Đồng vọng quê hương

10/04/201312:02(Xem: 6273)
Đồng vọng quê hương

chuathienmu1

ĐỒNG VỌNG QUÊ HƯƠNG

Lam Khê

---o0o---

( Cảm nghĩ nhân đọc bài thơ “NHỚ CHÙA” của Hòa Thượng Mãn Giác )

Hình ảnh ngôi chùa, dòng sông, cây đa bến nước đã quá đổi thân quen và gắn bó đời người qua từng làng xã quê hương. Để rồi khi tất cả khung cảnh nên thơ bình dị ấy chỉ còn là chút hoài niệm xa xôi thì nó bổng trở thành một thứ biểu tượng thiêng liêng, ẩn chứa biết bao niềm thương nỗi nhớ đến nao lòng...

Có những cái đẹp mộc mạc chân tình như hương đồng cỏ nội. Có những cái đẹp mênh mông dàn trải như núi thẩm non ngàn. Hoa cỏ nào thì hồn sắc nấy. Tính ước lệ của vạn tượng sum la, luôn là mạch nguồn cho bao ý nhạc hồn thơ bay bổng. Chính vì thế mà mỗi lần dạo qua khung trời thi ca rộng mở, tôi lại bắt găïp những cái đẹp muôn sắc lắm màu, đôi khi phải gạn lọc suy tư, có lúc thì bâng khâng nghiền ngẫm. Cuối cùng điều đọng lại bao giờ cũng là một mảnh tình quê chân phát mà làm day dứt...suốt cả một đời người không nguôi tìm kiếm.

Bất ngờ đọc lại bài thơ “ Nhớ Chùa” vừa được in trên báo- bài thơ mà tôi từng yêu thích trong suốt hai mươi năm qua, lòng chợt bồi hồi xúc cảm như lần đầu tiên được trùng phùng với nàng thơ kỳ ảo, hay cuộc tao ngộ đầy duyên nợ của kẻ học đòi nghiệp dĩ văn chương. Hai hay ba mươi năm thì lộ trình của một bài thơ hay chưa thể gọi là dài. Vậy mà ngần ấy thời gian cũng đủ cho hồn thơ ấy vươn xa làm lay động hằng triệu triệu con tim người trên khắp miền xuôi ngược. Bài thơ được in trang trọng như biểu lộ sự tôn vinh kính ngưỡng, thầm gởi nén hương lòng đến bậc Tôn Đức khả kính vừa rũ bỏ cảnh trần gian tạm bợ. Sau bao nhiêu năm, bài thơ vẫn mang đậm dấu ấn thiêng liêng của tình người viễn xứ trăn trở mãi bởi một tiếng chuông chùa vọng lại từ cõi trời quê xa thẳm..
.

-Từ thuở ra đi vắng bóng chùa,

Đường đời đã nhọc chuyện hơn thua.

Trong tôi đã bừng dậy niềm chua xót

Xao xuyến mơ về lại cảnh xưa.

Lời mở đầu cũng là lời tự kết về cái “thuở ra đi... vắng xa mái tranh chùa yên ả...đến con đường đời hơn thua vinh nhục thì làm sao tránh khỏi bước ngắn bước dài đầy nổi chông chênh lao nhọc”...từ đó mà “bừng dậy niềm chua xót” cho một kiếp người làm khách tha phương. Miền quê hương qua dáng dấp một ngôi chùa làng, là hình tượng khá tiêu biểu trong thơ ca. Nhưng “nhớ chùa” lại mang một hơi thở lạ. Rất lạ. Thổi đúng mạch nguồn vào cái thời mà làng quê còn xa tăm tít, thấp thoáng nơi bến bờ là nỗi nhớ thương hoài niệm không nguôi lòng “ Ra đi ai chẳng nhớ chùa chung....” Thế đấy! Chùa chung nhưng niềm riêng thì canh cánh, dạo mãi khúc ly hương cho đời mà người nhạc sĩ tài hoa chưa thể khua động cho mình một khoảng trời xanh để nhẹ gót phiêu bồng, nên đành chấp nhận làm gã Cùng Tử lang thang rong ruổi qua muôn ngã rẽ.

Không gian của miền quê ngập vàng ánh nắng. Lời thơ tả chân mộc mạc mà thâm thúy, câu chữ nhịp nhàng mà ý tứ bay xa. Với dung lượng chưa quá mười bài thất ngôn tứ tuyệt, cũng bao quát một bức tranh quê với đầy đủ cả sắc hồn, cả tình ý; Dù cảnh tượng làng quê ấy lắm khi chỉ “thấp thoáng bên lòng....một con đường đỏ ... vài hàng tre xanh.. một chút khói hương trầm phảng phất, cùng bóng dáng Đức Phật từ bi mỉm miệng cười” Tôi tâm đắc với câu“ Cây mai già sống trọn đời, bên hàng tùng bách mãi xanh tươi”Cây mai thì có mặt khắp vùng nhiệt đới, chẳng riêng gì xứ Nam bộ quê mình. Ở đâu mai cũng lung linh một sắc hoa vàng, vẫn nhẹ thoáng qua làn gió xuân ấm áp. Những cây mai cốt cách thanh mảnh mà có sức sống bền bĩ quanh năm. Những hàng tùng bách xanh tươi thì lại muốn vươn xa tỏa bóng khắp cõi nhân tình ...Hình tượng vừa rõ ràng vừa kín đáo ấy lại đẹp một cách thanh nhã cao kỳ, làm sáng rực cả cánh đồng quê vốn quen sống yên bình bên lời kinh tiếng mõ.

Bây giờ tôi mới hiểu...vì sao người ta bôn ba bận rộn cả đời mà vẫn không quên gởi lòng về cùng tiếng chuông xa. Chuông vẳng nơi nao lại nhớ tiếng chuông quê mình đến thế. Bởi ở đâu có tiếng chuông nghe rõ cả hồn thiêng sông núi tự hào, nghe rõ mọi âm hưởng trầm hùng sâu lắng giữa thinh không. Mái chùa quê dù phong rêu cổ kính, vẫn là nơi chở che hồn dân tộc, là nếp sống muôn đời của Tổ Tông. Tình làng nghĩa xóm đã gắn bó nhau cả đời, thì mái đình, hàng cây, dòng sông, bóng nước mãi mãi là một chốn quê hương để ai ra đi cũng vương vấn nhớ về.

Biết đến bao giờ trở lại quê, Phân vân lòng gởi nhớ thương về...”Đã là chùa chung thì nỗi niềm này đâu chỉ riêng ai.“ Nhớ chùa” dù mang hơi thở của thời đại, là tâm sự của riêng mình mà cũng là tiếng nói chung của muôn thế hệ người đi qua. Cảnh “chim Việt cành Nam” từng làm xao xuyến bao mảnh đời phiêu bạt, và đó cũng là bản hợp tấu xuyên dài trên con đường du phương hành hóa của không ít bậc chân tu đương đại. Người ra đi cũng có lúc phải quay về. Cánh hạc bay xa còn tỏ lòng đoái thương đời dâu bể. Cuộc sống là sự tiếp nối không ngừngï. Ai đi ai ở đều chung hưởng một vầng trăng nơi quê mẹ, vậy thì bận bịu làm chi chuyện đến đi, để lòng cứ phải băn khoăn tự hỏi đến bao giờ....

---o0o---

Trình bày: Nhị Tường

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
24/01/2015(Xem: 6615)
Mỗi sáng sớm khi sương còn mù mịt trên sông, chiếc thuyền con của lão già đã là đà rẽ nước, hướng về bờ – lúc thì bờ đông, lúc thì bờ tây, nơi những ngôi nhà tranh và những chiếc ghe nhỏ tụ tập. Mái chèo khua nhè nhẹ như thể sợ động giấc ngủ của thế nhân. Chẳng ai biết chắc lão có gia đình, nhà cửa ở đâu hay không. Nhưng người ta có thể đoán chiếc thuyền con ấy chính là nhà của lão, vì lão phơi thuốc, xắc thuốc, nấu thuốc ngay trên đó. Trên thuyền không còn ai khác. Ban đêm, thuyền của lão neo ở đâu không ai biết, nhưng sáng sớm thì thấy lù lù xuất hiện trên sông hoặc nơi bờ cát. Lão già đến và đi, một mình. Mỗi ngày xách cái túi nhỏ rời thuyền, thường là đi hái thuốc trên núi, ven rừng, bờ suối, có khi vào làng chữa bệnh cho bá tánh rồi ghé chợ mua vài thứ lĩnh kĩnh.
21/01/2015(Xem: 13492)
1. Chân như đạo Phật rất mầu Tâm trung chữ Hiếu niệm đầu chữ Nhân, Hiếu là độ được song thân Nhân là cứu độ trầm luân muôn loài. 5. Thần thông nghìn mắt nghìn tay Cũng trong một điểm linh đài hóa ra,
16/01/2015(Xem: 5281)
Sau 30-4-75, tất cả giáo chức chúng tôi đều phải đi học tập chính trị trong suốt 3 tháng hè mà họ gọi nôm na là "bồi dưỡng nghiệp vụ". Một buổi chiều sau mấy ngày "bồi dưỡng", tôi đạp xe lang thang qua vùng Trương minh Giảng, tình cờ gặp Báu - một người học trò năm xưa, rất xưa, đang ngơ ngẩn đứng trước cửa nhà. Dừng xe đạp, tôi chào: - Báu hả? Phải em là Trương thị Báu không? Có nhớ ra cô không? Báu giương mắt nhìn tôi, nhìn đi nhìn lại rồi nghiêng đầu lại nhìn...Em không nhớ nổi... Tôi đã thoáng thấy được một tâm thần bất thường qua thần sắc cũng như qua đôi mắt trống rỗng vô hồn!
16/01/2015(Xem: 6644)
Năm 1954 ông Thiện khăn gói đùm đề đưa mẹ, vợ và hai đứa con gái xuống con tàu há mồm vào Nam.Trên bờ, Thụ, người em trai của ông còn đưa tay vẫy vẫy. Đêm hôm qua, ông và người em trai bàn rất nhiều về chuyến ra đi này.Người em nói: - Đất nước đã hòa bình, độc lập, anh nên ở lại, dù gì cũng là nơi chôn nhau cắt rốn.Vào Nam xứ lạ quê người, chân ướt chân ráo trăm bề khổ sở... Ông Thiện đã trả lời em:
15/01/2015(Xem: 6509)
Trong cả thành phố này, anh chị chỉ có tôi là chỗ thân nhất, vừa là thầy vừa là bạn. Buổi sáng anh gọi phone bảo trưa nay đến đón tôi về nhà dùng cơm cho vui. Hôm nay là sinh nhật của thằng Alexander con một của anh chị.
14/01/2015(Xem: 14713)
Tiếng Hồng chung Phật Học Viện Hải Đức Nha Trang nói riêng và các chùa trong thành phố Nha trang nói chung, sớm khuya ai cũng có thể nghe được, nhưng nghe để “Trí tuệ lớn” và “Bồ-đề sinh” thì tùy theo “phiền não” của đối tượng nghe có vơi nhẹ hay không? Riêng với nhà văn Võ Hồng, qua tác phẩm “Tiếng chuông triêu mộ” cho thấy Trí tuệ và Bồ đề của ông sanh trưởng tốt. Nhưng nhân duyên như thế cũng chưa đủ, ông là giáo sư của PHV, của trường Bồ Đề, là thiện tri thức của các bậc cao Tăng ở đồi Đông và đồi Tây non Trại Thủy. Có thế mới có truyện ngắn “Cây khế lưng đồi”, có tùy bút “Con đường thanh tịnh”. Thưa thầy Võ Hồng, chừng ấy đủ rồi, đủ cho PHV đi vào lịch sử văn học, đủ cho 100 năm sau, 1000 năm sau hay nhiều hơn thế nữa, nhìn thấy PHV uy nghi như một Linh Thứu thời Phật và cũng cho thấy các bậc cao Tăng Miền Trung nói riêng xứng đáng là những Sứ giả Như Lai đầy trách nhiệm đối với sự trường tồn của Phật giáo Việt Nam.
09/01/2015(Xem: 5957)
Tháng 10 năm 1962, TT Chủ Tịch Ủy Ban Liên Phái… nhờ Tôi đi công tác Vũng Tàu, Tôi đi chuyến xe đò lúc 8g30 sáng, xe chạy vừa khỏi hãng xi-man Hà Tiên, thì có 3 người đón xe. Anh tài xế nói với tôi : “Thầy vui lòng xuống hàng ghế phía dưới để cho “mấy cha”ngồi, vui nghen Thầy”! Tôi lách mình qua khoản trống thì có 2 vị đưa tay đón và đở nhường chỗ ngồi còn nói lớn: “Ngộ ha, cha quí hơn Thầy “! Tôi sợ gây chuyện không vui, nên đưa tay và lắc đầu xin yên lặng. Vì đương thời bấy giờ bóng dáng của các áo đen có nhiều sát khí thế lực! Nhưng, Mộc dục tịnh, nhi phong bất đình 木欲淨而風不亭.Xe chạy êm ả, gió lùa mát rượi.
26/12/2014(Xem: 19400)
Phât tử Chơn Huy ở Hoa Kỳ về có đem theo tập tự truyện dày của Tỳ Kheo Yogavacara Rahula. Cô nói truyện rất hay, khuyên tôi đọc và nhờ tôi dịch ra Việt ngữ để phổ biến trong giới Phật tử Việt Nam. Câu chuyện rất lý thú, nói về đời của một chàng trai Mỹ đi từ chỗ lang bạt giang hồ đến thiền môn. Truyện tựa đề "ONE NIGHT'S SHELTER (From Home to Homelessness)--The Autobiography of an American Buddhist Monk". Tôi đọc đi rồi muốn đọc lại để thấu đáo chi tiết trung thực của một đoạn đời, đời Thầy Yogavacara Rahula. Nhưng thay vì đọc lại, tôi quyết định dịch vì biết rằng dịch thuật là phương pháp hay nhứt để hiểu tác giả một cách trọn vẹn. Vả lại, nếu dịch được ra tiếng Việt, nhiều Phật tử Việt Nam sẽ có cơ duyên chia sẻ kinh nghiệm quý báu của Thầy Rahula hơn.
06/12/2014(Xem: 4909)
T huở nhỏ tôi mồ côi bố sớm, ở vào cái tuổi con nít vừa mới chập chững biết đi chưa nói được câu gọi bố lần đầu, bố tôi đã đi về miền cát bụi. Sự ra đi của ông đột ngột quá, còn trẻ quá mới 27 tuổi đầu làm sao không để lại bao luyến tiếc cho người ở lại. Dĩ nhiên mẹ tôi là người chịu nhiều đau đớn nhất, mới lấy chồng được hai năm cộng thêm đời chiến binh nên chỉ ở gần chồng vỏn vẹn có một tháng là nhiều. Con thơ còn bế ngửa trên tay, đầu quấn khăn tang người chồng yêu quí, đã phải xách tay nải leo lên chiếc thuyền viễn xứ nhổ neo lên đường như một bài hát nào đó.
01/12/2014(Xem: 17554)
Nguyên gốc tác phẩm này là của Genro, một Thiền sư thuộc tông Tào động Nhật Bản, viết và xuất bản năm 1783. Mỗi câu chuyện là một công án mà tác giả đã có lời bình và kệ đi kèm. Fugai, người thừa kế Genro, thêm nhận xét của sư, câu đối câu, vào sách của thầy. Tôi sẽ dịch các câu chyện hay tắc, gồm cả lời bình của Genro và nhận xét của Fugai trong hầu hết các câu chuyện để tham khảo. Có khi gặp bài kệ cũng dịch để khuyến khích học tập.