Khỏi phải tự thiêu

29/04/201808:06(Xem: 16794)
Khỏi phải tự thiêu


hoasen1

KHỎI PHẢI

TỰ THIÊU

 

Ngày xưa ở tại nước kia

Có bà goá phụ Đề Vi rất giàu

Chồng thời chết đã từ lâu

Lại không con cái, u sầu mãi thôi

Một thân goá bụa đơn côi

Không người che chở, chẳng ai nương nhờ.

Đúng theo phép thời bấy giờ

Vì bà dòng dõi là Bà La Môn

Nên khi cuộc sống u buồn

Không như ý nguyện, lại luôn não phiền

Thì nên hủy xác thân liền

Tự thiêu để được sinh lên cõi trời

Đời sau sung sướng tuyệt vời

Bao nhiêu tội lỗi tức thời tiêu tan,

Trước khi thiêu nên lập đàn

Cúng dường châu báu vô vàn thành tâm

Cúng cho thầy Bà La Môn

Để nhờ chú nguyện gieo muôn phước lành,

Theo lời chỉ dẫn ngọn ngành

Bà Đề Vi chất củi thành đài cao

Rồi chờ người phóng lửa vào

Tự thiêu thân xác, xả bao tội tình.

*

Trong vùng có vị tu hành

Được tin vội đến nhiệt thành thăm nom

Biện Tài, tên vị sa môn

Nghe xong câu chuyện ôn tồn giảng ngay,

Bà Đề Vi lắng nghe thầy

Lời từ vang vọng gieo đầy gấm hoa:

"Bao nhiêu tội chướng gây ra

Luôn do tâm thức người ta khởi đầu

Nào do thân thể mình đâu

Dù thiêu nào xóa được mau tội tình,

Tâm lành thời quả báo lành

Tâm gieo nhân dữ, quả thành dữ thôi.

Khi bà thiêu đốt thân người

Thế nào tâm cũng tức thời khổ đau

Làm sao mong diệt được mau

Tội tình chồng chất trước sau nhiều bề

Mà mong có quả lành về;

Cũng như người bệnh dầm dề lâu nay

Giờ ai đánh mắng đọa đày

Sao sầu não chẳng vương ngay vào mình

Làm sao giữ được tâm lành;

Giờ bà muốn diệt tội tình lâu nay

Muốn thiêu, muốn đốt thân này

Lửa mang đau đớn tới ngay tức thì

Tâm sinh khổ não kể chi

Chết rồi đọa xuống âm ty ngay liền

Thế là khổ lại khổ thêm

Nơi miền địa ngục não phiền gia tăng.

Lấy thêm thí dụ rõ ràng

Bò càng kéo nặng lại càng ghét xe

Bò bèn đạp gãy xe đi

Tưởng rằng nặng nhọc có bề thoát qua

Nào ngờ xe gãy tháo ra

Bỏ đi xe gãy, thay qua xe lành

Ách kia lại xiết cổ mình

Bò đâu thoát được khổ hình gian nan.

Ai còn nghiệp tội đầy tràn

Dù cho có đốt trăm ngàn tấm thân

A Tỳ địa ngục vẫn gần,

Làm sao chỉ có một lần tự thiêu

Mà mong tội lỗi hết theo.

Tâm mà tạo ác đủ điều khác chi

Như mây che khuất trăng kia,

Tâm mà hối cải chuyển đi làm lành

Như là ngọn đuốc lung linh

Phá tan tăm tối, u minh chập chờn

Bao nguồn gốc nghiệp thế nhân

Do Thân, Khẩu, Ý xoay vần tạo ra,

Muốn trừ diệt hết tâm tà

Chân thành sám hối! Thiết tha tu hành!"

*

Sau khi giảng giải điều lành

Thầy Biện Tài lại nhiệt thành dạy thêm:

"Nhớ Mười Điều Thiện chớ quên

Hàng ngày bà cố gắng nên thực hành!"

Bà Đề Vi hiểu ngọn ngành

Trong lòng hoan hỷ chân thành cúng dâng

Vừa châu báu, vừa bạc vàng

Thỉnh thầy ở lại giúp hàng chúng sinh.

Thầy không nhận, nói tâm tình:

"Những đồ quý báu tu hành cần đâu

Nếu bà đã hiểu đạo mầu

Mang Mười Điều Thiện truyền mau cho người

Đó là một cách tuyệt vời

Trả ơn thiết thực cho nơi cửa Thiền

Cúng dường Pháp là ưu tiên

Đạo vàng gieo hạt, tâm hiền nở hoa!"

 

Tâm Minh Ngô Tằng Giao

(thi hóa, phỏng theo

TRUYỆN CỔ PHẬT GIÁO)

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
12/10/2011(Xem: 25314)
Truyện thơ Tôn giả La Hầu La - Tác giả: Tâm Minh Ngô Tằng Giao
01/10/2011(Xem: 9907)
Hàng ngũ phật tử thường được chia là phật tử tại gia và phật tử xuất gia. Các phật tử tại gia thường được gọi là cư sĩ. Trong lịch sử đạo Phật có ghi lại chuyện một số các vị cư sĩ nổi tiếng, tuy các vị ấy không xuất gia nhưng về phương diện tu hành, thấu hiểu đạo lý thì không thua kém gì các vị đã xuất gia. Có nhiều vị cư sĩ nổi tiếng nhưng bài này chỉ xin nhắc đến ông Duy Ma Cật, bà hoàng hậu Thắng Man, cư sĩ Huệ Năng lúc chưa xuất gia và sau đó đến gia đình ông Bàng Uẩn.
25/09/2011(Xem: 6093)
Lời hát ru nhẹ nhàng mà trầm buồn da diết ấy đi vào trong cả giấc mơ của Hiền. Bao lần chị giựt mình thảng thốt ngồi bật dậy… ngơ ngác nhìn quanh. Chẳng có gì khác ngoài bóng đêm lạnh giá bao trùm hai dãy xà lim hun hút. Chốc chốc vẳng lại tiếng thạch sùng chặc lưỡi, tiếng chí chóe của mấy chú tí ưa khuấy rối trong xó tối. Và cả tiếng thở dài của ai đó dội qua mấy bức tường xanh rêu im ỉm…
24/09/2011(Xem: 4178)
Ngày xưa có một chàng trai tên là Na Á. Anh mồ côi cha từ sớm, ở với mẹ già. Nhà Na Á nghèo, anh phải làm nghề đánh cá để nuôi thân, nuôi mẹ.
24/09/2011(Xem: 4905)
Một hôm em bé ngồi trong bóng cây trú nắng, gió cũng thổi mát quá, em ngủ quên, đến lúc thức dậy, thì đàn trâu đã đi mất. Em tìm khắp cánh đồng mà chẳng thấy.
21/09/2011(Xem: 4547)
Tờ Chú (có nghĩa là anh đen) nghèo nhất làng. Họ nghèo lắm, nghèo đến nỗi không có một con dao mẻ để phát nương, một cái thuổng để đào củ mài.
21/09/2011(Xem: 4108)
Ngày xưa, ở xã Đại An gần cù lao Huân tỉnh Khánh Hòa có một đôi vợ chồng già không có con cái. Ông bà ở trong một căn nhà lá dựng bên vách núi, làm nghề trồng dưa.
16/09/2011(Xem: 15373)
Tôi cảm động, vì sống trong đạo giải thoát tôi đã tiếp nhận được một thứ tình thiêng liêng, trong sáng; một thứ tình êm nhẹ thanh thoát đượm ngát hương vị lý tưởng...
12/09/2011(Xem: 5387)
Hồ Biểu Chánh (1884–1958), tên thật là Hồ Văn Trung, tự Biểu Chánh, hiệu Thứ Tiên; là một nhà văn tiên phong của miền Nam Việt Nam ở đầu thế kỷ 20. Ông sinh năm 1885 (trong giấy khai sinh ghi ngày 1 tháng 10 năm 1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Ông vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ.
11/09/2011(Xem: 16220)
Tôi thức dậy trong một sự yên tĩnh như thế ấy ở Pomona. Tiếng chim hót vang rừng những không thể nói là tiếng ồn. Nó lại càng làm cho sự yên lặng thêm sâu hơn về bề sâu là khác.