Truyện Thơ: Trả Thịt

17/03/202021:05(Xem: 15944)
Truyện Thơ: Trả Thịt

indian king 2
TRẢ THỊT

 

Nước kia có một ông vua

Nghe lời đồn đãi khó ưa về mình

Ngoài đời có kẻ phê bình

Rằng mình bạo ngược, tính tình tàn hung

Còn về chính trị chẳng thông,

Vua nghe tức bực trong lòng lắm thay

Vua bèn hạ lệnh ra ngay:

“Bắt cho kỳ được tên này về cung

Tên này phạm thượng vô cùng.”

Tuy nhiên mật thám truy lùng không ra

Biết ai mà bắt bây giờ

Nịnh thần có kẻ bất ngờ trình tâu,

Vua nghe ra lệnh tóm đầu

Một viên quan nọ có đâu tội tình

Rồi lên án chịu cực hình

Lóc trăm lạng thịt trên mình quan kia

Sau xương sống, thật thảm thê

Gọi là trừng phạt tội “khi quân” này.

Thế rồi sau một ít ngày

Có người minh chứng vua hay rõ ràng

Vị quan đó bị hàm oan

Dám đâu nói xấu cung vàng khi nao.

Nhà vua hối hận biết bao

Oan người vô tội lẽ nào để yên

Phải đền bù cho người hiền

Đền bù tổn thất lại liền một khi

Vua bèn ra lệnh lạ kỳ

Dùng ngàn lạng thịt tức thì đắp lên

Ngay xương sống, trả lại liền

Nghĩ bù đắp vậy là yên mọi bề.

Vị quan được trả thịt về

Vẫn còn đau đớn não nề khóc than

Cứ rên rỉ suốt canh tàn

Nhà vua nghe được chẳng cần xét suy

Đến nơi vặn hỏi quan kia:

“Ngươi còn khóc lóc làm chi nữa mà

Thịt ngươi ta chỉ lấy ra

Có trăm lạng thịt. Nay ta đền bồi

Một ngàn lạng thịt đủ rồi

Cớ sao ngươi vẫn còn ngồi than thân?”

Nạn nhân mệt mỏi vô ngần

Không còn sức lực, chịu thầm đớn đau,

Người chung quanh vội trình tâu:

“Nếu ai mà có chặt đầu đại vương

Rồi sau họ lại bồi thường

Một ngàn đầu khác cũng không ích gì

Làm sao dính lại đầu kia!”

Vua nghe nói vậy, lầm lì, lặng thinh.

*

Kẻ ngu trong đám chúng sinh

Tham vui hiện tại thoả tình không thôi

Sợ đâu hậu quả tương lai,

Họ gây khổ não cho người chung quanh

Góp gom tiền của về mình

Rồi đem làm phúc, quả lành cầu mong

Mong bao tội lỗi diệt xong,

Nghĩ suy như vậy là không đúng rồi.

Truyện nhà vua lóc thịt người

Khuyên đừng cẩu thả buông lơi việc gì

Bạo tàn, lỗ mãng ích chi

Kẻo khi lầm lỡ khó bề sửa sai!

*

Tâm Minh Ngô Tằng Giao

(Thi hóa Kinh Bách Dụ)

 

The King Was Said

To Have Given Rein To Cruelty

     Once upon a time a man pronouncing his king's crimes, said, "Very cruel is the king. He is incapable of governing."

     On hearing this, the king lost his temper without making sure who it was that had said it. He took his deceitful attendant's advice by holding an eminent minister under arrest. He ordered to have his backbone flayed and have his body cut to one hundred ounces of flesh for punishment.

     Soon afterwards, a man testified the minister's innocence to the king. To his regret, the king ordered one thousand ounces of flesh is given to the minister to make up for what was cut off from his body.

     Later, when the minister gave a groan with pain at night, the king asked, "What's wrong with you? I have given you back ten times more than I had taken from you. Are you not satisfied with it? Why are you still moaning?"

     A bystander replied, "Oh! My great king! If anyone cut your Majesty's head and gave back one thousand other heads, could you Majesty keep out of the way of death? How could getting ten times of the flesh the minister relieve himself the pain?"

     So is the stupid man who is greedy for the present pleasure but not afraid of the consequences for the hereafter. He makes people around him miserable and puts them into requisition trying to make a fortune. On the other hand, he hopes to redeem his sins and obtain blessedness.

     This stupid man is just like the king who first flayed and punished someone and then tried to give him back the flesh. It is impossible that the pain can be eased.

 

(Phần tiếng Anh trích dẫn trong “Sakyamuni’s One Hundred Fables” của Tetcheng Liao)

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
12/10/2011(Xem: 25206)
Truyện thơ Tôn giả La Hầu La - Tác giả: Tâm Minh Ngô Tằng Giao
01/10/2011(Xem: 9745)
Hàng ngũ phật tử thường được chia là phật tử tại gia và phật tử xuất gia. Các phật tử tại gia thường được gọi là cư sĩ. Trong lịch sử đạo Phật có ghi lại chuyện một số các vị cư sĩ nổi tiếng, tuy các vị ấy không xuất gia nhưng về phương diện tu hành, thấu hiểu đạo lý thì không thua kém gì các vị đã xuất gia. Có nhiều vị cư sĩ nổi tiếng nhưng bài này chỉ xin nhắc đến ông Duy Ma Cật, bà hoàng hậu Thắng Man, cư sĩ Huệ Năng lúc chưa xuất gia và sau đó đến gia đình ông Bàng Uẩn.
25/09/2011(Xem: 6001)
Lời hát ru nhẹ nhàng mà trầm buồn da diết ấy đi vào trong cả giấc mơ của Hiền. Bao lần chị giựt mình thảng thốt ngồi bật dậy… ngơ ngác nhìn quanh. Chẳng có gì khác ngoài bóng đêm lạnh giá bao trùm hai dãy xà lim hun hút. Chốc chốc vẳng lại tiếng thạch sùng chặc lưỡi, tiếng chí chóe của mấy chú tí ưa khuấy rối trong xó tối. Và cả tiếng thở dài của ai đó dội qua mấy bức tường xanh rêu im ỉm…
24/09/2011(Xem: 4093)
Ngày xưa có một chàng trai tên là Na Á. Anh mồ côi cha từ sớm, ở với mẹ già. Nhà Na Á nghèo, anh phải làm nghề đánh cá để nuôi thân, nuôi mẹ.
24/09/2011(Xem: 4873)
Một hôm em bé ngồi trong bóng cây trú nắng, gió cũng thổi mát quá, em ngủ quên, đến lúc thức dậy, thì đàn trâu đã đi mất. Em tìm khắp cánh đồng mà chẳng thấy.
21/09/2011(Xem: 4338)
Tờ Chú (có nghĩa là anh đen) nghèo nhất làng. Họ nghèo lắm, nghèo đến nỗi không có một con dao mẻ để phát nương, một cái thuổng để đào củ mài.
21/09/2011(Xem: 4078)
Ngày xưa, ở xã Đại An gần cù lao Huân tỉnh Khánh Hòa có một đôi vợ chồng già không có con cái. Ông bà ở trong một căn nhà lá dựng bên vách núi, làm nghề trồng dưa.
16/09/2011(Xem: 15247)
Tôi cảm động, vì sống trong đạo giải thoát tôi đã tiếp nhận được một thứ tình thiêng liêng, trong sáng; một thứ tình êm nhẹ thanh thoát đượm ngát hương vị lý tưởng...
12/09/2011(Xem: 5340)
Hồ Biểu Chánh (1884–1958), tên thật là Hồ Văn Trung, tự Biểu Chánh, hiệu Thứ Tiên; là một nhà văn tiên phong của miền Nam Việt Nam ở đầu thế kỷ 20. Ông sinh năm 1885 (trong giấy khai sinh ghi ngày 1 tháng 10 năm 1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Ông vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ.
11/09/2011(Xem: 15732)
Tôi thức dậy trong một sự yên tĩnh như thế ấy ở Pomona. Tiếng chim hót vang rừng những không thể nói là tiếng ồn. Nó lại càng làm cho sự yên lặng thêm sâu hơn về bề sâu là khác.