Tách Trà Còn Nóng.

10/04/201312:37(Xem: 5453)
Tách Trà Còn Nóng.


Chen_Tra_Tao_Khe_13
Tách Trà Còn Nóng

Thích Tín Nghĩa
---o0o---

Hôm nay Chủ nhật, ngày 14 tháng 10 năm 1990 tức là ngày 26 tháng tám năm Canh ngọ; tôi trang hoàng một bàn thờ đơn giản trước chánh điện để làm lễ tưởng niệm Hòa thượng Thích Thiện Minh lần thứ 12; trước ngày 17-10 là ngày mà Ngài đẽ đem cái thân xác vô thường để đổi lấy cái Tự do, Công bằng, An lạc cho Dân tộc và Đạo pháp trong ngục tù Cộng sản Việt nam.

Ngày giỗ của Ngài năm nào tôi cũng nhớ và cũng chưng dọn bàn thờ để được đảnh lễ trước di ảnh của Ngài. Có năm thì làm đông đảo có Phật tử, tín đồ đến tham dự, có năm thì tôi làm khiêm tốn nhưng không kém phần trang nghiêm. Tuy thế, chưa năm nào bỏ quên. Những lúc đi chứng minh, chủ tọa Đại hội cho tổ chức Gia đình Phật tử, tôi đều khuyến khích anh chị em trong tổ chức nên thiết lễ tưởng niệm ngài Thiện Minh và hiệp kỵ cho hầu hết anh chị em Huynh trưởng và đoàn sinh trong Gia đình Phật tử quá cố.

Mỗi một lần làm lễ tưởng niệm như thế, một vị Huynh trưởng đại diện thường đọc điếu văn cả. Năm nay quá bề bộn công tác Phật sự, nên không điếu văn, cũng không quy tụ các Gia đình Phật tử địa phương cùng đến tham dự được.

Sau khi đảnh lễ Ngài chín lạy xong, tôi quỳ xuống trước di ảnh và cung kính pha tách trà để cúng dường.

Nhìn tách trà đang nóng, đang bốc hơi và đang từ từ đầy lên; tôi hồi tưởng những năm về trước đây khi còn ở quê nhà và Ngài còn mang cái xác thân hữu hạn ấy trên trần thế nầy.

Cuộc đời của tôi mặc dầu theo làm thị giả Ngài cũng nhiều lần khi còn là một chú tiểu; nhưng, khi bắt đầu lớn lên và biết khôn thì tôi được cái diễm phúc khó quên ba lần theo sát với Ngài.

* Lần thứ nhất 1965:

Sau khi cách mạng 01-11-1963 thành công, Giáo hội Phật giáo Việt nam Thống nhất ra đời. Ngài là vị Tổng vụ Trưởng Tổng vụ Thanh niên, Sinh viên, Học sinh và Gia đình Phật tử. Ngài đi thăm đó đây trên khắp lãnh thổ miền Nam Việt nam. Nơi nào có tổ chức Thanh thiếu niên, có tổ chức Gia đình Phật tử là Ngài đều có mặt. Tuyến đường cuối cùng là Thừa thiên và Quảng trị (Quảng trị là sanh quán của ngài).

Chuyến ra Huế ngài ở lâu nhất. Ngài đi thăm hầu hết các Tổ đình. Ngài cùng chư vị Đại tăng thọ trai tại Tổ đình Trúc lâm. Tôi làm thị giả. Trong bữa cơm đạm bạc ấy, chư Đại tăng cùng hàn huyên với nhau qua câu chuyện Pháp nạn 1963. Câu chuyện khi bổng khi trầm. Tôi thỉnh thoảng lại phải quanh để hầu cơm quý ngài. Khi đến sau lưng Thượng tọa Thích Thiện Minh, tôi đưa tay ra đỡ cái chén để đơm cơm, Ngài nhìn tôi miệng mĩm cười rồi bảo:

“Các chú cố gắng lo tu học nhiều đi, các Thầy lớn bây giờ phải gánh vác việc Giáo hội từ trung ương đến địa phương, nên rất ít có thì giờ để trực tiếp giảng dạy như ngày xưa được. Các chú nên theo những gì chúng tôi đãlàm, đang làm để mai sau thay thế chung tôi mà lo cho Đạo, cho Dân và cho Tổ quốc, ...”.

Tôi chỉ nghe được đến đây thì một sư huynh trong chùa nhờ tôi chỉ cách pha trà. Bữa cơm đạm bạc ấy vẫn diễn ra trong bầu không khí đầy thiền vị của chốn già lam Trúc lâm.

Sau giờ nghỉ trưa xong, tôi tiếp tục hầu trà và các Ngài cũng từ từ lên xe về lại Từ đàm.

* Lần thứ hai:

Pháp nạn 1966 lại diễn ra một lần nữa. Chư Tăng Ni và Phật tử phát nguyện tự thiêu thân để cúng dường cũng như để bảo vệ Chánh pháp. Thượng tọa Thích Trí Quang vào Tỉnh đường để tuyệt thực. Thượng tọa Thích Thiện Minh lại phải vào Sài gòn để trực tiếp điều khiển cuộc tranh đấu. Trước khi ra đi, Ngài cũng dùng cơm với chư Đại Tăng ở Tổ đình Từ đàm - Huế và tôi cũng được làm thị giả.

Trong bữa cơm nầy, Ngài cũng trong cốt cách ung dung tự tại của một thiền sư. Tuy thế, thỉnh thoảng Ngài cùng với chư Đại Tăng phải thở ra những giây phút não nề cho vận nước và của Đạo pháp.

Ngài bảo nhỏ:

“Chúng ta nào có ưa tranh đấu hay giành quyền làm gì, chúng ta chỉ muốn làm sao Dân thì được no cơm ấm áo và có một trình độ văn hóa trung bình. Còn Đạo pháp thì được tự do bình đẳng như nhau.”.

Bữa cơm chưa xong, một công điện của Giáo hội trung ương đánh ra, nội dung ra sao thì tôi không được biết. Tuy nhiên, theo tôi nghĩ là cần Thượng tọa Thiện Minh vào gấp Sài gòn. Quý Đại Tăng từ giả nhau, tôi theo chân bổn sư vào lại Trúc lâm.

Chính phủ dân cử được thành hình như nguyện vọng của tòan dân và Phật giáo. Thượng tọa trở lại cố đô Huế để thăm. Phật đản 1971 lại trở về với người con Phật. Tôi lên đường làm Sứ giả Như lai để về chứng minh và thuyết giảng các lễ đài thuộc quận Vinh lộc theo sự yêu cầu và thỉnh mời của Thượng tọa Thích Lưu Đức, lúc bấy giờ là tọa chủ Túy vân Quốc tự và cũng là Chánh đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tại quận nầy.

Sau ba ngày đại lễ đã xong, tôi trở lại Từ đàm để tường trình công tác Phật sự trong những ngày qua lên tỉnh hội. Xe đi ngang qua trường Quốc học, mọi người xôn xao chạy lui chạy tới và hô lớn:

“Tự thiêu, thầy tu tự thiêu”.

Trong cảnh ồn ào náo nhiệt ấy, đa phần là tuổi trẻ cứ chạy Honda lung tung. Nhóm nầy hoan hô, nhóm kia đá đảo.

Anh Phan Văn Gái, một sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hòa mà là Huynh trưởng của Ban Hướng dẫn GĐPTVN tại Thừa thiên - Huế, nói lớn:

“Cái gì còn có đó, còn có lệnh thượng cấp là Giáo hội, các anh không nên làm loạn. Làm như vậy là bị bọn Cộng sản nằm vùng lợi dụng. Làm vậy là có lợi cho Cộng sản. Các anh phải vâng lời và tuân theo chỉ thị của Giáo hội, các anh phải ...”

Tôi chỉ nghe được đến đây mà thôi, vì người quá đông. Câu nói của anh Phan Văn Gái rất có giá trị. Tuy thế, sau khi anh bị đi cải tạo, người ta đem câu nói ấy ra tại trại một lần nữa. Và anh đã đem cái dũng của Phật giáo ra để xác nhận là anh đã nói như vậy.

Tôi về đến Từ đàm thì mới biết chú Sa di Chơn Thể tu tại Tổ đình Tường vân đã phát nguyện tự thiêu để cầu nguyện hòa bình, cầu nguyện cho đạo pháp trường tồn và cho dân tộc sớm được no cơm ấm áo. Một ngày bố tát của Chư Tăng bản tỉnh Thừa thiên tại Tổ đình Linh quang, trước khi lễ Thượng tọa Thích Thiện Minh xin chư Tăng có một vài lời giải thích việc làm của Giáo hội trong những ngaỳ thán gvừa qua.

Trước chánh điện Linh quang, trước chư Tăng, trong sắc phục của Như lai với chiếc kính màu đen, với chiếc gậy chống bên cạnh. Ngài lúc nào cũng phải chống gậy vì bị Tổng thống quân phiệt Nguyễn Văn Thiệu cho nhân viên ném lựu đạn để ám sát Ngài, nhưng Ngài chỉ bị thượng nặng ở bàn tọa chứ không chết. Vì thế, Ngài ngồi thấp không được mà phải đứng hàng giờ để nói chuyện.

Cũng vì Ngài bị bể bàn tọa nên tờ Sóng thần đã đăgn đăng hàng tít lớn ở trang đầu rất tiếu lâm do Chu Tử viết có câu như sau:

- “Thượng tọa bể bàn tọa”.

Nhưng sau đó, ông nhà báo nầy có tên là Chu Văn Bình với bút hiệu Chu tử cũng tranh đấu, cũng xách bị xuống đường rồi cũng bị nhà cầm quyến đương thời đàn áp.

Luật nhân quả đến với ông ta là bị thương ở mặt, rồi cũng bị quần chúng đặt lại một vế đối để đối lại như sau:

- “Văn bình sức miệng bình”.

Trong dáng đứng khấp khỉnh nhưng rất uy nghi, Ngài chậm rãi nói như sau:

- “Kính thưa quý thầy, chúng ta là hàng đệ tử Phật, chúng ta lại là con dân nước Việt, chúng ta không thể làm ngơ khi đất nước điêu linh, dân chúng lầm than và đạo pháp lâm nạn.

Vấn đề tự thiêu của chú Sa di Chơn Thể là một sự hinh sinh vô cùng cao đẹp. Rất tiếc là chú hinh sinh còn quá trẻ, chưa đến lúc phải hy sinh thân mạng như thế. Tôi thưa với các thầy trẻ hiện diện hôm nay rằng: Việc gì cũng phải suy nghĩ chín chắn, còn có Giáo hội, còn có chúng tôi. Việc đất nước và đạo pháp là việc chung, rất trọng đại. Một ngày nào đó, các thầy các chú cũng phải thay nhau gánh vác. Lớp nầy nằm xuống thì lớp kia đứng lên. Lúc nào cũng đem, tâm nguyện tu hành và lợi tha mà hành hoạt thì Phật tổ sẽ gia hộ cho chúng ta, hồn thiên sông núi cũng chứng tri cho chúng ta.”.

Vì còn thì giờ dài để chư Tăng làm lễ Bố tát, nên Thượng tọa thăm hỏi vắng tắt và từ già để đi vào thăm bổn sư là Hòa thượng Đệ nhị Tăng thống cùng Tổ đình Thuyền tôn.

Trong lúc đi cùng gồm hai xe. Xe trước do cố Thượng tọa Thích Thiện Lộc làm tài xế chở Ngài Hòa thượng Thích Thiện Siêu, xe sau do Hòa thượng Thích Mật Hiển tự lái lấy, tôi cũng được tháp tùng làm thị giả.

Xuống xe, các ngài từ từ tiến về cổng chùa. Thượng tọa Thích Thiện Minh đã than:

- “Bậy thiệt, răng Ôn lại cho xây cái hồ ngay trước chùa sâu như cái hố rứa không biết?”.

Thượng tọa Thiện Lộc trả lời:

- “Thiện Tấn xây, chứ ai nữa.”

Các Ngài chỉ thở dài và cùng vào hầu Ôn Thuyền tôn. Trà là xong xuôi, Ngài cùng với Hòa thượng Thiện Siêu thưa chuyện với Ôn như sau:

“Ôn cho đào cái hồ trước cổng chùa như rứa, không có lợi cho Tăng chúng, không có lợi cho môn phái lắm đó.”.

Ôn Thuyền Tôn day:

“Cái chú Thiện Tấn, nó xây đó. Tôi nói mà nó không chịu nghe. Nó nói, nó xây hồ Quán Âm.”.

Quý Ngài đi thăm trong chuyến ấy cũng đồng ý là không nên đào sâu như thế. Cuối cùng là cái hồ bị bỏ dở.

*Lần thứ ba 1976:

Sau khi Cộng sản chiếm miền Nam Việt Nam. Tất cả phải lập lại cuộc đời, trong đó có Tăng Ni. Tôi cùng với chư Tăng Giáo hội Đà Nẵng và một số Phật tử khác đứng ra lập một tổ hợp xe đạp lấy tên là Tổ hợp Đoàn kết. Thượng tọa Thích Minh Tuấn là Giám đốc, tôi làm Quản lý. Vì công tác chung nên phải thay phiên nhau vào Sài gòn để mua vật liệu. Tôi được đề cử đi trong chuyến thứ ba thượng tuấn tháng 6-1976.

Ở lại hai ngày tại chùa Già lam. Tôi được Hòa thượng Thích Trí Thủ cho phụ làm nấm với thầy Nguyên Giác, tức thầy Nguyễn Khắc Dũng cùng học ban Tú tài năm xưa (bây giờ đang ở tù với thầy Trí Siêu và Tuệ Sỹ).Trời về chiếu, Thượng tọa Thích Thiện Minh đến thăm Ôn Già lam và tu viện. Khi nghe Thượng tọa đến, Hòa thượng đã mặc áo vàng chế trà sẵn để đãi Thượng tọa.

Nhưng không biết tại sap khi Thượng tọa đến gần cây vú sữa và tháp chuông của Già lam, Ngài đứng lại. Trong lúc ấy, các thanh niên Tăng từ từ bao quanh Ngài. Ngài ngồi trên bậc gác chuông để nói chuyện với anh em Tăng trẻ. Ngài nói hết giờ nầy qua giờ khác, mặc dầu Hòa thượng đã cho chú thị giả cho ra mời hai ba lần.

Ngài ung dung tự tại và chậm rãi nói nhu sau:

-“Đất nước và Đạo pháp còn gánh chịu nhiều cam go hơn nữa”.

Ngài nói chưa hết câu thì một vị Tăng trẻ thưa:

- “Thưa Thượng tọa, hay Thượng tọa nên tạm lánh ra nước ngoài một thời gian, sau đó tìm cách xoay xở. Dù sao ở bên ngoài cũng có thì giờ tự do hơn.”.

Vị Tăng trẻ nói đến đây, Ngài nói tiếp ngay:

- “Các chú phải biết, Thầy đi ra ngoài lúc nào cũng được. Tuy nhiên, Thầy không thể bỏ Giáo hội, bỏ Đạo pháp, bỏ quý Thầy, bỏ Dân tộc và bỏ Quê hương trong lúc nầy được. Lúc nầy là lúc mình phải có trách nhiệm. Nếu cần đổi mạng sống để có tất cả như Thầy vừa kể, Thầy cũng an tâm hoan hỷ. Các chú phải biết: ra ngoài là mình nhục nhã lắm. Họ sẽ xem mình ra gì nữa. Mình không thương dân mình thì làm sao họ thương dân mình”.

Câu chuyện anh em Tăng trẻ thưa qua, Thượng toạ dạy lại. Thượng tọa nhắn nhũ rằng:

- “Các chú cố gắng mà thương Đạo, thương Quê hương dưới mọi hình thức. Ai còn tu hay không, còn giữ được áo cũng thế cả.”.

Anh em có mặt trong chiều hôm ấy chỉ biết im lặng và ngoan ngoãn cúi đầu nghe những lời giáo huấn đó.

Thượng tọa ngồi tâm sự với anh em mất ba tiếng đồng hồ. Cuối cùng Hòa thượng Thích Trí Thủ phải đích thân ra mời và trên tay còn có một tách trà còn nóng. Thượng tọa thương kính trước cung cách của Hòa thượng Thích Trí Thủ như thế, Ngài đành từ giả anh em Tăng trẻ.

Đó là lần cuối cùng của đời tôi được gặp Ngài. Ngài mai tôi trở lại Đà Nẵng và vài tháng sau, tôi từ giả Đà Nẵng và trở về Huế để hầu hạ Bổn sư.

Một tin sét đánh ngang tai, khi tôi nghe đài BBC cho hay là Thượng tọa Thích Thiện Minh, một chính trị gia lỗi lạc của khối Phật giáo Ấn quang đã bị nhà cầm quyền Cộng sản Việt nam bức tử trong lao tù tại Sài gòn.

Cũng từ đó, tôi tìm đường lánh nạn ra hải ngoại đến Denver, tôi tại dựng đoàn Thanh niên Học Phật Thiện Minh. Ở Lyon, Pháp quốc, Thượng tọa Tánh Thiệt cũng lập ngôi chùa mang tên Thiện minh. Ở California, Gia đình Phật tử cũng lập miền Thiện minh. Và hằng năm, tất cả những ngôi chùa Việt nam ly hương trên thế giới cũng tưởng niệm Hòa thượng Thích Thiện Minh, trong đó có Tổ đình Từ đàm Hải ngoại với tách trà còn nóng để tưởng nhớ đến hạnh nguyện vô úy của Ngài.


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/10/2014(Xem: 6135)
Từ lâu, người ta tin rằng có một cái “bản ngã” thường hằng, bất biến, tồn tại độc lập trong vạn pháp. Trước sự nhầm lẫn tai hại đó, Phật Thích Ca bèn nói thuyết “Vô ngã” để chúng sinh phá chấp. “Vô ngã” không phải không có gì hết mà là không có tự tánh, không có tự thể riêng biệt. Đây là một trong ba Pháp ấn trong hệ thống giáo lý của Phật giáo (hai pháp ấn kia là Khổ và Vô thường). Gọi là Pháp ấn có nghĩa là trong tám mươi bốn ngàn pháp môn của đạo Phật nếu có pháp môn nào không có một trong ba khái niệm Khổ, Vô thường và Vô ngã thì không phải giáo lý đạo Phật.
03/10/2014(Xem: 5305)
Học sinh thường cho rằng, các thầy cô chỉ nhớ tên học sinh giỏi, học sinh đẹp hoặc hoạt động hiệu đoàn... Cho nên mỗi lần nếu tôi gặp lại một em học sinh không có gì xuất sắc ngày xưa mà tôi còn nhớ tên, thì đó là một niềm vui to lớn của em là được thầy cô còn nhớ mặt và nhớ tên của mình. Sau khi cuộc chiến lan tràn trên quê hương thầy trò phân tán, tôi đi cùng nam cực bắc, đi xa nửa trái địa cầu, rải rác khắp nơi, tôi vẫn gặp lại những em học sinh Đồng Khánh cũ. Và nhờ cố gắng nhớ mặt, nhớ tên các em, nên hầu như ở đâu tôi cũng gieo được chút niềm vui cho những người đang phập phồng chờ được gọi đích danh sau một câu mở đầu công thức: „Cô còn nhớ em không?“. Những con người ấy, những học sinh Đồng Khánh tha phương - xa trường, xa thầy bạn cũ đã xưa rất xưa, mà chính bản thân khi soi gương cũng không còn bắt được hình bóng mình ngày ấy..., bất giác còn được gọi tên, còn được nhớ, còn được nhắc nhở đến bao kỷ niệm của một thời. Ôi! Vui biết bao nhiêu, ấm áp ngọt ngào biết bao nhiêu
02/10/2014(Xem: 5516)
Ra đến bến xe trời hãy còn khuya khoắt, trông cảnh nhộn nhịp ì xèo rộn lên từ những gian hàng ăn uống ở một góc gần bên, và tiếng nói cười lăng xăng của hành khách đi lại lẫn với tiếng những người bán hàng rong mời mọc. Nhìn sang quầy bán vé bây giờ không giống như những ngày tháng sau năm 1975, bề mặt thoáng mát rộng rãi trang trí bởi những bảng quảng cáo, những hoa văn sắc màu, những hàng ghế để khách ngồi chờ trông lịch sự. Khách mua vé rất nhanh khỏe hơn xưa, không còn cảnh chen lấn xếp hàng cả buổi trời như trước đây, lại có thêm nhiều loại xe phục vụ trên các tuyến, việc nầy còn tùy thuộc vào túi tiền của hành khách, ai có tiền nhiều thì đi loại xe chất lượng cao, còn ai ít tiền thì đi loại xe bình dân hơn. Nói vậy chứ còn khá hơn trước Đây, bởi ba chiếc xe car cũ kỹ hoặc xe chạy bằng than đá trên những tuyến Miền Đông, Miền Tây vào những năm 1975 - 1990.
24/09/2014(Xem: 7731)
Xưa có một người quyết tâm học đạo, theo một vị thiền sư sống trong một cái cốc nhỏ, sống đạm bạc, quyết chí tu hành. Một này kia, có công việc, vị thiền sư phải đi xa, dặn đệ tử ở lại phải lo chăm chỉ tu hành, luôn luôn giữ lối sống đạm bạc và tâm hồn thanh tịnh. Người đệ tử này chỉ có một chiếc khố che thân. Đêm tới khi ngủ, máng khố trên vách, thường bị chuột chui ra cắn rách, phải xin bá tánh chút vải thừa thay khố nhiều lần.
03/09/2014(Xem: 6614)
Lúc đó tôi được 13 tuổi. Trước đó một năm gia đình tôi đã chuyển từ Bắc Florida đến miền Nam California. Tôi dễ hận thù khi vừa đến tuổi vị thành niên. Tôi rất nóng nảy và hay cãi lại đối với bất cứ chuyện gì dù nhỏ mà ba mẹ đề cập tới, đặc biệt là nếu nó liên quan đến tôi. Cũng giống như nhiều đứa trẻ lứa tuổi thiếu niên, tôi khó chấp nhận bất cứ điều gì đi ngược lại với quan điểm của mình về thế giới chung quanh. Một đứa bé “thông minh không cần dạy bảo”. Tôi phản đối bất cứ biểu lộ nào của tình thương. Thật sự, tôi dễ giận dữ khi đề cập đến cái từ “thương yêu”.
26/08/2014(Xem: 5681)
Ở ven bờ bể Mễ Tây Cơ, có một làng nhỏ chuyên sống nghề đánh cá, một chiếc thuyền con lướt sóng nhẹ vào bờ, đem về vài con cá khá to. Một ông khách Mỹ đứng trên bờ, khen ngợi nghề đánh cá tài giỏi của anh chàng Mễ Tây Cơ và hỏi anh ta mất bao nhiêu thì giờ mới được chừng đó cá. _ “ Không lâu lắm đâu !” anh Mễ Tây Cơ trả lời.
17/08/2014(Xem: 37827)
Đại Sư tên là Huệ Năng, cha họ Lư, tên húy là Hành Thao. Người mẹ họ Lý, sinh ra ngài nhằm giờ tý, ngày mùng tám tháng hai, năm Mậu Tuất, niên hiệu Trinh Quán thứ 12. Khi ấy, hào quang từ nhà ngài chiếu sáng lên không trung, mùi hương lạ tỏa lan khắp nhà. Đến tảng sáng, có hai vị tăng lạ mặt đến thăm, bảo cha ngài rằng: “Khuya nay ông vừa sinh quý tử, chúng tôi đến đây là để đặt tên cho cháu bé. Ông nên đặt trước là chữ Huệ, sau là chữ Năng.”
17/08/2014(Xem: 32690)
Nhân quả báo ứng là một tập truyện của Trung Quốc, có vẽ tranh minh họa rất sinh động. Tập truyện này trước do ngài Văn Xương Đế Quân đời nhà Tấn sưu tập những truyện nói về nhân quả và sự báo ứng qua nhiều triều đại ở Trung Quốc.
17/08/2014(Xem: 29551)
Nhân quả là định luật căn bản xuyên suốt quá trình thành trụ hoại diệt của tất cả chúng sinh từ đời này sang đời khác, cho đến vũ trụ, vạn vật cũng không phải tuần hành, biến dịch một cách ngẫu nhiên, vô lí, mà luôn tuân theo định luật nhân quả. Định luật này không do một đấng thần linh nào, xã hội nào đặt ra cả, mà là luật tự nhiên, âm thầm, lặng lẽ, nhưng luôn đúng đắn, chính xác, hiệu quả vô cùng.
17/08/2014(Xem: 35063)
Ngài Nam Tuyền nói: “Tâm bình thường là đạo.” Chư vị Tổ sư dùng đến vô số phương tiện cũng không ngoài việc dẫn dắt người học đạt đến tâm bình thường này. Vì thế, thiền không phải là một lãnh vực siêu nhiên vượt ngoài phạm trù ý thức thông thường như nhiều người lầm tưởng, mà trái lại chính là sự soi rọi, chiếu sáng những trạng thái tâm thức hết sức bình thường mà mỗi người chúng ta đều đã và đang trải qua trong cuộc sống thường ngày.