Bên Cánh Cửa Tre (truyện ngắn của Thích Hạnh Phẩm, do PT Tường Dinh diễn đọc)

29/05/202010:49(Xem: 4993)
Bên Cánh Cửa Tre (truyện ngắn của Thích Hạnh Phẩm, do PT Tường Dinh diễn đọc)

canh cua tre

Bên Cánh Cửa Tre
Truyện ngắn của Thích Hạnh Phẩm

do PT Tường Dinh diễn đọc





Hôm nay ngày Đại Tường Sư Ông, Sau thời công phu sáng, trước Giác Linh đài, chí thành đảnh lễ, không gian như lắng yên, tĩnh lặng…tất cả nhìn tôn ảnh của Sư Ông với tất cả niềm kính cẩn thiêng liêng, trên bàn thờ những đóa sen hồng đang nở, hòa với những ngọn nến thật huyền diệu lung linh…

- Tâm hả con, vào nhanh đi.

Tiểu Tâm bối rối cả người té ra là …, Chú sợ quá, quỳ xuống lạy Hòa thượng trong tiếng khóc nức nở trong nỗi niềm vừa lo âu và hối hận. Hòa Thượng lấy tay xoa lên đầu chú, vuốt cái chõm tóc dài đang ướt và nắm tay chú nhẹ nhàng từ tốn bảo:
- Con thay quần áo nhanh đi, ước hết rồi, hơ ấm, lạy Phật, rồi ngủ đi con!

Tiểu Tâm rón rén thay vội bộ quần áo đã ướt, đến bên nồi lửa than hơ tay, đi nhanh đến phía Tổ Đường lạy ba lạy rồi về phòng. Mấy huynh đệ đã ngủ yên, chú nằm đó nhưng vẫn miên suy nghĩ, chú vẫn thút thít dù Hòa Thượng chẳng đánh roi nào.

Tiết trời mùa đông, từng trận mưa phùn rả rích suốt cả tuần, từng trận gió lạnh thổi tới đâu như những con dao bén thoa muối cắt vào da thịt. Nếu ai đã từng sống ở miền Trung xứ Quảng chắc chắn rằng không thể nào quên những cơn lạnh tái tê như thế. Người dân xứ này nếu như nhà nghèo thì mùa đông là một cực hình, phần lớn là do thiếu đồ ấm, lò sưởi, chưa nói đến là phải chạy lo miếng ăn từng bữa. Hầu như, những người lớn tuổi già yếu thường hay từ trần trong những lúc thời tiết khắc nghiệt như vầy. Tôi còn nhớ, lúc còn nhỏ, mỗi khi tới mùa đông, ông bà nội tôi phải co ro trong mấy chiếc bao bố tời dầy cộm, rồi thường xuyên cứ ngồi bên cái nồi lửa mà mẹ tôi mỗi khi nấu cơm xong thường lấy than để vào trong đó. Nhiều lúc tôi thấy chân của ông bà nội tôi thường nứt ra đổ máu do không chịu nỗi với cái lạnh.

Ấy thế, tại một làng nông thôn xứ Quảng ấy, có một ngôi chùa với vị Hòa Thượng tuổi ngoài bảy mươi cùng với những người đệ tử sống thanh bần tu niệm. Vị Thầy ấy tuy không phải là bậc thông kim bác cổ, hay có tài năng gì xuất chúng nhưng đức của Ngài cuộc sống chuyên tu, thanh bần, giản dị, thật làm cho người nể phục, là ngọn lửa hồng sưởi ấm cho bà con xóm làng trong những ngày đông giá rét, như gió mát của mùa hè oi bức não lòng, là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho dân làng trong những khó khăn nghịch cảnh. Ngài ít nói chuyện, thậm chí cũng ít nói về đạo lý, nhưng từng oai nghi của Ngài thật là những bài pháp không lời có năng lực hết sức đặc biệt. Và mỗi khi Ngài nói ra như được lưu xuất từ tấm tình thương bao la vô hạn của Ngài.
Dân chúng nơi này hầu hết đều làm nghề nông, vì vậy chùa là nguồn vui tinh thần chính cho bà con trong thôn xóm. Ngày, nơi đồng ruộng; đêm về cùng nhau đến chùa thắp hương lễ Phật, tụng kinh, những ngày Sóc Vọng, hoặc ngày mùa thì còn có thêm chè xôi, hương nếp mới. Tuy không phải là cao sang nhưng cuộc sống bình dị ấy đã truyền từ bao thế hệ, nó đã trở thành một nguồn sống linh thiêng trong huyết quản của người dân xứ này.

Ngôi chùa nhỏ, nằm khiêm tốn bên cạnh dòng sông, phía sau chùa là ngọn đồi nhỏ bao bọc, chính vì địa thế như vậy nên mỗi khi đến mùa đông chùa càng lạnh hơn những nơi khác, nước sông thường nhiều hơn do những trận mưa đổ về, rồi từng trận gió cứ lùa từ sông và đi thẳng vào chùa nên mùa đông lạnh càng thêm lạnh.

Và cứ thế nhịp sống của mái chùa quê và cứ êm ả trôi qua trong tình yêu thương che chở của Thầy, thời chiến tranh quê hương bị chìm trong khói lửa, mái chùa cũng một thời bị đỗ nát hoang tàn, nhưng rồi nơi chốn ấy vẫn trở lại hồi sinh với dân làng mộc mạc.

Ngoài vị Hòa thượng tôn kính ấy chùa còn có mười người đệ tử nữa, ngoài những lúc trong thời khóa tu học, các vị ấy vẫn cần mẫn với thửa ruộng và miếng vườn của chùa. Tinh thần “Nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực- Một ngày không làm, một ngày không ăn” của Tổ Quy Sơn đã thấm đượm trong chốn thiền môn, Tuy làm đây không phải để phát triền kinh tế nhưng cũng để một phần tự túc trong sinh hoạt vừa canh chừng miếng ruộng phước điền của tâm cho những hạt giống tốt được nảy mầm xanh tốt và loại bỏ những hạt giống xấu có nguy cơ làm cho mảnh đất tâm bị đầy cỏ dại. Hơn nữa, làm việc vừa phải trong chánh niệm của người tu thì đó cũng là một trong những pháp môn tu. Hòa thượng cũng thường hay nhắc nhở các môn đệ quan niệm của một nhà tu hành về những vần đề tài vật, và những thứ đó chỉ là những phương tiện tạm thời cho một giai đoạn hay một trú xứ nào đó thôi. Ngài luôn đặc biệt lưu ý đến việc giáo huấn hàng đệ tử của Ngài bằng thân giáo với lòng từ bi độ lượng dù bất cứ trường hợp nào.

Tiểu Tâm con út trong nhà, vào chùa được hơn hai năm, chú thường hay nói cũng không phải vì thích tu nhưng vì thích cảnh chùa nên vào chùa vậy thôi. Thời gian gần đây, Chú thường nói hay nhớ nhà, sau thời kinh tinh độ, thỉnh thoảng chú lén chạy về nhà rồi vội vàng về chùa, mấy tiểu khác vẫn biết nhưng không dám nói ra.

Tối đêm đó, trong một đêm mưa tầm tả, gió từng cơn giật mạnh làm cho bụi tre phía sau chùa như từng hồi gào thét, phía dưới sông nước trên đầu nguồn đổ về làm cho dâng cao, trời càng thêm lạnh.

Ầm…ầm, cánh cửa sau của chùa làm bằng phên tre chỉ khép hờ bị ngọn gió mạnh đánh bật va vào vách, Hòa Thượng nhẹ nhàng khoan thai kéo đóng lại nhưng không cài then, chỉ lấy viên đá kê chắn không cho gió lùa vào. Sau đó, Hòa Thượng về phòng, ôm tấm chiếu tre đem xuống trải ra nằm sau tấm cửa, vì Hòa Thượng lo cho Tiểu Tâm không vào được trong nhà giữa đêm mưa lạnh cóng.
Sau đêm Đông ấy, Tiểu Tâm

như hoàn toàn một người mới, như một khởi điểm cho lộ trình tu học,chú từng bước trưởng thành nhanh chóng với thời gian…
- Ở đời, dù học nhiều kinh điển đi chăng nữa, đôi lúc tưởng chừng như quên hết, chỉ còn lại chút tình thương để sống với đời.
Thầy tôi nói khẽ trong cảm xúc, bên ngoài ánh nắng ban mai đang chiếu nhẹ vào mái chùa tranh, qua khung cửa, một sự trùng hợp đến lạ kỳ, cũng tấm cửa bằng tre do chính Thầy tôi kết. Lắng lòng xúc cảm, cách đây hơn 40 năm bên trong cánh cửa tre Sư Ông đã đợi Thầy tôi, dìu Thầy tôi vào Đạo; và bây giờ, bên trong cánh cửa tre của ngôi chùa quê bình dị, Thầy Tôi đã đưa huynh đệ chúng tôi từng bước trưởng thành nơi chốn thiền môn, một khởi điểm của tình thương để làm chất liệu sống giữa biết bao giông tố của cuộc đời…

Thích Hạnh Phẩm
Melbourne, mùa Đông năm 2020




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
03/08/2016(Xem: 44136)
Nhà thơ triết gia Phạm Công Thiện [1941 - 2011] qua đời năm 2011 tại Houston, nhưng chuyện kể, các bài viết về anh đã nhiều lầm lạc : Người viết : anh bỏ áo tu hành lấy cô vợ người Pháp, theo Thiên Chúa Giáo, kẻ khác viết : anh không hề có một mảnh bằng kể cả bằng tú tài mà dạy Triết Học Viện Đại học Sorbonne, mười lăm tuổi anh đọc và viết hàng chục ngôn ngữ, mười lăm tuổi anh dạy trung học, hai mươi tuổi anh là khoa trưởng khoa Khoa Học Nhân Văn, Đại Học Vạn Hạnh Sài Gòn, anh là triết gia không cần học một ai ? Dạy Triết học tại một Đại Học Pháp mà không cần một văn bằng nào ?
25/07/2016(Xem: 7246)
Người đàn bà đến bên cửa sổ ghé mắt nhìn ra ngoài trời. Qua lớp mưa mù dầy đặc trắng xoá ngoài kia bà chẳng nhìn thấy được gì ngoài những tia chớp xé toạt không gian kèm theo hàng loạt tiếng sấm như long lỡ đất trời. Thời tiết chiều nay quá xấu, xấu hơn người ta đã dự đoán và xấu hơn sự suy nghĩ của Quang, đứa con trai lớn của bà. Đã mấy tháng rồi nó mới có dịp bay về thăm bà vậy mà hôm nay trời lại mưa bão quá chừng! Trước khi lên máy bay nó còn gọi báo cho bà biết: - Bên đây thời tiết đẹp lắm má! Mong rằng khi con bay sang đến Cali thì trời quang mây tạnh, con sẽ chở má đi ăn và ở chơi với má đến tối mới về lại khách sạn.
06/07/2016(Xem: 12747)
Hôm nay là ngày 10 tháng 6 năm 2015, tại thư phòng chùa Viên Giác Hannover, Đức Quốc, tôi bắt đầu viết tác phẩm thứ 65 của mình với tựa đề là “Nước Úc trong tâm tôi” để sang năm 2016 sẽ xuất bản và ấn tống. Tác phẩm nầy được viết trong mùa An Cư Kiết Hạ lần thứ 31 của năm Ất Mùi, nghĩa là từ năm 1984 đến nay (2015) cứ mỗi năm ba tháng như vậy, Thầy trò chúng tôi có trọn vẹn 3 tháng an cư tại chùa Viên Giác thật là an lạc. Chương trình mỗi ngày được bắt đầu từ 5 giờ 45 sáng. Đại Chúng vân tập nơi Tổ Đường để xá Tổ, sau đó lên Chánh Điện, hô canh và tọa thiền 15 phút. Sau khi xả thiền, Đại Chúng bắt đầu trì tụng Thần Chú Thủ Lăng Nghiêm, phần giữa của thời khóa có kinh hành niệm Phật ba vòng, tiếp đó lạy danh hiệu của chư Phật, Bồ Tát và Thánh Chúng độ 35 lạy. Sau thời công phu khuya ai về phòng nấy để nghỉ ngơi hay hành trì tiếp, hoặc tập thể dục. Đúng 8 giờ sáng là giờ điểm tâm của Đại Chúng, ai nấy đều tỉnh thức trong lúc dùng sáng, không nói chuyện, mà câu chuyện hằng ngày chỉ được
13/06/2016(Xem: 6765)
Hoa Lan nhất định không đầu hàng ngẩng mặt than thở: “Đời là bể khổ, tình là giây oan“ như cụ Tố Như đâu. Hoa Lan phải tâm tâm niệm niệm cột vào tâm câu Nhất thiết duy tâm tạo, khổ hay vui đều do cái đầu và bàn tay năm ngón của ta điều binh khiển tướng. Hoa Lan sẽ kể về nỗi khổ, niềm đau của thế gian trong trường thiên Tỵ Nạn Tình Duyên, một vấn nạn trong cuộc sống lứa đôi, trong vòng ái ân, sinh tử. Nỗi khổ chúng sanh chỉ cần khoanh vùng trong hai chữ tỵ nạn cũng đủ làm ta khiếp vía. Nào tỵ nạn cộng sản, con rơi của tỵ nạn chính trị, cháu rớt của tỵ nạn kinh tế, những đề tài ấy nhắc đến đã đủ ù tai hoa mắt và cũng chẳng phải là sở trường của mình, Hoa Lan sẽ kể về đề tài tỵ nạn tình duyên, nơi đã đi, đã đến và đã về.
01/06/2016(Xem: 21371)
Bài này được viết như một ghi chú cho Thiền Tông, để như một cách tiếp cận đơn giản… và hy vọng, cũng là một ghi chú cho rất nhiều pháp khác của nhà Phật, kể cả Tịnh Độ. Bởi vì, Thiền Tông là pháp môn cốt tủy nhất, trực tiếp nhất, không qua bất kỳ phương tiện nào khác, và cũng có thể dùng làm chiếc cửa lớn cho tất cả các pháp khác.
31/05/2016(Xem: 25438)
Chuyện xảy ra ở Việt Nam, nhưng lại bắt đầu từ bên Mỹ. Số là, vào khoảng thời gian năm 1956, có một kỹ sư Hoa Kỳ tên là Frank M.Balk. Chàng kỹ sư này suốt đời chẳng biết gì về cái xứ bé nhỏ xa xôi tận vùng Đông Nam Á tên gọi là Việt Nam cả.
27/05/2016(Xem: 9848)
Bao nhiêu năm ao ước cho đến hôm nay tôi mới có duyên lành được hành hương về Tây Trúc - Tây Trúc hay Thiên Trúc là tên gọi trước đây của xứ Ấn Độ. Trong phái đoàn tôi đi có nhóm Sợi Nắng và các Phật tử đến từ Canada cũng như Hoa Kỳ. Về chư Tăng thì có thầy Tánh Tuệ - nhà thơ Như Nhiên. Thầy là người từng sống và học tập ở Ấn Độ suốt bảy năm nên thầy nắm rất rõ về lịch sử, địa lý, phong tục tập quán... của người Ấn Độ. Cũng chính vì thâm niên như vậy nên nước da thầy rám nắng và người ta thường gọi thầy với cái tên rất gần gũi là "thầy cà-ri". Ngoài ra, phái đoàn còn có thêm sư cô An Phụng và sư cô Huệ Lạc
16/05/2016(Xem: 15616)
Phim Phật Giáo: Quan Âm Bán Cá
10/05/2016(Xem: 23260)
Hằng triệu dân Miền Nam nói chung trong các tôn giáo, nói riêng Quân, Cán Chính VNCH, (KiTô Giáo, Tam Giáo), tất cả các cấp từ trung ương đến địa phương, đều thấy biết chốp bu (VIP) của Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng, đều là Tướng, Tá các cấp trong Tam giáo, do Đại Tướng Dương Văn Minh làm chủ tịch có lời hiệu triệu kêu gọi toàn quân binh chủng tham gia Cách Mạng nhưng, những Tướng, Tá các cấp Cần Lao KiTô Giáo ngồi im và có hành động chống lại. Tức thì liền bị bắn chết ngay. Như Đại Tá Quyền (Cần Lao – Bộ Tư Lệnh Hải Quân) bị bắn chết trên xa lộ, do không tham gia, chống lại HĐQNCM. Nói rõ hơn, Tướng, Tá gốc Cần Lao Thiên Chúa không ai lên tiếng xin tham gia, đánh điện ủng hộ. Đến khi nghe ĐT Quyền bị bắn chết, liền gọi điện thoại, đánh công điện về Bộ Chỉ Huy Cách Mạng xin tham gia, nói lời ủng hộ. Nhưng, tất cả đều giả vờ, không thật lòng, là ý tưởng chung của các ông Cần Lao, họ đã hội kiến với nhau, với các giới KiTô trong nhà thờ, ngoài xóm đạo, là cứ giả theo, để rồi sau đó
05/05/2016(Xem: 7710)
Festival Huế lần 9 đã chiêu đãi khách quý và bà con mình một bữa tiệc văn hóa, nghệ thuật, lịch sử, âm nhạc, ẩm thực, gồm: Lễ hội chính 13 chương trình; Hoạt động hưởng ứng 28 chương trình; Âm nhạc 27 chương trình; Nghệ thuật truyền thống 9 chương trình; Múa 9 chương trình; Triển lãm, trưng bày, sắp đặt 19 chương trình; Nghệ thuật 14 chương trình. Để thực hiện một Festival hoành tráng, kỳ công, đa dạng, đậm chất Huế như vậy, ai cũng biết là không hề đơn giản. Nó thấm đẫm trí tuệ, mồ hôi, tâm huyết của chủ (Bộ máy nhà nước và bà con Thừa Thiên Huế) và khách (các đoàn quốc tế và du khách).