10. Đánh Cờ Tướng

10/12/201821:09(Xem: 5627)
10. Đánh Cờ Tướng

danhcotuong10_vhưu

“Sự Đời thỉnh mời Pháp Đạo”

 

Câu chuyện thứ mười:

ĐÁNH CỜ TƯỚNG

 

          Anh chàng ký giả của báo ngành du lịch đi tác nghiệp săn tin ảnh, sau gần hết buổi sáng tìm hỏi đường, đã vào đến ngôi chùa cổ có sắc tứ vua ban nằm ỏ vùng ngoại ô im ắng. Anh ta lẳng lặng đi qua lối bên hông ngôi chánh điện cửa đóng then cài, vào sâu bên trong chùa, và bước lên thềm của gian phòng khách, bắt gặp có ba người đang ngồi bên bàn Cờ Tướng.

         Hai người chơi cờ đều đã tóc hoa râm, cùng ngồi bệt dưới nền gạch hoa, chú mục xuống bàn cờ. Người thứ ba ngồi trên chiếc đẩu thấp kê  ngay khoảng giữa hai kỳ thủ chừng như  đang làm một trọng tài, và đó là một vị Sư già có dáng vóc nhỏ thó. Khách xuất hiện đột ngột, hai kỳ thủ vẫn không thấy biết, không màng đến, chỉ vị sư là quét đôi mắt sáng quắc nhìn, rồi gật nhẹ đầu, từ tốn đứng dậy, rời khỏi chiếc đẩu, tiến  nhanh về phía bàn nước, ra hiệu mời khách an tọa. Sau khi đôi bên thăm hỏi xả giao, giới thiệu, anh ký giả mới biết mình đang được sư trú trì tiếp đón, nên cũng thưa cho Sư biết mục đích của mình là viết bài giới thiệu về cổ tự, và đường đột hỏi:

         “Thưa thầy, chốn thiền tự thanh tịnh là để tu hành, sao lại không lo tụng kinh niệm Phật mà lại đánh Cờ Tướng ạ?”

          “Đánh Cờ Tướng là xấu sai hay sao?” Sư tủm tỉm hỏi lại.

          “Theo tôi nghĩ là vậy, đối với chốn tu hành. Chơi Cờ Tướng là đã tham gia cuộc đấu chiến, tranh giành hơn thua, đấu đá thắng bại, dùng mưu này kế kia, chiêu kia nước nọ khiến cho tâm mình luôn manh động, trí não mình luôn biến hóa giảo hoạt… Chỉ nên dể người đời chơi ở bên ngoài chốn thiền môn thôi ạ!”

          “Hay thay, hay thay!”  Sư gật gù, cười khen, rồi từ tốn nói “Nếu nhìn qua bằng mắt thịt thì thấy cảnh khi nãy có hai người đánh cờ, và thêm một ông ngồi chầu rìa dự khán, không chối cãi vào đâu được, rõ là đánh Cờ Tướng!”

           “Dạ, rõ ràng vậy mà, và hai người kia vẫn còn đang mê đắm vào cuộc cờ đó thầy ơi!”

           “Đúng. Nhưng hai đệ tử tục gia của tôi đó, không phải chơi đánh Cờ Tướng, mà là đang Luyện Tâm!”

           “Luyện Tâm?” Anh ký giả trố mắt lên “Là… sao ạ?”

           “Những quân cờ trên bàn đều mang một ý nghĩa, trọng trách riêng biệt, khác xa với cờ ở ngoài đời. Tướng, là bản tâm, là Phật Tánh của chính mình. Sáu quân còn lại là tượng trưng cho Lục Độ Ba La Mật. Tốt, là Bố Thí. Mã Nhẫn Nhục. Pháo Trì Giới. Xe Tinh Tấn. Tượng Thiền Định. Sĩ Trí Huệ. Anh muốn chơi ván cờ đó thì phải học pháp nhà Phật, rồi mới thúc liễm thân tâm mà ngồi xuống điều xe khiển tốt phóng pháo đẩy mã!”

          Anh ký giả xanh mét mặt mày, vội xá:

         “Tôi thật hồ đồ, thật mê muội, mong thầy độ lượng tha  thứ!”

          “Không biết thì không có lỗi. Chỉ cần anh hiểu cho là người đang tu học chơi Cờ Tướng để luyện tâm chứ không vì tranh hơn thua. Ván này mình thua, thua vì yếu kém điểm nào, mặt nào, thì ván sau mình tu sửa cho tốt đẹp hoàn hảo hơn. Cứ sau mỗi tuần, những quân cờ lại đổi ý nghĩa, uyển chuyển tùy duyên chứ không khô cứng. Tuần sau, không là Lục Độ nữa, mà là Lục Niệm, Tốt niệm Thí. Mã niệm Giới. Pháo niệm Thiên. Xe niệm Tăng. Tượng niệm Pháp. Sĩ niệm Phật. cứ vậy mà chơi, cứ vậy mà đánh, cứ vậy mà luyện!”

          Anh ký giả há hốc mồm, đứng bật khỏi ghế, chắp tay kính cẩn, đổi cách xưng hô với niềm tôn kính:

          “Bạch thầy, xin thầy thâu nạp con làm đệ tử tục gia ạ!”

 

Tâm Không – Vĩnh Hữu

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/10/2010(Xem: 26424)
Mục đích của chúng tôi trong khi sưu tập những mẫu chuyện kể này là để mọi người thưởng thức những tinh hoa hay đẹp của giáo – lý qua những câu chuyện tươi sáng đẹp đẽ. Nếu công việc sưu tập ca – dao là một việc khó thì công việc sưu tập và trình bày những mẩu chuyện cổ của đạo Phật cũng là một việc khó khăn và đòi hỏi sự hợp lực của nhiều người. Hàng chục ngàn mẫu chuyện đạo, nào thuộc loại tiền thân, nào thuộc loại lịch sử, nào thuộc loại thí dụ, nào thuộc loại triết lý. . . những câu chuyện đó thật là phong phú và chứa đựng những tinh hoa của giáo - lý, từ - bi và trí tuệ. . . Ðọc những mẫu chuyện đạo ấy, không ai thấy chán nản cả. Các em thiếu nhi thích đã đành, người lớn chúng ta cũng vẫn thích và hơn thế nữa, lắm lúc cũng phải suy nghĩ nhiều để có thể hiểu được triết – lý của một câu chuyện. Chúng tôi sức lực không bao lăm thành thử trông mong rất nhiều ở các vị học giả thâm uyên và dày công nghiên cứu. Chúng tôi chỉ muốn làm công việc nói lên những nguyện vọng, và tr
22/10/2010(Xem: 6716)
Tại biên giới của tỉnh Tây Khương sát với Tây Tạng, có một bà lão sống cô độc, chồng và đứa con trai duy nhất của bà đã qua đời. Bà sống nhờ một thửa đất nhỏ trồng những hạt ngũ cốc. Vì cuộc đời đã trải qua nhiều gian truân từ nhỏ, bà lão cảm thấy nghiệp chướng trong người rất nặng nên đã cố công tìm hỏi những người chung quanh phương pháp chuộc tội để cầu xin cho tâm hồn được bình yên.
21/10/2010(Xem: 14984)
Bị xổng một lần trong khóa tu học kỳ 6 tại Bỉ, vì chọn ngày hè trật đường rầy (hãng tôi làm việc phải chọn hè từ đầu tháng 2); năm sau, tôi quyết tâm canh ngày giờ cho đúng để tham dự cho bằng được khóa tu học kỳ 7 tại Đan Mạch, do Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Âu Châu tổ chức.
19/10/2010(Xem: 14874)
Khi xe chúng tôi đến nơi, đồng hồ chỉ đúng 12 giờ khuya. Phòng ốc dành cho 300 giường đã không còn chỗ trống. Ban Tổ Chức đành trưng dụng phòng họp, phòng học - một cho phái nữ, một cho phái nam - với các tấm nệm lót dưới đất cho chúng tôi ngủ tạm. Giải quyết một lúc cho phái đoàn Thụy Sĩ 30 người - chưa kể các nước khác - đâu phải dễ. Vả lại đi chùa thì phải chấp nhận "ăn chay nằm đất". Nằm "đất" còn phải chịu, lựa là nằm "nệm", nên chúng tôi vui vẻ nhận lời, không than van gì cả. Mà than van nỗi gì được khi đã hiểu giáo lý (dù chút chút) của đạo Phật. Mọi sự phải do "duyên" mà có. Và "duyên" này khởi từ "nhân" chiều nay.
17/10/2010(Xem: 15744)
Hơn 6 tiếng xe lửa từ Aschaffenburg, tôi trở về đến nhà gần 10 giới tối. Lục đục tắm rửa, ăn chén súp nóng (do chồng nấu cho) huyên thuyên kể chuyện, rồi đánh răng... mãi gần 12 giờ khuya tôi mới lên giường đi ngủ. Sáng sớm hôm sau 6 giờ thức dậy sửa soạn đi... cày. Công việc ứ đọng của 2 ngày thứ 5, thứ 6 (lấy hè, cộng với công việc của thứ 2 đầy ắp trên bàn. Tôi một mình chịu trách nhiệm một phòng không ai thay thế). Ông xếp trước khi về văn phòng còn đứng đó chờ đợi, vẻ lo âu. Tôi trấn an ông:
17/10/2010(Xem: 8171)
Tết Trung Thu ăn vào ngày rằm tháng 8. Nguyên cuối đời nhà Tây Hán (206 trước 23 sau D.L.), Vương Mãng nhân được cầm giữ chính quyền...
17/10/2010(Xem: 5110)
Một vị thương gia lập nghiệp từ tay trắng, sau kiếm được rất nhiều tiền nhưng vì buôn bán trong thời kinh tế không ổn định, khiến anh ta trở nên phá sản, nợ nần chồng chất. Nghĩ mãi không tìm ra cách giải quyết, anh ta bèn ra bờ sông tự tử. Vào lúc canh ba một đêm nọ, anh ta đến trước bờ sông, bỗng nhiên nhìn thấy một thiếu nữ đang ngồi khóc thảm thiết, anh bèn đến hỏi cô gái: - Có chuyện gì mà đêm hôm khuya khoắt cô ngồi khóc một mình ở đây?
16/10/2010(Xem: 6819)
Hàng ngàn năm trước tây lịch, khi thổ dân Dravidian còn ngự trị khắp lãnh thổ Ấn Độ cổ thời, vùng phía tây Hy Mã Lạp Sơn là lãnh địa của rắn. Vốn là vùng rừng núi bạc ngàn nằm trên nóc nhà thế giới, Hy Mã Lạp Sơn là nơi thâm u bí hiểm với sơn lam chướng khí trùng trùng và vô số loài thú dữ cư ngụ sẵn sàng lấy mạng người để làm thức ăn. Thời đó, thổ dân Dravidian không có đủ vũ khí hùng mạnh để chống cự với các loài mãnh thú và tự bảo vệ mình. Từng người vào rừng săn tìm thức ăn đã không thấy trở về. Độc địa nhất không phải chỉ là những hổ, cọp, gấu, beo nằm lồ lộ chờ mồi bên bờ suối, dưới gốc cây hay trong khe đá, mà ngay bên dưới lớp lá khô mục của đường rừng là những loài rắn nguy hiểm chực chờ bước chân người.
16/10/2010(Xem: 6446)
Trong thiền không có đầu đuôi, khúc chiết, lý luận. Nó đập vỡ lý luận. Đó là thế giới lý tưởng của câu thơ lớp ba mồ côi luận lý. Thế giới của những câu cuối lấc cấc, mẹ gà con vịt. Đừng bắt tôi giải thích; hãy lang thang với tôi trong câu cuối của dăm ba chuyện thiền nổi tiếng.
16/10/2010(Xem: 5616)
Trong đời, tôi đã thấy mặt trăng lần nào chưa? Nhìn trăng, tôi nhìn cả đời. Nhưng thấy trăng, tôi không dám nói chắc. Khi tôi nhìn trăng trước mắt, tôi nghĩ đến trăng nửa khuya loáng thoáng trên tàu lá chuối sau vườn cũ. Tôi nghĩ đến đèn trung thu lúc nhỏ. Tôi nghĩ đến cái chõng tre giữa sân trên đó, ngày xưa, tôi nằm nhìn mây bay. Nhìn trăng, tôi không thấy trăng. Chỉ thấy lá chuối, chõng tre. Thấy cả tôi với trẻ con hàng xóm nô đùa. Có lần tôi trốn tìm với chúng nó, bị lộ, tôi nhảy bừa vào bụi tre, bất ngờ có đứa con gái đã ngồi sẵn trong đó. Tôi sợ hoảng, toan vọt ra thì nó kéo tay tôi lại, ấn vai tôi xuống, cười đồng lõa. Trong loáng thoáng của cây lá, tôi thấy hai cái răng cửa của nó sáng ngời ánh trăng. Bây giờ, nhìn trăng non, tôi thấy cái miệng và hai cái răng. Tựa như hai cái răng của nó phát ánh sáng và in hình miệng nó lên bầu trời.