12. Trọng Trách

16/12/201808:07(Xem: 3566)
12. Trọng Trách

sudoithinhmoiphapdao_12avhưu
“Sự Đời thỉnh mời Pháp Đạo”

 

Câu chuyện thứ mười hai:

TRỌNG TRÁCH

 

             Chiều, biển không êm, mà cũng không động lắm, nên cũng có một số du khách xuống tắm bơi, đùa sóng ở khu vực gần chiếc chòi cao mái lá của Đội Cứu Hộ Bãi Biển.

            Anh nhân viên cứu hộ tướng tá vạm vỡ bất chợt nhìn thấy một người “viên đính phương y” (đầu tròn áo vuông) có vóc dáng nhỏ bé ốm yếu đang đứng bất động nơi mép nước sóng vỗ, mặt hướng ra ngoài khơi xa… Thấy bất an, nên anh ta vội rời chòi, tiến thẳng đến chỗ vị tăng, nhận ra đó là một tu sĩ cao niên, nên tằng hắng một tiếng đánh động. Vị tăng vẫn không nhúc nhích, mắt cứ đăm đăm nhìn về phía chân trời, buộc anh ta phải bước lại đứng đối diện, chắp tay, lên tiếng:

           “Nam mô A Di Đà Phật!”

           Vị tăng thở dài một hơi, rồi nhìn người “quấy rối”, chắp tay đáp lễ:

           “Nam mô Phật! Có chuyện chi vậy anh?”

           “Thầy có biết bơi không? Thầy đứng chỗ này nguy hiểm lắm, lỡ có một con sóng lớn bất ngờ ập vô bờ, nó kéo chân thầy mà lôi xuống nước, đẩy ra kia thì sao?”

          “Tôi chỉ đứng một chỗ nơi này, nơi vừa đủ đón nhận nước vỗ vào đôi bàn chân thôi, chứ không có ý định nhảy xuống dưới tắm đâu!”

          “Dạ, tại tôi thấy bất thường, do thầy cứ đứng như trời trồng, vóc người lại ốm yếu bé nhỏ, nên tôi phải quan tâm để thi hành nhiệm vụ cứu hộ của mình!”

          “Cảm ơn anh. Không sao đâu.”

          Anh nhân viên cứu hộ định chào đi, nhưng lại ngứa miệng hỏi:

          “Sao thầy xuống bãi biển mà cứ đứng đây hoài, không bơi không tắm?”

          “Tôi hòa mình vào thiên nhiên.”

          “Ồ, thầy hòa mình với thiên nhiên kiểu gì mà cứ đứng như pho tượng, nơi sóng vỗ vào bờ, gió thì lồng lộng, thấy thật bất ổn, không an toàn chút nào!”

         “Đó là anh thấy, chứ tôi đâu thấy bất ổn bất an?!”

        “Bộ thầy không thấy sóng to đó sao?”

        “Không.”

        “Sóng sờ sờ ầm ầm đó mà thầy không thấy thì thầy thấy gì?”

        “Tôi chỉ thấy Nước. Sóng và Nước chỉ là một. Phật và Tâm cũng chỉ là một. Bất Nhị!”

        “Ui chao, thầy nói cao siêu quá, tôi không hiểu nổi đâu!”

        “Vậy thôi, anh đừng hỏi chi nữa.” Vị tăng chợt chuyển giọng thân thiện vui vẻ “Anh là nhân viên cứu hộ phải không?”

        “Dạ, đúng.”

        “Mang trọng trách đó tạo được nhiều Phước lắm đa!”

         “Vậy sao, thầy?’

         “Chứ sao. Cứu một mạng người bằng xây chín bậc phù đồ mà. Hồi giờ anh cứu được bao nhiêu người, thì cứ nhân cho 9 lên là biết mình đã xây nên bao nhiêu ngôi tháp rồi!”

        “Dạ, vậy chắc là tôi gom được cả kho Phước đó thầy!”

        “Đúng vậy. Nhưng đừng để hao tổn, thất thoát cái kho Phước của mình. Người xuất gia tu hành như tôi, thọ của đàn na tín thí, mà không lo tu thì bị tổn Đức. Người xuất gia nào mà mang trọng trách hoằng pháp độ sinh mà không lo truyền bá Phật pháp, cứ lo những chuyện đâu đâu, thì cũng bị tổn Đức. Còn anh, nếu anh cứ đứng ở đây hỏi lung tung những chuyện không phải của mình, lãng quên trọng trách cứu hộ, lỡ đằng kia, đằng nọ đang có người chết đuối mà anh không cứu kịp, là anh làm tổn Phước ghê gớm lắm đó!”

         Anh nhân viên cứu hộ giật nẩy mình lên, nhìn dáo dác tứ phía, rồi bước nhanh nhanh về phía có vài du khách đang đùa với sóng, quên cả một câu chào tạm biệt với vị khách “đầu tròn áo vuông”.

 

Tâm Không – Vĩnh Hữu

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
24/01/2015(Xem: 6419)
Mỗi sáng sớm khi sương còn mù mịt trên sông, chiếc thuyền con của lão già đã là đà rẽ nước, hướng về bờ – lúc thì bờ đông, lúc thì bờ tây, nơi những ngôi nhà tranh và những chiếc ghe nhỏ tụ tập. Mái chèo khua nhè nhẹ như thể sợ động giấc ngủ của thế nhân. Chẳng ai biết chắc lão có gia đình, nhà cửa ở đâu hay không. Nhưng người ta có thể đoán chiếc thuyền con ấy chính là nhà của lão, vì lão phơi thuốc, xắc thuốc, nấu thuốc ngay trên đó. Trên thuyền không còn ai khác. Ban đêm, thuyền của lão neo ở đâu không ai biết, nhưng sáng sớm thì thấy lù lù xuất hiện trên sông hoặc nơi bờ cát. Lão già đến và đi, một mình. Mỗi ngày xách cái túi nhỏ rời thuyền, thường là đi hái thuốc trên núi, ven rừng, bờ suối, có khi vào làng chữa bệnh cho bá tánh rồi ghé chợ mua vài thứ lĩnh kĩnh.
21/01/2015(Xem: 13400)
1. Chân như đạo Phật rất mầu Tâm trung chữ Hiếu niệm đầu chữ Nhân, Hiếu là độ được song thân Nhân là cứu độ trầm luân muôn loài. 5. Thần thông nghìn mắt nghìn tay Cũng trong một điểm linh đài hóa ra,
16/01/2015(Xem: 5056)
Sau 30-4-75, tất cả giáo chức chúng tôi đều phải đi học tập chính trị trong suốt 3 tháng hè mà họ gọi nôm na là "bồi dưỡng nghiệp vụ". Một buổi chiều sau mấy ngày "bồi dưỡng", tôi đạp xe lang thang qua vùng Trương minh Giảng, tình cờ gặp Báu - một người học trò năm xưa, rất xưa, đang ngơ ngẩn đứng trước cửa nhà. Dừng xe đạp, tôi chào: - Báu hả? Phải em là Trương thị Báu không? Có nhớ ra cô không? Báu giương mắt nhìn tôi, nhìn đi nhìn lại rồi nghiêng đầu lại nhìn...Em không nhớ nổi... Tôi đã thoáng thấy được một tâm thần bất thường qua thần sắc cũng như qua đôi mắt trống rỗng vô hồn!
16/01/2015(Xem: 6275)
Năm 1954 ông Thiện khăn gói đùm đề đưa mẹ, vợ và hai đứa con gái xuống con tàu há mồm vào Nam.Trên bờ, Thụ, người em trai của ông còn đưa tay vẫy vẫy. Đêm hôm qua, ông và người em trai bàn rất nhiều về chuyến ra đi này.Người em nói: - Đất nước đã hòa bình, độc lập, anh nên ở lại, dù gì cũng là nơi chôn nhau cắt rốn.Vào Nam xứ lạ quê người, chân ướt chân ráo trăm bề khổ sở... Ông Thiện đã trả lời em:
15/01/2015(Xem: 6329)
Trong cả thành phố này, anh chị chỉ có tôi là chỗ thân nhất, vừa là thầy vừa là bạn. Buổi sáng anh gọi phone bảo trưa nay đến đón tôi về nhà dùng cơm cho vui. Hôm nay là sinh nhật của thằng Alexander con một của anh chị.
14/01/2015(Xem: 14207)
Tiếng Hồng chung Phật Học Viện Hải Đức Nha Trang nói riêng và các chùa trong thành phố Nha trang nói chung, sớm khuya ai cũng có thể nghe được, nhưng nghe để “Trí tuệ lớn” và “Bồ-đề sinh” thì tùy theo “phiền não” của đối tượng nghe có vơi nhẹ hay không? Riêng với nhà văn Võ Hồng, qua tác phẩm “Tiếng chuông triêu mộ” cho thấy Trí tuệ và Bồ đề của ông sanh trưởng tốt. Nhưng nhân duyên như thế cũng chưa đủ, ông là giáo sư của PHV, của trường Bồ Đề, là thiện tri thức của các bậc cao Tăng ở đồi Đông và đồi Tây non Trại Thủy. Có thế mới có truyện ngắn “Cây khế lưng đồi”, có tùy bút “Con đường thanh tịnh”. Thưa thầy Võ Hồng, chừng ấy đủ rồi, đủ cho PHV đi vào lịch sử văn học, đủ cho 100 năm sau, 1000 năm sau hay nhiều hơn thế nữa, nhìn thấy PHV uy nghi như một Linh Thứu thời Phật và cũng cho thấy các bậc cao Tăng Miền Trung nói riêng xứng đáng là những Sứ giả Như Lai đầy trách nhiệm đối với sự trường tồn của Phật giáo Việt Nam.
09/01/2015(Xem: 5909)
Tháng 10 năm 1962, TT Chủ Tịch Ủy Ban Liên Phái… nhờ Tôi đi công tác Vũng Tàu, Tôi đi chuyến xe đò lúc 8g30 sáng, xe chạy vừa khỏi hãng xi-man Hà Tiên, thì có 3 người đón xe. Anh tài xế nói với tôi : “Thầy vui lòng xuống hàng ghế phía dưới để cho “mấy cha”ngồi, vui nghen Thầy”! Tôi lách mình qua khoản trống thì có 2 vị đưa tay đón và đở nhường chỗ ngồi còn nói lớn: “Ngộ ha, cha quí hơn Thầy “! Tôi sợ gây chuyện không vui, nên đưa tay và lắc đầu xin yên lặng. Vì đương thời bấy giờ bóng dáng của các áo đen có nhiều sát khí thế lực! Nhưng, Mộc dục tịnh, nhi phong bất đình 木欲淨而風不亭.Xe chạy êm ả, gió lùa mát rượi.
26/12/2014(Xem: 19185)
Phât tử Chơn Huy ở Hoa Kỳ về có đem theo tập tự truyện dày của Tỳ Kheo Yogavacara Rahula. Cô nói truyện rất hay, khuyên tôi đọc và nhờ tôi dịch ra Việt ngữ để phổ biến trong giới Phật tử Việt Nam. Câu chuyện rất lý thú, nói về đời của một chàng trai Mỹ đi từ chỗ lang bạt giang hồ đến thiền môn. Truyện tựa đề "ONE NIGHT'S SHELTER (From Home to Homelessness)--The Autobiography of an American Buddhist Monk". Tôi đọc đi rồi muốn đọc lại để thấu đáo chi tiết trung thực của một đoạn đời, đời Thầy Yogavacara Rahula. Nhưng thay vì đọc lại, tôi quyết định dịch vì biết rằng dịch thuật là phương pháp hay nhứt để hiểu tác giả một cách trọn vẹn. Vả lại, nếu dịch được ra tiếng Việt, nhiều Phật tử Việt Nam sẽ có cơ duyên chia sẻ kinh nghiệm quý báu của Thầy Rahula hơn.
06/12/2014(Xem: 4768)
T huở nhỏ tôi mồ côi bố sớm, ở vào cái tuổi con nít vừa mới chập chững biết đi chưa nói được câu gọi bố lần đầu, bố tôi đã đi về miền cát bụi. Sự ra đi của ông đột ngột quá, còn trẻ quá mới 27 tuổi đầu làm sao không để lại bao luyến tiếc cho người ở lại. Dĩ nhiên mẹ tôi là người chịu nhiều đau đớn nhất, mới lấy chồng được hai năm cộng thêm đời chiến binh nên chỉ ở gần chồng vỏn vẹn có một tháng là nhiều. Con thơ còn bế ngửa trên tay, đầu quấn khăn tang người chồng yêu quí, đã phải xách tay nải leo lên chiếc thuyền viễn xứ nhổ neo lên đường như một bài hát nào đó.
01/12/2014(Xem: 17428)
Nguyên gốc tác phẩm này là của Genro, một Thiền sư thuộc tông Tào động Nhật Bản, viết và xuất bản năm 1783. Mỗi câu chuyện là một công án mà tác giả đã có lời bình và kệ đi kèm. Fugai, người thừa kế Genro, thêm nhận xét của sư, câu đối câu, vào sách của thầy. Tôi sẽ dịch các câu chyện hay tắc, gồm cả lời bình của Genro và nhận xét của Fugai trong hầu hết các câu chuyện để tham khảo. Có khi gặp bài kệ cũng dịch để khuyến khích học tập.