Những Câu Chuyện Đã Qua

11/01/201819:04(Xem: 6515)
Những Câu Chuyện Đã Qua
HT Tri Vien (4)

NHỮNG CÂU CHUYỆN ĐÃ QUA

(Kỷ niệm 40 năm hoằng pháp của Cố HT. Thích Trí Viên
tại chùa Kỳ Viên & tròn 10 năm NS Tâm Thị)



Vào những năm đầu của thập niên 2000, khi cây bút đang còn sung sức, tôi viết rất nhiều bài về danh lam thắng cảnh trên quê hương Nha Trang của mình để giới thiệu trên các báo và tạp chí khắp đất nước. Trong số đó, hiển nhiên là có bài viết về ngôi chùa đã lưu nhiều hình ảnh, dấu ấn kỷ niệm vào ký ức tuổi thơ của tôi với tên gọi thân quen mộc mạc: “Chùa Núi Sinh Trung”.

Lần đó, khi có ý định viết về chùa mà sau nhiều năm nổi trôi dâu bể mình chưa có dịp đặt chân trở lại thăm, tôi đã về nhà từ đường hỏi ý mẹ. Mẹ vui khi biết tôi có ý định đó, liền nói:

“Chùa đã có thầy Trí Viên về trú trì mấy năm rồi, đã sửa sang, xây dựng lại từ những năm qua, có nhiều cảnh đẹp, rất đáng để con lên vãn cảnh và sáng tác. Quý nhất và độc đáo nhất là phía sau chánh điện, con sẽ thấy bàn thờ có di ảnh Đức Bà Từ Cung, cùng Vua Bảo Đại, và sắc phong 350 vị công thần triều Nguyễn. Mẹ sẽ viết thư ít dòng giới thiệu con đến Thầy trú trì, để thầy tạo điều kiện thuận lợi cho con được tiếp cận với những kỷ vật, những tư liệu quý hiếm mà chùa đang gìn giữ, đặng viết được một bài viết hay và giá trị!”

Cầm thư giới thiệu của Mẹ trên tay, tôi lên chùa Kỳ Viên, và được yết kiến Thầy trú trì. Thầy hoan hỷ, truyền lệnh cho một thầy đệ tử trẻ hướng dẫn tôi lên chánh điện để lạy Phật, rồi chiêm bái từng thánh tượng, linh vị, chụp hình lại mọi vật mọi cảnh từ trong ra ngoài sân chùa mà mình muốn lưu để minh họa cho bài viết thêm chân thực, sinh động… Lần đó, tôi đã hoàn thành bài viết “Kỳ Viên Trung Nghĩa Tự”, được báo địa phương, báo Phật giáo, và các tạp chí ngành du lịch đón nhận và đăng tải, kết quả thật mỹ mãn.

Vài năm sau, cũng vào lần ghé về từ đường thăm Mẹ, tôi lại được Mẹ đưa xem một phong thư có in ngoài bì địa chỉ của Chùa Kỳ Viên. Nội dung thư là lời mời cộng tác thơ văn với Nội San Tâm Thị, do chính Thầy trú trì hạ bút. Mẹ tôi dặn dò:

“Con của Mẹ đông quá, mà đứa nào cũng rành, cũng giỏi thơ văn nhạc họa, nên Thầy không thể nhớ chính xác được tên của đứa nào. Trong những năm qua, chỉ tính mấy đứa ở Nha Trang gần bên Mẹ, Mẹ thấy chỉ có Hiền, Hữu, và Yên là mấy cây bút viết lách chuyên nghiệp, lại hướng tâm ý văn chương về Phật đạo, vậy các con cứ thay mặt Mẹ mà gửi bài góp bút với Nội San Tâm Thị của Thầy, cũng như các tạp chí của Phật giáo trong và ngoài nước. Mấy đứa mà Thầy nhớ tên và nhắc trong thư là mấy đứa thường lên chùa Kỳ Viên, thường gặp Thầy, và góp lời ca tiếng đàn trong những lần có văn nghệ mừng lễ lớn…”

HT Tri Vien (1)HT Tri Vien (2)HT Tri Vien (3)


Tôi cười xòa, hiểu ý Mẹ ngay, Mẹ sợ tôi buồn vì trong thư không được Thầy nhắc đến tên. Tôi mang phong thư đó về, để trịnh trọng trên bàn, phía dưới màn hình máy tính mà tôi ngồi làm việc hằng ngày. Bắt đầu từ giờ phút đó, tôi vâng lệnh Mẹ, phát nguyện phát tâm trở thành một cộng tác viên đắc lực của Nội San Tâm Thị trong suốt những năm qua…

Tôi còn nhớ. đầu Xuân Quý Mùi 2015, dịp họp mặt Cộng Tác Viên của Nội San Tâm Thị - lúc đó Thầy trú trì đã được tấn phong Hòa Thượng mấy năm qua rồi, nên đại chúng phải gọi bằng Ôn- khi tôi đến chấp tay cung kính bái kiến Ôn phía bên ngoài thềm hội trường, Ôn vỗ vai tôi hỏi với giọng rất yêu thương và thân mật:

“Ủa, làm gì mà mày mau già vậy Bình? Có bệnh gì không?”
“ Dạ bạch Ôn… con là Hữu, anh của Bình ạ!”
“Ồ, vậy hở? Hèn gì, tao nghĩ lạ, sao thằng Bình mới đây mà đã bạc tóc rồi.”

Rồi Ôn cười khề khà. Tôi cũng cười theo, vì tôi hiểu do anh em tôi có gương mặt giống giống nhau, Bình thì thường lên chùa gặp Ôn nhiều hơn tôi, nên Ôn dễ lầm lẫn.

Kể nhắc lại những câu chuyện đã qua vừa rồi, bỗng dưng nhớ Ôn quá!

Tâm Không Vĩnh Hữu






Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
12/10/2011(Xem: 25411)
Truyện thơ Tôn giả La Hầu La - Tác giả: Tâm Minh Ngô Tằng Giao
01/10/2011(Xem: 10001)
Hàng ngũ phật tử thường được chia là phật tử tại gia và phật tử xuất gia. Các phật tử tại gia thường được gọi là cư sĩ. Trong lịch sử đạo Phật có ghi lại chuyện một số các vị cư sĩ nổi tiếng, tuy các vị ấy không xuất gia nhưng về phương diện tu hành, thấu hiểu đạo lý thì không thua kém gì các vị đã xuất gia. Có nhiều vị cư sĩ nổi tiếng nhưng bài này chỉ xin nhắc đến ông Duy Ma Cật, bà hoàng hậu Thắng Man, cư sĩ Huệ Năng lúc chưa xuất gia và sau đó đến gia đình ông Bàng Uẩn.
25/09/2011(Xem: 6122)
Lời hát ru nhẹ nhàng mà trầm buồn da diết ấy đi vào trong cả giấc mơ của Hiền. Bao lần chị giựt mình thảng thốt ngồi bật dậy… ngơ ngác nhìn quanh. Chẳng có gì khác ngoài bóng đêm lạnh giá bao trùm hai dãy xà lim hun hút. Chốc chốc vẳng lại tiếng thạch sùng chặc lưỡi, tiếng chí chóe của mấy chú tí ưa khuấy rối trong xó tối. Và cả tiếng thở dài của ai đó dội qua mấy bức tường xanh rêu im ỉm…
24/09/2011(Xem: 4198)
Ngày xưa có một chàng trai tên là Na Á. Anh mồ côi cha từ sớm, ở với mẹ già. Nhà Na Á nghèo, anh phải làm nghề đánh cá để nuôi thân, nuôi mẹ.
24/09/2011(Xem: 4911)
Một hôm em bé ngồi trong bóng cây trú nắng, gió cũng thổi mát quá, em ngủ quên, đến lúc thức dậy, thì đàn trâu đã đi mất. Em tìm khắp cánh đồng mà chẳng thấy.
21/09/2011(Xem: 4577)
Tờ Chú (có nghĩa là anh đen) nghèo nhất làng. Họ nghèo lắm, nghèo đến nỗi không có một con dao mẻ để phát nương, một cái thuổng để đào củ mài.
21/09/2011(Xem: 4138)
Ngày xưa, ở xã Đại An gần cù lao Huân tỉnh Khánh Hòa có một đôi vợ chồng già không có con cái. Ông bà ở trong một căn nhà lá dựng bên vách núi, làm nghề trồng dưa.
16/09/2011(Xem: 15424)
Tôi cảm động, vì sống trong đạo giải thoát tôi đã tiếp nhận được một thứ tình thiêng liêng, trong sáng; một thứ tình êm nhẹ thanh thoát đượm ngát hương vị lý tưởng...
12/09/2011(Xem: 5425)
Hồ Biểu Chánh (1884–1958), tên thật là Hồ Văn Trung, tự Biểu Chánh, hiệu Thứ Tiên; là một nhà văn tiên phong của miền Nam Việt Nam ở đầu thế kỷ 20. Ông sinh năm 1885 (trong giấy khai sinh ghi ngày 1 tháng 10 năm 1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Ông vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ.
11/09/2011(Xem: 16374)
Tôi thức dậy trong một sự yên tĩnh như thế ấy ở Pomona. Tiếng chim hót vang rừng những không thể nói là tiếng ồn. Nó lại càng làm cho sự yên lặng thêm sâu hơn về bề sâu là khác.