem: 8274)
Trước vòm cung hình bán nguyệt có những cột trụ đôi chống đỡ, lối vào tu viện Thánh Ân, một cây giẻ - đứa con độc nhất của miền Nam mà ngày xưa một thầy dòng từ La-Mã mang đến - vươn lên ngay bên vệ đường, thân mình cường tráng. Tàng cây tròn trải ra trùm trên mặt đường trong một dáng điệu trìu mến và thở nhẹ trong gió như một lồng ngực đang phập phồng. Về mùa Xuân, trong khi vạn vật quanh nó đã xanh rờn và những cây phỉ của tu viện cũng đã khoác lại bộ lá non màu hung, mùa trổ lá cây giẻ này vẫn còn phải đợi rất lâu.
10/04/2013(Xem: 14110)
.Con người là một con vật biết suy nghĩ, biết tư duy; Vì thế, dù bận rộn với bao khó khăn trở ngại trong cuộc sống; dù tin tưởng vào tôn giáo này hay tôn giáo khác, hoặc vô thần đi nữa, con người cũng phải ít nhất một lần trong đời đặt câu hỏi rằng: Tại sao mình lại sinh ra ? Tại sao con người lại đau khổ ?