Cao Dao Trong Tâm (truyện thơ)

08/01/201806:48(Xem: 17337)
Cao Dao Trong Tâm (truyện thơ)



con dao
CON DAO

 TRONG TÂM

 

Ở bên Ấn Độ thuở xưa

Nơi thành Xá Vệ, buổi trưa một ngày

Gia đình kia thật duyên may

Phật thương hóa độ, dừng ngay tại nhà,

Tiếc thay chồng vợ tỏ ra

Tham lam, độc ác, xấu xa, hung tàn.

Hóa thành một vị đạo nhân

Phật đi khất thực dừng chân trước thềm

Ôm bình bát, đứng trang nghiêm,

Anh chồng đi vắng, vợ liền nhảy ra

Tay xua đuổi, miệng hét la

Tục tằn chửi bới thật là dữ hung.

Đạo nhân nói, giọng ung dung:

"Ta mong gia chủ mở lòng ra cho

Chút lương thực giúp người tu,

Cớ sao thô lỗ đuổi xua nặng lời?"

Chợt anh chồng về tới nơi

Thấy người khất thực tức thời nổi cơn

Bao nhiêu giận giữ trào tuôn

Sẵn dao bén nhọn giắt luôn bên mình

Rút ra định chém người lành

Dù cho là kẻ tu hành chẳng nương.

*

Bỗng đâu có một bức tường

Hiện lên bao bọc đạo nhân mọi bề

Tường kiên cố, bằng pha lê

Cửa vào không có, ngại gì gươm đao.

Anh chồng bực bội kêu gào:

"Này ông hãy mở tôi vào mau đi!"

Đạo nhân nói: "Chẳng khó gì!

Hãy quăng dao bén ta thì mở cho!"

Anh chồng tự nghĩ: "Chẳng lo

Thân ta vạm vỡ lớn to hơn người

Tay không cũng đủ giết rồi

Dao dù bén nhọn ta thời cần chi!"

Nghĩ xong quăng vội dao đi

Lạ thay tường vẫn phẳng lì, còn nguyên.

Anh chồng tức giận hét lên:

"Dao kia tôi đã quăng liền rồi đây

Sao ông không mở ra ngay?"

Đạo nhân: "Dao bén trong tay sá gì

Dao trong Tâm mới hiểm nguy

Mau quăng dao đó tức thì gần ta!"

Thấy người thấu hiểu rõ ra

Bao nhiêu tâm địa xấu xa của mình

Anh chồng bất chợt hoảng kinh

Thật thà hối lỗi, chân thành ăn năn

Mưu mô độc ác tiêu tan

Khấu đầu lạy tạ đạo nhân hết lời.

*

Ngẩng lên nào thấy bóng Người

Bức tường chia cách đồng thời lùi xa

Đạo nhân giờ mới hiện ra

Dáng hình Đức Phật thật là uy nghiêm

Hào quang rạng rỡ một miền,

Nhân từ Phật thuyết pháp liền cho nghe,

Vợ chồng hoan hỉ mọi bề

Đạo vàng hóa độ, quay về đường ngay.

 

Tâm Minh Ngô Tằng Giao

(thi hóa, phỏng theo

 Truyện Cổ Phật Giáo)

 


con dao

Con Dao Trong Tâm – Tướng tự Tâm sanh


Ngày xưa ở thành Xá Vệ nước Ấn Độ, đức Phật đến giáo hoá độ cho một gia đình kia, hai vợ chồng đều cá tánh tham lam độc ác, không biết tôn trọng đạo đức. Ngài liền hóa một vị đạo nhân, mang bình bát đến khất

thực. Lúc ấy người chồng đi vắng, người vợ ở nhà, thấy vị đạo nhân vào liền mắng chửi ầm lên. Vị đạo nhân hiền từ nói:

“Tôi là người tu hành, chỉ xin ăn mà tự sống. Lòng chỉ mong gia chủ cho bát cơm để đỡ lòng, cớ sao lại mắng chửi tôi đủ điều thậm tệ như vậy”.

Người vợ tức giận hét ngược lên, thì vừa người chồng về, trong tay sẵn cầm cao dao bén, chẳng nói chẳng rằng, người chồng lặng lẽ xông tới, định chém đạo sĩ. Bỗng một bức thành băng pha lê hiện lên, bao bọc

người đạo sĩ, bức thành trong sáng, kiên cố, không có cửa, người chồng đến xô đập, đâm chém đủ cách cũng không sao chuyển được.

Người chồng liền nói: “Ông hãy mở mau cho tôi vào với”.

Vị đạo sĩ trả lời: “Được, nhưng ông hãy quăng con dao bén đi đã”.

Người chồng tự nghĩ: “Mình to lớn như thế này, còn người đạo sĩ bé nhỏ thế kia, mình dùng hai tay không cũng đủ giết chết vị ấy trong giây lát”. Nghĩ đoạn, liền quăng con dao bén đi xa, nhưng sao bức thành pha
lê vẫn nguyên như củ, người chồng tức giận hét lên:

“Tôi đã quăng con dao bén đi rồi sao ông không chịu mở cửa cho tôi vào”.

Vị đạo sĩ đáp: “Không, tôi không có nói ông quăng con dao bén trong tay ông, tôi muốn ông quăng con dao bén trong tâm ông kia mà”.

Người chồng giựt mình kinh sợ, nhận thấy vị đạo sĩ thấu hiểu tâm lý thầm kín của mình, nên đã bớt độc ác, cúi đầu lạy tạ, ăn năn hối lỗi. Bức thành pha lê kiên cố ấy bỗng biến mất, vị đạo sĩ hiện thành Đức Phật, phóng muôn ánh hào quang chói sáng rực rỡ một phương trời, và ngay khi đó Đức Phật thuyết pháp để hóa độ cho hai vợ chồng người ấy.

Cổ Tích Phật Giáo

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
12/10/2011(Xem: 25522)
Truyện thơ Tôn giả La Hầu La - Tác giả: Tâm Minh Ngô Tằng Giao
01/10/2011(Xem: 10038)
Hàng ngũ phật tử thường được chia là phật tử tại gia và phật tử xuất gia. Các phật tử tại gia thường được gọi là cư sĩ. Trong lịch sử đạo Phật có ghi lại chuyện một số các vị cư sĩ nổi tiếng, tuy các vị ấy không xuất gia nhưng về phương diện tu hành, thấu hiểu đạo lý thì không thua kém gì các vị đã xuất gia. Có nhiều vị cư sĩ nổi tiếng nhưng bài này chỉ xin nhắc đến ông Duy Ma Cật, bà hoàng hậu Thắng Man, cư sĩ Huệ Năng lúc chưa xuất gia và sau đó đến gia đình ông Bàng Uẩn.
25/09/2011(Xem: 6145)
Lời hát ru nhẹ nhàng mà trầm buồn da diết ấy đi vào trong cả giấc mơ của Hiền. Bao lần chị giựt mình thảng thốt ngồi bật dậy… ngơ ngác nhìn quanh. Chẳng có gì khác ngoài bóng đêm lạnh giá bao trùm hai dãy xà lim hun hút. Chốc chốc vẳng lại tiếng thạch sùng chặc lưỡi, tiếng chí chóe của mấy chú tí ưa khuấy rối trong xó tối. Và cả tiếng thở dài của ai đó dội qua mấy bức tường xanh rêu im ỉm…
24/09/2011(Xem: 4223)
Ngày xưa có một chàng trai tên là Na Á. Anh mồ côi cha từ sớm, ở với mẹ già. Nhà Na Á nghèo, anh phải làm nghề đánh cá để nuôi thân, nuôi mẹ.
24/09/2011(Xem: 4943)
Một hôm em bé ngồi trong bóng cây trú nắng, gió cũng thổi mát quá, em ngủ quên, đến lúc thức dậy, thì đàn trâu đã đi mất. Em tìm khắp cánh đồng mà chẳng thấy.
21/09/2011(Xem: 4594)
Tờ Chú (có nghĩa là anh đen) nghèo nhất làng. Họ nghèo lắm, nghèo đến nỗi không có một con dao mẻ để phát nương, một cái thuổng để đào củ mài.
21/09/2011(Xem: 4151)
Ngày xưa, ở xã Đại An gần cù lao Huân tỉnh Khánh Hòa có một đôi vợ chồng già không có con cái. Ông bà ở trong một căn nhà lá dựng bên vách núi, làm nghề trồng dưa.
16/09/2011(Xem: 15438)
Tôi cảm động, vì sống trong đạo giải thoát tôi đã tiếp nhận được một thứ tình thiêng liêng, trong sáng; một thứ tình êm nhẹ thanh thoát đượm ngát hương vị lý tưởng...
12/09/2011(Xem: 5484)
Hồ Biểu Chánh (1884–1958), tên thật là Hồ Văn Trung, tự Biểu Chánh, hiệu Thứ Tiên; là một nhà văn tiên phong của miền Nam Việt Nam ở đầu thế kỷ 20. Ông sinh năm 1885 (trong giấy khai sinh ghi ngày 1 tháng 10 năm 1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Ông vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ.
11/09/2011(Xem: 16467)
Tôi thức dậy trong một sự yên tĩnh như thế ấy ở Pomona. Tiếng chim hót vang rừng những không thể nói là tiếng ồn. Nó lại càng làm cho sự yên lặng thêm sâu hơn về bề sâu là khác.