Tử Tế Một Chiều (truyện thơ)

26/02/201908:17(Xem: 12303)
Tử Tế Một Chiều (truyện thơ)


Phat thichca

TỬ TẾ MỘT CHIỀU

 

Hai nhà buôn thuở xa xưa

Vẫn thường liên lạc thư từ với nhau

Ông già thành thị rất giàu

Ở Ba La Nại từ lâu đời rồi

Chàng kia ở phía xa xôi

Nơi làng biên giới ít người ghé đây,

Hai bên quen biết lâu nay

Nhưng chưa hề có một ngày gặp nhau.

Một hôm hàng hóa tới mau

Nhà buôn biên giới gởi vào kinh đô

Năm trăm xe chất đầy đồ

Chất đầy hàng hóa để chờ bán đi

Chàng trai trẻ dặn đoàn xe

Đến nhờ ông lão giàu kia giúp mình,

Đoàn xe khi tới kinh thành

Biếu quà ông lão tỏ tình tương thân

Ông già tử tế vô ngần

Mời đoàn ăn ở tại luôn trong nhà

Biếu tiền cho họ tiêu pha

Hết lòng đối đãi thật là tốt thay,

Hỏi thăm bạn trẻ xa đây

Mua quà gởi tặng lại ngay bạn mình,

Vì là người chốn kinh thành

Cho nên ông giúp bán nhanh hết hàng

Đoàn xe lời kiếm dễ dàng

Lên đường quay trở về làng nơi xa

Chuyến buôn thuận lợi vừa qua

Đầu đuôi thuật rõ để nhà buôn hay.

*

Thế rồi cho tới một ngày

Chính ông già lại gửi ngay hàng mình

Năm trăm xe rời kinh thành

Nhắm vùng biên giới tiến nhanh tới liền

Đem hàng đi bán trong miền

Nhờ nhà buôn trẻ giúp thêm bán hàng

Đem quà biếu bạn đàng hoàng

Trước sau tình nghĩa vẹn toàn cả hai.

Khi đoàn thành thị tới nơi

Anh chàng biên địa tức thời hỏi thăm

Đoàn buôn vui vẻ thưa rằng

Từ Ba La Nại mang hàng tới đây

Nhờ chàng giúp đỡ một tay:

“Chủ tôi là chỗ thường hay thư từ.”

Anh chàng trẻ chẳng ngần ngừ

Nhận quà nhưng lại chối từ chẳng quen:

“Tôi nào có bạn vùng trên

Từ Ba La Nại là miền xa xôi.”

Nói xong chàng phá lên cười

Thốt lời mai mỉa giễu người phương xa,

Giễu xong chàng đuổi họ ra

Chẳng màng giúp đỡ, thật là vô ơn.

Đoàn buôn thành thị rất buồn

Phải đành xoay xở bán buôn tự mình

Bán xong trở lại kinh thành

Chuyến buôn biên giới tường trình chủ hay.

*

Thời gian lặng lẽ vần xoay

Chàng buôn biên giới một ngày tương lai

Gửi hàng đi chuyến thứ hai

Năm trăm xe cộ nối đuôi lên đường

Về Ba La Nại bán hàng

Đoàn xe theo lệ thông thường ghé qua

Biếu cho ông lão ít quà

Và nhờ giúp đỡ như là trước đây.

Tiếp đoàn biên giới chuyến này

Người nhà ông lão giành ngay đặc quyền

Thưa cùng chủ: “Cứ lặng yên

Chúng tôi xin tiếp khách liền khó đâu.”

Họ cùng xúm lại bàn nhau

Đưa ngay bọn khách ra mau ngoại thành

Nghỉ đêm trên cánh đồng xanh

Dựng lều, dựng trại vây quanh xe hàng

Đồng thời lên tiếng dặn rằng:

“Đồ ăn, thức uống sẽ mang lại liền

Mang biếu thêm cả chút tiền

Các người hãy cứ ở yên đợi chờ.”

Dặn dò xong khách phương xa

Thế là cả đám người nhà lão ông

Quay về triệu tập thật đông

Bao nhiêu là kẻ làm công họp đoàn

Canh khuya trở lại xe hàng

Cướp ngay hàng hóa sẵn sàng ngại chi

Bò thời đánh đuổi hết đi

Xe thời tháo bánh mang về theo luôn.

Khách phương xa trong đoàn buôn

Hè nhau tháo chạy, tâm hồn hoảng kinh

Chạy về biên giới của mình

Đầu đuôi sự việc tường trình chủ nghe,

Người nhà ông lão buôn kia

Cũng về báo cáo những gì xảy ra.

Lão ông nghe chuyện vừa qua

Dạy rằng: “Những kẻ xấu xa ở đời

Vong ân bội nghĩa với người

Rước về hậu quả tức thời khổ đau

Nào ai còn muốn giúp đâu

Bị người đối xử trước sau tuyệt tình.”

*

NHẬN DIỆN TIỀN THÂN

Vị triệu phú ở Ba La Nại là tiền thân Đức Phật.

*

Tâm Minh Ngô Tằng Giao

(thi hóa, phỏng dịch theo bản văn xuôi

ONE WAY HOSPITALITY

của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
12/10/2011(Xem: 25184)
Truyện thơ Tôn giả La Hầu La - Tác giả: Tâm Minh Ngô Tằng Giao
01/10/2011(Xem: 9741)
Hàng ngũ phật tử thường được chia là phật tử tại gia và phật tử xuất gia. Các phật tử tại gia thường được gọi là cư sĩ. Trong lịch sử đạo Phật có ghi lại chuyện một số các vị cư sĩ nổi tiếng, tuy các vị ấy không xuất gia nhưng về phương diện tu hành, thấu hiểu đạo lý thì không thua kém gì các vị đã xuất gia. Có nhiều vị cư sĩ nổi tiếng nhưng bài này chỉ xin nhắc đến ông Duy Ma Cật, bà hoàng hậu Thắng Man, cư sĩ Huệ Năng lúc chưa xuất gia và sau đó đến gia đình ông Bàng Uẩn.
25/09/2011(Xem: 5863)
Lời hát ru nhẹ nhàng mà trầm buồn da diết ấy đi vào trong cả giấc mơ của Hiền. Bao lần chị giựt mình thảng thốt ngồi bật dậy… ngơ ngác nhìn quanh. Chẳng có gì khác ngoài bóng đêm lạnh giá bao trùm hai dãy xà lim hun hút. Chốc chốc vẳng lại tiếng thạch sùng chặc lưỡi, tiếng chí chóe của mấy chú tí ưa khuấy rối trong xó tối. Và cả tiếng thở dài của ai đó dội qua mấy bức tường xanh rêu im ỉm…
24/09/2011(Xem: 4087)
Ngày xưa có một chàng trai tên là Na Á. Anh mồ côi cha từ sớm, ở với mẹ già. Nhà Na Á nghèo, anh phải làm nghề đánh cá để nuôi thân, nuôi mẹ.
24/09/2011(Xem: 4857)
Một hôm em bé ngồi trong bóng cây trú nắng, gió cũng thổi mát quá, em ngủ quên, đến lúc thức dậy, thì đàn trâu đã đi mất. Em tìm khắp cánh đồng mà chẳng thấy.
21/09/2011(Xem: 4257)
Tờ Chú (có nghĩa là anh đen) nghèo nhất làng. Họ nghèo lắm, nghèo đến nỗi không có một con dao mẻ để phát nương, một cái thuổng để đào củ mài.
21/09/2011(Xem: 4068)
Ngày xưa, ở xã Đại An gần cù lao Huân tỉnh Khánh Hòa có một đôi vợ chồng già không có con cái. Ông bà ở trong một căn nhà lá dựng bên vách núi, làm nghề trồng dưa.
16/09/2011(Xem: 15218)
Tôi cảm động, vì sống trong đạo giải thoát tôi đã tiếp nhận được một thứ tình thiêng liêng, trong sáng; một thứ tình êm nhẹ thanh thoát đượm ngát hương vị lý tưởng...
12/09/2011(Xem: 5336)
Hồ Biểu Chánh (1884–1958), tên thật là Hồ Văn Trung, tự Biểu Chánh, hiệu Thứ Tiên; là một nhà văn tiên phong của miền Nam Việt Nam ở đầu thế kỷ 20. Ông sinh năm 1885 (trong giấy khai sinh ghi ngày 1 tháng 10 năm 1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Ông vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ.
11/09/2011(Xem: 15613)
Tôi thức dậy trong một sự yên tĩnh như thế ấy ở Pomona. Tiếng chim hót vang rừng những không thể nói là tiếng ồn. Nó lại càng làm cho sự yên lặng thêm sâu hơn về bề sâu là khác.