Con ma nhà họ Đặng

10/04/201313:08(Xem: 6305)
Con ma nhà họ Đặng

phatvanangsujita_1

CON MA NHÀ HỌ ĐĂNG

Ngọc Bích

--- o0o ---

Đang đọc báo ông Hải chợt thấy bóng mấy đứa trẻ lấp ló ngoài cửa phòng, ông đằng hắng giọng và hỏi : Ai đó có chuyện gì không, mấy đứa nhỏ thì thào rồi im lặng, thấy vậy ông độ chừng chắc tụi nó sợ nên ông bước ra hỏi chuyện gì đó mấy cháu, nào các cháu cần ông giúp việc gì đây? Bé Lan lại đây với ông nào, còn An, Mai,Hùng và Tâm cùng lại đây các cháu đã vào trung học rồi, làm sao hôm nay lại rụt rè thế, bộ các cháu không ngoan bị cô giáo rầy phải không?An vội lên tiếng không phải vậy đâu ông ơi, cô giáo khen chúng cháu học tốt và hạnh kiểm tốt nữa đó. Vậy à!Thế các cháu cần gì mà e ngại vậy? Dạ! chúng cháu sợ ông đấy ạ! Sợ ông, ông đâu có làm gì mà các cháu bảo sợ ông… dạ sợ ông rầy đấy ạ.Nầy Hùng cháu lớn nhất trong đám vậy cháu nói cho ông biết chuyện gì đã xảy ra. Dạ thưa ông bé Lan nói là không dám đi chùa nữa đâu!Tại sao vậy cháu Lan? dạ..dạ tại vì lúc nầy có nhiều ma đi chùa lắm ông ạ nên cháu sợ qúa.Làm sao cháu biết được hay là cháu nhìn thấy. Dạ không cháu nghe nói đấy. Ai nói với cháu vậy.

Dạ hôm tết ở trên chùa cháu nghe có mấy bác nói chuyện với nhau đấy. Sao cháu lại lén nghe chuyện người lớn vậy. không phải cháu nghe lén đâu mà vì các bác ấy nói lớn tiếng đấy. Ông Hải chợt cười vì nhìn thấy nét mặt lo lắng của các cháu. Ông nói thôi được vậy các bác ấy nói chuyện gì. Dạ các bác bảo lúc nầy chùa có nhiều ma đăng già đi chùa quá nên dặn là phải cẩn thận để không thôi các ma đăng già phá chùa đó.

Ông Hải bật cười. Ồ! Thì ra là vậy, bé Lan sợ rồi còn ai sợ nữa, dạ còn em Tâm cũng sợ theo đó, Mai và cháu giải thích mãi mà tụi nó không tin nên tụi cháu kéo nó lên nhờ ông giải thích cho nó biết. nhưng mà thấy ông đang đọc sách tụi cháu sợ ông rầy nên không dám vào đó. Vậy à! ồ ông biết con ma đó rồi. Lần sau nếu các cháu cần hỏi gì thì cứ vào phòng ông nhé, còn bây giờ ông và các cháu ra ngoài vườn ngồi cho mát rồi ông sẽ giải thích cho các cháu nghe không chừng nghe xong các lại còn biết cách bắt ma nữa kìa. Thế à ông vậy ông kể cho các cháu nghe đi ông. Mai nói để cháu đi pha bình trà sen cho ông và mời bà ra luôn ông nhé, chắc giờ nầy bà đã tụng kinh xong rồi ông ạ. Ừ!phải đấy cháu ạ…

Hương trà mạn sen bay thơm ngát trong gíó đêm khiến ông Hải thấy thật dể chịu, mùi vị quen thuộc mà ông thường dùng do chính tay bà Hải pha thật là hợp ý ông. Bà lại không quên để một dĩa kẹo đậu phọng cho các cháu nữa. Ông Hải kể lại cho bà nghe các cháu thắc mắc về mấy con ma đăng già rồi hỏi? Vậy chớ bà còn nhớ tên của các vị đại đệ tử của phật không? Bà Hải nói đệ tử của Phật có rất nhiều nhưng có mười vị đai đệ tử đươc tặng danh hiệu là thánh tăng. Đó là những bậc thần thông quảng đại đã cống hiến cả cuộc đòi mình cho chúng sinh cho đạo pháp.

Đó là Tôn giả Đai Ca Diếp được tặng danh hiệu Đầu Đà Đệ Nhất, vị thứ hai làTôn giả Xá Lợi Phất được tặng dang hiệu Trí Huệ đệ nhất, vị thứ ba là tôn giả Muc Kiền Liên được tặng danh hiệu Thần Thông đệ nhất, vị thứ tư là Tôn giả Ca Chiên Diên được tặng danh hiệu Luận Nghị đệ nhất, vị thứ năm là Tôn Giả A Nan Đà được tặng danh hiệu Đa Văn Đệ Nhất, vị thứ sáu là Tôn Giả A Na Luật được tặng danh hiệu Thiên Nhãn Đệ Nhất, vị thứ bảy là Tôn Giả La Hầu La được tặng danh hiệu Mật Hạnh Đệ Nhất, vị thứ tám là Tôn Giả Tu Bồ Đề được tặng danh hiệu Giai Không đệ Nhất, vị thứ chin Tôn Giả Phú

Lâu Na được tặng danh hiệu Thuyết Pháp Đệ Nhất, vị thứ mười Tôn Giả Ưu Ba Ly được tặng danh hiệu Trì Giới Đệ Nhất. Bà Hải vừa dứt lời là các cháu vổ tay hoan hô bà Nội hay quá, bà nhớ hay quá. Ông Hải nói Bà của các cháu có trí nhớ thật là tốt vậy các cháu phải học và nhớ như lời bà vừa kể mới được nhé.

Còn bây giờ ông kể cho các cháu nghe vì sao có câu chuyện về Ma Đăng Già. Ma đăng Già là một cái tên của một cô gái trẻ chứ không phải là con ma như bé Lan tưởng đâu. Các cháu biết không trong số các đệ tử của phật, người có tướng mạo trang nghiêm, trí nhớ thật mạnh mẽ, tánh tình ôn hòa từ bi gương mặt thật truyền cảm, dể mến và tình cảm phong phú ấm áp như vầng dương trong buổi sớm.Vẻ đẹp và tuổi trẽ của ngài A Nan đã khiến cho bao nhiêu là nam nữ trẻ tuổi ái mộ. Một hôm A Nan đi trì bình, ngài bưng bát đi vào thành Xá Vệ, trời nắng chang chang lúc ấy trên đường về đi ngang qua một giếng nước,có cô gái đang lui cui xách nước ngài A Nan bèn dừng chân lại và nói xin cô bố thí cho tôi miếng nước, cô gái ngẩn lên và nhìn thấy vị tỳ kheo trẻ A Nan thì tự nhìn lại mình và nói Bạch Tôn giả phận tôi thuộc dòng hạ tiện làm sao dám cúng dường cho ngài.

Ngài A Nan mới nói rằng : Tôi là một tỳ kheo nên không có tâm phân biệt thấp hèn hay cao sang đâu. Cô gái bèn vui vẻ đem gàu nước đến cúng dường cho A Nan uống xong ngài nói cám ơn và tiếp tục đi.

Còn cô gái thì nhìn theo bóng ngài trong khoảng khắc chợt cô thấy cô yêu mến ngài qúa đổi, tưởng chừng như vĩnh viễn không thể thiếu vắng bóng ngài trong đời cô. Cô về nhà không thiết ăn uống chi cả, cô cảm thấy đau khổ và chỉ muốn chết nếu không chung sống được cùng ngài A Nan, cô khóc lóc cùng với mẹ và xin bà hảy giúp cho cô được kết hôn cùng A Nan, bà mẹ hiểu rằng đó là một việc không bao giờ thực hiện được nhưng vì tình thương con của một người mẹ, nên bà sẵn sàng làm bất cứ điều gì mà con bà cho đó là hạnh phúc của đời nó. Bà đi đến ngoại đạo xin thỉnh bùa chú để khi ngài A Nan đi khất thực ngang qua thì dùng tà thuật khiến A Nan khi đi ngang nhà thì bước vào trong nhà, nàng Ma Đăng Già mừng rở chạy đến ôm ngài thì ngay lúc ấy A Nan chợt nhớ mình là một vị tỳ kheo nên ngài tưởng đến Phật và cầu xin sự gia hộ của Đức Phật khiến trí huệ của ngài trở lại minh mẩn và ngài trở về tịnh xá bạch Phật. Ngày hôm sau khi A Nan đi khất thực thì cô gái cứ đi theo ngài hoài. Nói cô đừng nên đi theo nhưng cô cũng không nghe, hể ngài đi đâu thì cô gái theo sau lưng. Không biết làm sao A Nan bèn quay trở lại tịnh xá bạch với Đức Phật.

Đức Phật bảo A Nan hảy mời cô gái ấy đến gặp ngài. Nàng Ma Đăng Già vì lòng yêu A Nan nên khi được gặp Phật sẵn sàng nhận tất cả các điều kiện miễn là được làm vợ của ngài A Nan. Đức Phật bảo rằng A Nan là một người xuất gia do đó người muốn cùng sống với A Nan thì cũng phải xuất gia tu đạo ít nhất một năm và mời bà mẹ nàng cùng đến chứng kién ngày nàng xuất gia.

Nàng Ma đăng Già vì lòng mong muốn làm vợ A Nan nên rất nhiệt tình trong việc tu tập, cô học tập rất nghiêm túc, tu tập rất tinh tấn, mối tình si của cô từ từ lắng dịu xuống và cô hiểu được sự sai lầm của mình và tình yêu của mình lúc trước là một sự bất thiện và bất định. Đức Phật thường giảng cho các đệ tử nghe về nguồn gốc của sự khổ đau đó là ngũ dục. Năm sự ham muốn là sắc dục, thính dục, hưong dục, vị dục, xúc dục. Ngũ dục là năm món dục lạc của chúng sanh trong dục giới từ súc sanh đến nhân loại và cả đến thần tiên. Để cho say đắm trong ngũ dục thì cuộc đời bị trói buộc.

Một hôm nàng Ma Đăng Già đến quì dưới chân Phật mà khóc xin sám hối cho sự ngu muội của mình trước kia. Nàng xin nguyện suốt đời của mình là đệ tử Phật, làm một tỳ kheo ni theo chân Đức Phật để hoằng dương chánh pháp.

Ông Hải vừa dứt lời thì Mai và Hùng lên tiếng A! con hiểu rồi, hay quá pháp Phật quả là hay quá. Như vậy nếu là khi chưa hiểu đạo thì nàng Ma đăng Già là con ma phá hoại đạo pháp,còn khi đã hiểu đạo và chứng thánh quả thì cô trở thành sứ giả của Như Lai phải không thưa ông? Đúng rồi đó các cháu, bà Hải ôm bé Lan vào lòng và hỏi thế cháu còn sợ Ma đăng Già nữa không? Bé Lan lắc đầu nói con không sợ nữa đâu thưa bà… Vậy cháu Tâm mai mốt nếu nghe ai nói các cháu biết giải thích phải không. Nếu cháu không biết hoặc không hiểu điều gì thì các cháu phải hỏi chứ đừng làm thing mà lo sợ một mình nghe các cháu. Dạ nghe ạ,dạ nghe cả.. Các cháu ngoan lắm, thôi các cháu chia nhau cho hết dĩa kẹo xong đánh răng, rửa măt rồi đi ngũ, ngày mai đi đón ba má các cháu về.

Bà Hải đưa các cháu vào giường ngủ xong trở ra ngồi xuống cạnh ông Hải và hỏi ông có muốn uống trà thêm không? Ông nói thôi đủ rồi mình ạ, sao trông ông không được vui vậy? Không phải vậy vấn đề khiến tôi đang suy nghĩ là làm thế nào để các con các cháu của chúng ta hiểu đạo một cách đúng đắn. Bà xem chúng ta mãi lo tu cho chúng ta mà chúng ta quên rằng còn có cả thế hệ cháu con nữa đó. Mai đây khi chúng ta quá vãng rồi còn ai nối giữ chánh pháp chứ. Chúng ta để con cháu đi sai đường cũng là lổi lầm của chúng mình nữa đó. Nhiều khi chúng ta nói chuyện mà các cháu không hiểu nên thành ra một sự nhầm lẫn mà cho đến sau nầy sẽ đưa đẩy câu chuyện đi về đâu, lỗi ở ai chúng ta cũng không biết nữa. Để kỳ nầy lên chùa tôi sẽ bạch với thầy để xin thầy có ý kiến!

Theo tôi thì ngoài việc xin ý kiến của quý thầy chúng ta nên tích cực hơn như là hàng tuần ông và tôi thay phiên đến chơi với các cháu thì chúng ta tập cho các cháu học hỏi về những điều cơ bản trong giáo lý của Đức Phật. Rồi tôi sẽ kể cho các cháu nghe các truyện cổ tích Phật giáo từ từ khi các cháu có chút ý thức và hiểu biết thì chúng ta sẽ đề nghị cha mẹ các cháu cho các cháu đi qui y. Ông Hải mỉm cười nói : bà nói sao đúng ý của tôi quá, bà mỉm cười nhìn ông rồi nói thì tôi sống với ông đã mấy mươi năm rồi mà …tục ngữ Việt Nam có câu suy bụng tui ra bụng ông đấy mà, hơn nữa chúng ta vừa là bạn đời vừa là bạn đạo nữa chứ sao! Nên ông nghỉ cái gì tôi liền đoán biết đấy thôi.

Ông Hải cảm động cầm tay người vợ vừa chỉ ánh trăng rằm tháng Tư tròn xoe soi sáng vạn vật quanh mình và nói tôi mường tượng ánh trăng sáng trong đêm chẳng khác ánh đạo vàng soi sáng khắp nẽo tăm tối trên trần gian, ôi hạnh phúc biết bao chúng ta và cả nhân loại đang thọ hưỡng ánh trăng đạo lý trí tuệ ấy!

--- o0o ---

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
24/01/2015(Xem: 6592)
Mỗi sáng sớm khi sương còn mù mịt trên sông, chiếc thuyền con của lão già đã là đà rẽ nước, hướng về bờ – lúc thì bờ đông, lúc thì bờ tây, nơi những ngôi nhà tranh và những chiếc ghe nhỏ tụ tập. Mái chèo khua nhè nhẹ như thể sợ động giấc ngủ của thế nhân. Chẳng ai biết chắc lão có gia đình, nhà cửa ở đâu hay không. Nhưng người ta có thể đoán chiếc thuyền con ấy chính là nhà của lão, vì lão phơi thuốc, xắc thuốc, nấu thuốc ngay trên đó. Trên thuyền không còn ai khác. Ban đêm, thuyền của lão neo ở đâu không ai biết, nhưng sáng sớm thì thấy lù lù xuất hiện trên sông hoặc nơi bờ cát. Lão già đến và đi, một mình. Mỗi ngày xách cái túi nhỏ rời thuyền, thường là đi hái thuốc trên núi, ven rừng, bờ suối, có khi vào làng chữa bệnh cho bá tánh rồi ghé chợ mua vài thứ lĩnh kĩnh.
21/01/2015(Xem: 13479)
1. Chân như đạo Phật rất mầu Tâm trung chữ Hiếu niệm đầu chữ Nhân, Hiếu là độ được song thân Nhân là cứu độ trầm luân muôn loài. 5. Thần thông nghìn mắt nghìn tay Cũng trong một điểm linh đài hóa ra,
16/01/2015(Xem: 5262)
Sau 30-4-75, tất cả giáo chức chúng tôi đều phải đi học tập chính trị trong suốt 3 tháng hè mà họ gọi nôm na là "bồi dưỡng nghiệp vụ". Một buổi chiều sau mấy ngày "bồi dưỡng", tôi đạp xe lang thang qua vùng Trương minh Giảng, tình cờ gặp Báu - một người học trò năm xưa, rất xưa, đang ngơ ngẩn đứng trước cửa nhà. Dừng xe đạp, tôi chào: - Báu hả? Phải em là Trương thị Báu không? Có nhớ ra cô không? Báu giương mắt nhìn tôi, nhìn đi nhìn lại rồi nghiêng đầu lại nhìn...Em không nhớ nổi... Tôi đã thoáng thấy được một tâm thần bất thường qua thần sắc cũng như qua đôi mắt trống rỗng vô hồn!
16/01/2015(Xem: 6616)
Năm 1954 ông Thiện khăn gói đùm đề đưa mẹ, vợ và hai đứa con gái xuống con tàu há mồm vào Nam.Trên bờ, Thụ, người em trai của ông còn đưa tay vẫy vẫy. Đêm hôm qua, ông và người em trai bàn rất nhiều về chuyến ra đi này.Người em nói: - Đất nước đã hòa bình, độc lập, anh nên ở lại, dù gì cũng là nơi chôn nhau cắt rốn.Vào Nam xứ lạ quê người, chân ướt chân ráo trăm bề khổ sở... Ông Thiện đã trả lời em:
15/01/2015(Xem: 6505)
Trong cả thành phố này, anh chị chỉ có tôi là chỗ thân nhất, vừa là thầy vừa là bạn. Buổi sáng anh gọi phone bảo trưa nay đến đón tôi về nhà dùng cơm cho vui. Hôm nay là sinh nhật của thằng Alexander con một của anh chị.
14/01/2015(Xem: 14362)
Tiếng Hồng chung Phật Học Viện Hải Đức Nha Trang nói riêng và các chùa trong thành phố Nha trang nói chung, sớm khuya ai cũng có thể nghe được, nhưng nghe để “Trí tuệ lớn” và “Bồ-đề sinh” thì tùy theo “phiền não” của đối tượng nghe có vơi nhẹ hay không? Riêng với nhà văn Võ Hồng, qua tác phẩm “Tiếng chuông triêu mộ” cho thấy Trí tuệ và Bồ đề của ông sanh trưởng tốt. Nhưng nhân duyên như thế cũng chưa đủ, ông là giáo sư của PHV, của trường Bồ Đề, là thiện tri thức của các bậc cao Tăng ở đồi Đông và đồi Tây non Trại Thủy. Có thế mới có truyện ngắn “Cây khế lưng đồi”, có tùy bút “Con đường thanh tịnh”. Thưa thầy Võ Hồng, chừng ấy đủ rồi, đủ cho PHV đi vào lịch sử văn học, đủ cho 100 năm sau, 1000 năm sau hay nhiều hơn thế nữa, nhìn thấy PHV uy nghi như một Linh Thứu thời Phật và cũng cho thấy các bậc cao Tăng Miền Trung nói riêng xứng đáng là những Sứ giả Như Lai đầy trách nhiệm đối với sự trường tồn của Phật giáo Việt Nam.
09/01/2015(Xem: 5927)
Tháng 10 năm 1962, TT Chủ Tịch Ủy Ban Liên Phái… nhờ Tôi đi công tác Vũng Tàu, Tôi đi chuyến xe đò lúc 8g30 sáng, xe chạy vừa khỏi hãng xi-man Hà Tiên, thì có 3 người đón xe. Anh tài xế nói với tôi : “Thầy vui lòng xuống hàng ghế phía dưới để cho “mấy cha”ngồi, vui nghen Thầy”! Tôi lách mình qua khoản trống thì có 2 vị đưa tay đón và đở nhường chỗ ngồi còn nói lớn: “Ngộ ha, cha quí hơn Thầy “! Tôi sợ gây chuyện không vui, nên đưa tay và lắc đầu xin yên lặng. Vì đương thời bấy giờ bóng dáng của các áo đen có nhiều sát khí thế lực! Nhưng, Mộc dục tịnh, nhi phong bất đình 木欲淨而風不亭.Xe chạy êm ả, gió lùa mát rượi.
26/12/2014(Xem: 19363)
Phât tử Chơn Huy ở Hoa Kỳ về có đem theo tập tự truyện dày của Tỳ Kheo Yogavacara Rahula. Cô nói truyện rất hay, khuyên tôi đọc và nhờ tôi dịch ra Việt ngữ để phổ biến trong giới Phật tử Việt Nam. Câu chuyện rất lý thú, nói về đời của một chàng trai Mỹ đi từ chỗ lang bạt giang hồ đến thiền môn. Truyện tựa đề "ONE NIGHT'S SHELTER (From Home to Homelessness)--The Autobiography of an American Buddhist Monk". Tôi đọc đi rồi muốn đọc lại để thấu đáo chi tiết trung thực của một đoạn đời, đời Thầy Yogavacara Rahula. Nhưng thay vì đọc lại, tôi quyết định dịch vì biết rằng dịch thuật là phương pháp hay nhứt để hiểu tác giả một cách trọn vẹn. Vả lại, nếu dịch được ra tiếng Việt, nhiều Phật tử Việt Nam sẽ có cơ duyên chia sẻ kinh nghiệm quý báu của Thầy Rahula hơn.
06/12/2014(Xem: 4893)
T huở nhỏ tôi mồ côi bố sớm, ở vào cái tuổi con nít vừa mới chập chững biết đi chưa nói được câu gọi bố lần đầu, bố tôi đã đi về miền cát bụi. Sự ra đi của ông đột ngột quá, còn trẻ quá mới 27 tuổi đầu làm sao không để lại bao luyến tiếc cho người ở lại. Dĩ nhiên mẹ tôi là người chịu nhiều đau đớn nhất, mới lấy chồng được hai năm cộng thêm đời chiến binh nên chỉ ở gần chồng vỏn vẹn có một tháng là nhiều. Con thơ còn bế ngửa trên tay, đầu quấn khăn tang người chồng yêu quí, đã phải xách tay nải leo lên chiếc thuyền viễn xứ nhổ neo lên đường như một bài hát nào đó.
01/12/2014(Xem: 17536)
Nguyên gốc tác phẩm này là của Genro, một Thiền sư thuộc tông Tào động Nhật Bản, viết và xuất bản năm 1783. Mỗi câu chuyện là một công án mà tác giả đã có lời bình và kệ đi kèm. Fugai, người thừa kế Genro, thêm nhận xét của sư, câu đối câu, vào sách của thầy. Tôi sẽ dịch các câu chyện hay tắc, gồm cả lời bình của Genro và nhận xét của Fugai trong hầu hết các câu chuyện để tham khảo. Có khi gặp bài kệ cũng dịch để khuyến khích học tập.