Sanh Thiên Chứng Quả (Chuyện cổ tích Ấn Độ 2.000 và 2.500 năm)

11/09/201817:25(Xem: 5438)
Sanh Thiên Chứng Quả (Chuyện cổ tích Ấn Độ 2.000 và 2.500 năm)
co tich an do

SANH THIÊN CHỨNG QUẢ
Chuyện cổ  tích Ấn Độ 2.000 và 2.500 năm
(Ứng Chơn là một biệt danh của A-La-Hớn)
Dịch Thuật Từ “Xuất Gia Công Đức Kinh”  

Sưu tập & Việt dịch từ Hán Tạng:
Hòa Thượng Thích Huyền Tôn.


Phía Bắc Trung Ấn Độ, vào thời cổ xưa, hơn 2000 năm, có một vị Thủ Tướng của nước Ba-la-nại, gia sản của ông rất là giàu có, quyền tước lớn, nhưng lòng ông luôn mang một nỗi niềm đau khổ. Vì, tuổi tác càng ngày càng già, tuy nhiều vợ, nhưng không một bà nào đem về cho ông một niềm vui mà ông mãi hoài mong thao thức, đó là một đứa con trai.

Là một vì Thủ Tướng, ông không thể tin những truyền tụng bừa bãi về sự linh thiêng từ các vị thần trong các miếu thờ ở hai bên dải sông Hằng. Linh thiêng nhất là Thượng đế, chúa trời, cầu gì cũng được! Cầu giàu có, con cái, miễn đến dâng nhiều đồ cúng và thành tâm là được toại nguyện. Nghe thì như thế, nhưng trên thật tế ông chưa từng gặp một chứng minh nào để tỏ rõ một sự thật. Ông cũng muốn đi cầu nhưng rất sợ mang tiếng là con người mê tín thì xấu hổ biết bao! Có lúc ông thầm nghĩ: “Nhưng biết đâu, lại có một sự thật trong các huyền thoại vô lý đó! Thôi đành phải đi cầu nguyện, và cầu nguyện trong một điều kiện đặc biệt hiếm có là có được một tấm màn che kín thị phi!”.

   Đầy đủ lễ phẩm, lễ nghi, ông Thủ Tướng trịnh trọng, thành kính khấn: “Kính Thần linh, Thượng Đế! Vì gia sự, tôi phải làm một việc mà tôi không nên làm theo vị thế của tôi. Do đó, tôi cầu khẩn Thần linh, Thượng đế chỉ trong một năm kể từ ngay bây giờ, Thần linh phải cho tôi một đứa con trai, đúng như ý nguyện, tôi sẽ làm mới đền đài, thếp vàng hình tượng, Qua khỏi năm một ngày mà tôi không có con, coi như không linh hiển, và Thần linh cũng chỉ là bịa đặt,  tôi sẽ ra lịnh phá bỏ tất cả các miếu, và mọi cách thờ cúng trên hai bờ dòng sông Hằng”. Khấn xong, ông lên kiệu ra về không quay mặt nhìn lại.

   Đây, nói về các Thần trong giới Thần linh, xôn xao hoảng loạn, không biết làm cách nào để giải quyết việc khó khăn tai họa, vì chỉ là chuyện đồn đãi của người đời, chứ xưa nay chưa có Thần linh nào làm được! Vì thần thì có, còn linh là sự thổi phồng gặp may của thế gian mà thôi.

   Nhưng cũng lạ, việc khấn vái cầu con và hăm dọa của ông Thủ Tướng lại thấu đến tai của Vua Trời “Đức Thích Đề Hoàn Nhơn”. Tiên giới, và cả trần gian, ai cũng biết, Ngài là Vua Trời, đệ Tử của Phật Tổ Thích Ca Như Lai.

Câu chuyện có vẻ ly kỳ, vì cách đây hơn hai ngàn năm, bấy giờ trong Giáo-lý của Phật-đà nói đến công đức, thì công đức siêu hơn cả thì chỉ có “Xuất Gia” mới là công đức tuyệt vời tối thắng mà thôi.

Như Kinh Nhân Duyên nói: “Xuất gia đầy đủ phạm hạnh, trong một ngày một đêm thì trải qua 20 kiếp, không đọa vào ba đường ác đạo”.

Trong Luật Tăng Kỳ cũng nói: “Chí thành phạm hạnh đầy đủ, Xuất gia trong một ngày một đêm, thì được 6 triệu, 6 trăm ngàn năm, tránh xa bóng dáng của ba đường dữ. Tuyệt vời như thế! Ai không ham xuất gia? Nếu ngược lại, tội báo với tâm giả đối sẽ cũng vô lượng!

Trở lại vấn đề trên, Đức Thiên Đế mời thỉnh các Thiên nhân (người trời) hợp bàn, tìm cách giúp đỡ cho các Thần ở hai bên sông Hằng khỏi nạn, và cũng phúc đức cho Thượng đế luôn.

 
Trong cuộc họp đó, Thượng đế đã khởi đầu câu hỏi:   
“Các khanh có diệu lý gì, có một “Thiên nhân” nào muốn xuống làm con trai của vị Thủ Tướng đó không?

Tâu Thiên Đế: “Làm sao tìm được Thiên nhân nào muốn xuống hạ giới” .

Tâu TĐ: “Cho người đi hỏi hết 33 cung trời thử xem” !.

-Các Khanh: “Trẫm có cách để biết người nào có thể  đi” Tái sanh!

Tâu TĐ: “Mình nên chọn Thiên nhân nào chịu đi vận động?”

-TĐ: “Trẫm mời tất cả các khanh có mặt đi hết được không”.

 - Tâu TĐ: Chúng thần tùy thuận!

-TĐ: “Vậy tốt lắm, luật trời có “Ngũ suy tướng hiện”, các khanh đi đến các cung thấy Thiên nhân nào hoa trên đầu héo, nách có mồ hôi, áo quần hôi dơ, ngồi đứng không yên, thân thể hôi thối, thì mời vị đó xuống trần. Các khanh nghĩ sao?  Một Thiên nhân Tâu:

-Theo thần, nói thì dễ, sự việc không mấy dễ, vì cõi Trời là phụng sự cho “Thiện Nghiệp” Thiên đế đã theo pháp lành của Phật mà nhúng tay vào việc của “Nghiệp Trần”, cho nên sợ khó thi hành. Hơn nữa, làm việc không dựa vào Nhân Quả, dù Thiên giới có thần thông hay cầu xin nương tựa vào Phật lực của Phật Tổ. Nếu Phật Tổ quở. Thần sợ, có gì sai trái chăng?

   Thực ra, uyên nguyên của vấn đề là từ hai chữ “Xuất Gia”, một tin tức quan trọng quá lớn trong Đạo Phật, Thiên nhân, cũng như phàm nhân ai cũng trăn trở không ít, đó là cái tin tức “Xuất gia” khỏi vào “ba đường dữ” tới 20 kiếp.

Với cái tin nầy, các Thiên nhân đều muốn “Xuất gia”. Chỉ có 1 Ngày 1 đêm, mang thân trong sạch, người Thiên nhân còn mong thay, huống gì phàm nhân ai lại không thích, ngoại trừ bọn tà đạo ngu si! Tuy nhiên thiện nghiệp không có thì lấy đâu ra bàn tay thiện pháp để mở cửa vào đạo? Vào phàm thân cũng đâu phải dễ, nhất là vào nhà vương gia quí tộc dễ gì họ cho con xuất gia? Bởi thế, nên tìm người trời tái sanh xuống làm phàm nhân khá khó khăn cho Thượng đế lắm vậy.

Còn tìm người “Trần gian” thì Thiên đế làm gì có quyền hạn đó, nhờ Sư Phụ Thích Ca Mâu Ni, Sư Phụ là đấng chí công, tất bắt phải tìm cho ra ai đó đủ phước đức của Chánh Báo và đủ phước đức của Y báo. Hơn nữa tiền kiếp phải tu dưỡng 10 điều lành, không gian tham, trộm cướp, tà dâm, háo dâm, không tin theo Trời, Thần, Quỷ vật, không dị đoan, mê tín, phải tu Lục Độ…Thiên đế tìm đâu ra các bậc siêu nhân đó để cho tái sanh vào làm con ôngThủ Tướng  hay các loại nhân chủng khác?

Sông Hằng đã qua chín mùa mưa nắng, dòng nước vẫn lững lờ trôi, xác chết nhẹ nhàng xuôi  về phương Đông còn vô định, người vẫn cứ tắm, ai thích uống cứ tự do, lời nguyện cầu có con trai của ông Thủ Tướng vẫn theo dòng năm tháng…giờ ra sao? Chưa ai biết.

Nhưng rồi, để theo dòng Nhân Quả, Thượng Đế có can thiệp giúp cùng chan hòa an vui trong tiến trình đạo lý, thì cũng gió mùa Thu heo may như mùa Thu nào năm trước.

Thượng Đế đã đích thân tìm gặp một Thiên nhân có xuất hiện tướng ngũ suy và đề nghị phương cách tái sanh vào gia đình ông Thủ tướng, nhưng Thiên nhân không thỏa thuận vì lòng mong muốn xuất gia sẽ bị trở ngại. Dù Thiên đế bảo đảm bằng cách nào Thiên nhân cũng không đồng ý! Phương pháp cuối cùng mà Thiên nhân vui vẻ chấp thuận là vị chúa trời trực tiếp đưa Thiên nhân gặp mặt đấng Thế Tôn.


    Sau mùa An Cư lần thứ 17 (565BC), ánh trăng ngời sáng, sấm động rền vang như báo một điềm lành hiếm có, thì gia đình của ông Thủ tướng ở Thành Ba-la-nại có buổi tiệc mừng báo hỷ chàng trai mang tên Hằng-Già-Đạt ra đời.

Mười năm sau, lần Tự-tứ thứ 27, (555BC) Pháp hội Vu-Lan có chuyện hiếm có xảy ra, Pháp hội như dài ra, tưng bừng hoan lạc, dân chúng mừng vui nhộn nhịp rao truyền… Trên cung trời Đao-Lợi và hoàng cung Ba-la-nại người người như mơ thấy có chiếc cầu nhiều màu sắc đang giao tiếp nhau (?) Chuyện gì xảy ra (!)…Thì ra, lại là câu chuyện “Xuất Gia” !.? Giữa Thiên Đế và Đức Thế Tôn Thích Ca “đang” có gì liên hệ (?). 

    Sau mùa mưa rét, giờ đây nắng đã reo vui, pháp hội hiếu ân kẻ vui cười, người rơi lệ, vui vì được nâng niu đôi tay đấng sanh thành khỏe mạnh trong lễ khấn cầu an! Giọt lệ mừng, vì giao cảm thấm nồng trong dòng ngân vang của tiếng chuông từ bi siêu độ! Muôn ngàn tia sáng tỏa ra từ ngàn vạn mảnh áo cà sa, Thích Ca Vô Thượng Phật Đà. Một lễ xuất gia.

 

Trên không trung có Phật, Bồ Tát, các Phạm Vương, các cõi Trời, các Thánh chúng, dưới cõi trần các vua quan thần dân đông đủ, có Đức Thiên Đế chủ cõi Trời Đao Lợi, Vua A-Xà-Thế, và gồm đủ 2,250 Tỳ Khưu A-La-Hớn.

co tich an do-2

Bấy giờ Vua Trời Kiều Thi Ca bước ra quỳ lạy Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni Phật; Vua A-Xà-Thế cũng ra quỳ lạy Đức Phật và đồng thời đưa ra một thanh niên bị trói chặt tay chân, trông tiều tụy lam lũ… Vua Trời liền bạch:

Bạch Từ Phụ Thế Tôn, thanh niên nầy tên hiện giờ là Hằng Già Đạt, cách đây hơn 10 mùa lá vàng thu rơi rụng, là một Thiên nhân sắp đến ngày ngũ-suy, nên con can thiệp cho vào nhà ông Thủ Tướng mong mượn thân “Người” để “Xuất Gia” thành đạo. Nhưng không được toại nguyện, trốn ra khỏi nhà, quyết cầu tử vong, mấy phen không chết, nay phạm phép vua, sẽ bị hành hình, việc nầy do Vua A-Xà-Thế quyết định, cầu mong Thế Tôn chỉdạy. Đức Phật lặng thinh.

Vua A-Xà-Thế liền bạch: Bạch Thế Tôn, con đem Hằng- Già- Đạt đến đây con nghĩ Thế Tôn đã rõ biết, con chỉ muốn nghe lời dạy của Thế-Tôn, vì Thế Tôn là bậc Thầy Tam giới sư là Sư Phụ của con mà.

Bỗng trong dám đông có người ăn mặc sang trọng bước ra quỳ mọp, gương mặt sưng đỏ, nước mắt dầm đìa, cúi đầu lạy Phật.

Đức Phật đưa tay dạy rằng: “ Này Đại vương, chuyện đời lặp đi lặp lại, quá khứ hơn một ngàn năm cũng tại quốc độ nầy, có Phạm-Ma-Đạt lòng tha thiết muốn cầu xuất gia thành Phật, để độ chúng sanh, nhưng vì cha mẹ không cho, nên y lên núi cao nhảy xuống tự sát, chẳng hề hấn gì, tức mình y nhảy xuống sông thì nổi không chìm, y uống thuốc độc thật nhiều để cầu mau chết, nhưng uống vô nhiều thì chảy ra nhiều, y đau khổ bức rức, không làm sao để chết được. Sau có người bày cho y vào chọc phá triều đình sẽ bị được xử tử khó mà không chết. Cuối cùng y  chết và được tái sanh lên cõi trời Đao Lợi. Đó là Thiên nhân Phạm-Ma Đạt, sống trên cõi trời Đao Lợi, hơn 2000 năm. Thiên nhân Phạm-Ma-Đạt, nay là Hằng-Già-Đạt, con của ông Thủ Tướng,  người đàn ông sang trọng đang khóc đó.

Đức Phật liền hỏi tiếp Vua A-Xà-Thế:

Đại vương A-Xà-Thế, sự việc của Đại Vương liên quan thế nào?

Vua A-Xà-Thế bạch: Bạch Thế Tôn, Con và các quân thần, cung nữ đang vui vẻ tắm mát trong hồ ao, thì quân lính bắt thanh niên nầy, y thu trộm hết y phục của cung nữ và đang chạy trốn.

Đệ tử cho hành hình y, bắn 3 phát tên, 3 phát tên đều bay quay về chỗ cũ, nên đệ tử biết y có duyên với Phật pháp nên mang y về đây cho Thế Tôn tùy duyên xử dụng. Tiếng reo hò vang dậy: Lành thay! Lành thay! 

Vua Trời, Thượng Đế cung Đao Lợi bước ra quỳ bạch:

Bạch Thế Tôn: Thật lòng cầu đạo của Thiên nhân Phạm-Ma-Đạt quả đáng trân trọng, nếu không giúp cho Thiên nhân nầy thành tựu thì “nhân quả” biết nói sao cho phải lẽ!

Đức Thế Tôn mỉm cười, Ngài gọi ông Thủ Tướng và bảo: Đã qua bao phen sanh tử, cũng đã mấy ngàn năm rồi, ông và Thiên nhân Phạm-Ma-Đạt, nay là “Hằng-Già-Đạt đã hai lần làm con của ông, ngàn năm trước, nhảy núi không chết, nhảy sông không chìm, uống thuốc độc như uống nước lạnh, lần nầy con ông cũng mấy phen tự giết mình giống như nghìn năm trước, vậy mà cũng không chết, còn bị thêm ba mũi tên thần của Vua A-Xà-Thế, cũng không thiệt hại gì, chỉ vì cầu xuất gia, cầu độ chúng sanh, ông còn đòi gì nữa đây?  Sao ông nỡ đành không cho con viên thành đạo nghiệp, cứu độ sanh linh? Ông có thể tìm ra một “Người Phật” như thế trong thế gian nầy nữa sao?

Ông Thủ Tướng bước ra lạy Phật, và khóc rống lên trong niềm tha thiết mến yêu, đứa con Thánh nhân trong cõi đời ác trược, bằng cõi lòng rung cảm, hoan hỷ phụng hành.

Thiên nhân Hằng Già Đạt đến quỳ lạy Phật, được Phật vuốt tóc cho xuất gia và nghe pháp, ngay trong ngày hôm đó, được Phật gọi là Ứng Chơn Độc Giác.

Một ánh quang sáng vút thẳng lên không trung, một Phật Độc Giác về nơi an trụ chờ cơ duyên xuất thế. Ngàn muôn vạn tiếng niệm vang rền: Nam Mô Thích Ca Mâu Ni Như Lai.

  ___________________________________________________________________                                                                                        
hoasen1                                             



Lời phụ: Bạn nào muốn vì sự giác ngộ của mình mà xuất gia, cũng như muốn độ bao khổ ách của người đời mà xuất gia thì nên gìn giữ Khẩu nghiệp, Thân và Ý Cho thật trong sạch, để được:

-Ra khỏi nhà thế tục! 

-Ra khỏi nhà phiền não!

-Ra khỏi luôn nhà 3 cõi. Bạn  nhé!

Mến chào bạn! Mời bạn cùng đọc với bài:

"Cực Tịnh Sanh Động"

“Câu chuyện thuở xưa của hai Ngài, Hàn Sơn và Thập Đắc.”

90 kiếp mới gặp lại con”.

Tìm xem trên Trang Nhà Quảng Đức và Phật Quang.

Mong bạn Giác ngộ, ra khỏi bao thị phi đã lầm lỗi khóa kín trong lòng bạn.

-Một vị Phật trong đời hiện thế. Như Ứng Chơn trong Sanh Thiên Chứng Quả.    











 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
03/10/2014(Xem: 5363)
Học sinh thường cho rằng, các thầy cô chỉ nhớ tên học sinh giỏi, học sinh đẹp hoặc hoạt động hiệu đoàn... Cho nên mỗi lần nếu tôi gặp lại một em học sinh không có gì xuất sắc ngày xưa mà tôi còn nhớ tên, thì đó là một niềm vui to lớn của em là được thầy cô còn nhớ mặt và nhớ tên của mình. Sau khi cuộc chiến lan tràn trên quê hương thầy trò phân tán, tôi đi cùng nam cực bắc, đi xa nửa trái địa cầu, rải rác khắp nơi, tôi vẫn gặp lại những em học sinh Đồng Khánh cũ. Và nhờ cố gắng nhớ mặt, nhớ tên các em, nên hầu như ở đâu tôi cũng gieo được chút niềm vui cho những người đang phập phồng chờ được gọi đích danh sau một câu mở đầu công thức: „Cô còn nhớ em không?“. Những con người ấy, những học sinh Đồng Khánh tha phương - xa trường, xa thầy bạn cũ đã xưa rất xưa, mà chính bản thân khi soi gương cũng không còn bắt được hình bóng mình ngày ấy..., bất giác còn được gọi tên, còn được nhớ, còn được nhắc nhở đến bao kỷ niệm của một thời. Ôi! Vui biết bao nhiêu, ấm áp ngọt ngào biết bao nhiêu
02/10/2014(Xem: 5530)
Ra đến bến xe trời hãy còn khuya khoắt, trông cảnh nhộn nhịp ì xèo rộn lên từ những gian hàng ăn uống ở một góc gần bên, và tiếng nói cười lăng xăng của hành khách đi lại lẫn với tiếng những người bán hàng rong mời mọc. Nhìn sang quầy bán vé bây giờ không giống như những ngày tháng sau năm 1975, bề mặt thoáng mát rộng rãi trang trí bởi những bảng quảng cáo, những hoa văn sắc màu, những hàng ghế để khách ngồi chờ trông lịch sự. Khách mua vé rất nhanh khỏe hơn xưa, không còn cảnh chen lấn xếp hàng cả buổi trời như trước đây, lại có thêm nhiều loại xe phục vụ trên các tuyến, việc nầy còn tùy thuộc vào túi tiền của hành khách, ai có tiền nhiều thì đi loại xe chất lượng cao, còn ai ít tiền thì đi loại xe bình dân hơn. Nói vậy chứ còn khá hơn trước Đây, bởi ba chiếc xe car cũ kỹ hoặc xe chạy bằng than đá trên những tuyến Miền Đông, Miền Tây vào những năm 1975 - 1990.
24/09/2014(Xem: 7751)
Xưa có một người quyết tâm học đạo, theo một vị thiền sư sống trong một cái cốc nhỏ, sống đạm bạc, quyết chí tu hành. Một này kia, có công việc, vị thiền sư phải đi xa, dặn đệ tử ở lại phải lo chăm chỉ tu hành, luôn luôn giữ lối sống đạm bạc và tâm hồn thanh tịnh. Người đệ tử này chỉ có một chiếc khố che thân. Đêm tới khi ngủ, máng khố trên vách, thường bị chuột chui ra cắn rách, phải xin bá tánh chút vải thừa thay khố nhiều lần.
03/09/2014(Xem: 6624)
Lúc đó tôi được 13 tuổi. Trước đó một năm gia đình tôi đã chuyển từ Bắc Florida đến miền Nam California. Tôi dễ hận thù khi vừa đến tuổi vị thành niên. Tôi rất nóng nảy và hay cãi lại đối với bất cứ chuyện gì dù nhỏ mà ba mẹ đề cập tới, đặc biệt là nếu nó liên quan đến tôi. Cũng giống như nhiều đứa trẻ lứa tuổi thiếu niên, tôi khó chấp nhận bất cứ điều gì đi ngược lại với quan điểm của mình về thế giới chung quanh. Một đứa bé “thông minh không cần dạy bảo”. Tôi phản đối bất cứ biểu lộ nào của tình thương. Thật sự, tôi dễ giận dữ khi đề cập đến cái từ “thương yêu”.
26/08/2014(Xem: 5728)
Ở ven bờ bể Mễ Tây Cơ, có một làng nhỏ chuyên sống nghề đánh cá, một chiếc thuyền con lướt sóng nhẹ vào bờ, đem về vài con cá khá to. Một ông khách Mỹ đứng trên bờ, khen ngợi nghề đánh cá tài giỏi của anh chàng Mễ Tây Cơ và hỏi anh ta mất bao nhiêu thì giờ mới được chừng đó cá. _ “ Không lâu lắm đâu !” anh Mễ Tây Cơ trả lời.
17/08/2014(Xem: 38141)
Đại Sư tên là Huệ Năng, cha họ Lư, tên húy là Hành Thao. Người mẹ họ Lý, sinh ra ngài nhằm giờ tý, ngày mùng tám tháng hai, năm Mậu Tuất, niên hiệu Trinh Quán thứ 12. Khi ấy, hào quang từ nhà ngài chiếu sáng lên không trung, mùi hương lạ tỏa lan khắp nhà. Đến tảng sáng, có hai vị tăng lạ mặt đến thăm, bảo cha ngài rằng: “Khuya nay ông vừa sinh quý tử, chúng tôi đến đây là để đặt tên cho cháu bé. Ông nên đặt trước là chữ Huệ, sau là chữ Năng.”
17/08/2014(Xem: 32780)
Nhân quả báo ứng là một tập truyện của Trung Quốc, có vẽ tranh minh họa rất sinh động. Tập truyện này trước do ngài Văn Xương Đế Quân đời nhà Tấn sưu tập những truyện nói về nhân quả và sự báo ứng qua nhiều triều đại ở Trung Quốc.
17/08/2014(Xem: 29619)
Nhân quả là định luật căn bản xuyên suốt quá trình thành trụ hoại diệt của tất cả chúng sinh từ đời này sang đời khác, cho đến vũ trụ, vạn vật cũng không phải tuần hành, biến dịch một cách ngẫu nhiên, vô lí, mà luôn tuân theo định luật nhân quả. Định luật này không do một đấng thần linh nào, xã hội nào đặt ra cả, mà là luật tự nhiên, âm thầm, lặng lẽ, nhưng luôn đúng đắn, chính xác, hiệu quả vô cùng.
17/08/2014(Xem: 35385)
Ngài Nam Tuyền nói: “Tâm bình thường là đạo.” Chư vị Tổ sư dùng đến vô số phương tiện cũng không ngoài việc dẫn dắt người học đạt đến tâm bình thường này. Vì thế, thiền không phải là một lãnh vực siêu nhiên vượt ngoài phạm trù ý thức thông thường như nhiều người lầm tưởng, mà trái lại chính là sự soi rọi, chiếu sáng những trạng thái tâm thức hết sức bình thường mà mỗi người chúng ta đều đã và đang trải qua trong cuộc sống thường ngày.
16/08/2014(Xem: 6800)
Đất đai phì nhiêu nhưng không ai dám khai phá do quá nhiều đỉa. Có vị sư giàu lòng thương dân đã phát nguyện dâng hiến thân xác của mình cho bầy đỉa bâu xé đổi lấy sự bình yên. Tương truyền vùng đất làng Thới Hòa (nay thuộc ấp 4, xã Tân Định, huyện Bến Cát, tỉnh Bình Dương) vốn phì nhiêu nhưng không ai dám khai phá do quá nhiều đỉa. Có vị sư giàu lòng thương dân đã phát nguyện dâng hiến thân xác của mình cho bầy đỉa bâu xé đổi lấy sự bình yên.