Giữa dòng sông hoa

10/04/201311:54(Xem: 5875)
Giữa dòng sông hoa

hoaphuong_1Giữa dòng sông hoa

Lam Khê

Đầu tháng tư đã có những cơn mưa nặng hạt kéo dài. Bầu trời khi trong veo, lúc lại thăm thẳm mù mây. Hai bên bờ nước thường dâng cao, cây cỏ sum suê góp phần làm cho tiếng dế tiếng ve kêu râm rang suốt cả ngày. Thuyền bè qua lại trên sông đông đúc và đêm đêm mấy khu chợ nổi vẫn thu hút khách thương hồ lai vãng bán buôn.

Ngôi chùa nằm khuất sau hàng dừa nước mấy hôm nay tất bật người ra vào. Ngoài sân có mấy chiếc ghe bầu lớn nhỏ nằm chơ vơ trên bãi đất trống cũng đang được trang trí kết đèn lồng gắn tràng hoa trông thật lộng lẫy đẹp mắt. Những chiếc thuyền hoa, người ta gọi vậy- chuẩn bị cho đêm rằm chùa sẽ tổ chức lễ rước Phật đản trên sông- Thì như ở thành phố có xe hoa đi diễu hành khắp các con đường trong đêm kỷ niệm Phật Thích Ca ra đời ấy mà.

- Mọi năm đâu có. Sao năm nay nhà chùa làm rườm rà quá dzậy không biết?- Mấy người dân trong xóm xúm lại coi rồi bàn tán.

- Vị thầy này mới về trụ trì. Chắc Ổng muốn rước Phật qua lại trên sông cho bà con mình thưởng ngoạn chứ gì.

- Ừ! Ổng còn trẻ, lại là người Thành Phố mới được bổ nhiệm nên thích làm những việc khác người.

Vị Thầy đang chỉ đạo công việc gần đó, khẽ mỉm cười khi nghe họ nói. Đối với cư dân ở đây thì Thầy là người từ phương khác đến, nhưng ngôi chùa này với thầy vốn mang nặng một mối ân tình sâu xa. Vậy nên khi nhận lời di chúc của Hoà thượng tiền nhiệm vừa viên tịch thầy đã khăn gói quay về không chút đắn đo suy tính. Có phải là Thầy ngẫu hứng bày vẻ gì đâu, cũng chẳng muốn tỏ ra mình làm điều khác lạ hơn người; Nhưng mỗi sự việc xảy ra đều ẩn chứa ít nhiều nguyên nhân của nó. Năm tháng qua nhanh. Cuộc sống với nhiều thay đổi theo thời gian và quán tính của con người. Chuyện đời chuyện đạo ngày xưa ấy cũng đã lùi xa. Duy chỉ có thầy là đang trở lại nơi này. Trở lại để rồi khi mùa Phật đản đến cứ âm vang đâu đó chút tình tri ngộ tri ân với ngôi chùa cùng dòng sông bến nước…

Miền quê sông nước thanh bình đã khiến cho những chàng trai thành phố cảm thấy ấm lòng gần gũi khi lần đầu tiên bước chân đến. Họ là thực tập viên của trường Cao đẳng Địa chính, chưa từng quen với việc chèo xuồng lướt sóng, nhưng lại yêu thích cảnh mênh mông đồng ruộng với cơ man nào là sông ngòi chằng chít hiện ra như tranh vẽ. Con người ở đây cả đời chỉ biết quanh quẩn với vườn tược, kênh rạch mà tánh tình phóng khoáng thật thà. Họ đón tiếp những chàng trai mặt còn hơi sữa với tất lòng quý trọng hồn hậu. Ngoài những giờ thực tập, Minh Đức cùng đám bạn học thường lân la đến nhà dân chuyện trò hỏi thăm để biết nhịp sống cùng công việc làm của họ; Và hơn hết là được mọi người khao cho những bữa ăn cây nhà lá vườn đậm mùi vị ngon lạ hấp dẫn của vùng sông nuớc. Dân miền nam vốn nổi tiếng hiếu khách và thích ăn nhậu mà. Hơn nữa hồi ấy được chiêu đãi người tri thức là một niềm vinh hạnh cho họ, cũng đâu có tốn hao là bao. Đã ăn vào…thì lời ra. Thế là họ thoả thích huyên thuyên về cảnh đồng ruộng cò bay thẳng cánh, thoả thích kháo chuyện đông tây kim cổ đến quên cả trời đất nắng mưa.

Những ngày thực tập mới vui làm sao. Dù lắm khi cả đoán người phải vất vả lội trong đầm lầy cả bưổi, giữa cái nắng chói chang và những cơn mưa dầm tháng hạ; Nhưng lòng háo hức của tuổi trẻ khiến những chàng trai không cảm thấy nhọc mệt hay nhớ nhà. Một buổi tối bác Hai trong xóm mời cả bọn đến dự liên hoan chia tay, vì ngày mốt đoàn sinh viên phải trở về trường. Không khí đêm trăng miệt vườn thật trong lành yên ả, lại thêm thân tình nồng hậu của người dân bản xứ, khiến cho lòng người cảm thấy lưu luyến chưa muốn rời xa. Ăn uống đàn hát xong, Minh Đức đề nghị các bạn cùng chèo ghe đi ngắm trăng sáng trên sông. Chẳng được ai hưởng ứng, vì mọi người đang bận vui vẻ tán tỉnh mấy cô thôn nữ xinh xắn. Thế là anh một mình ra sông mượn chiếc xuồng tam bản của chủ nhà rồi khua mái chèo trên con rạch nhỏ. Xuồng đi giữa ánh trăng rằm diệu ảo như ngỏ ý mời mọc người khách lạ cùng dạo cảnh thiên thai. Lúc ấy Minh Đức đã thấm chút hơi men nên đầu óc lâng lâng theo con sóng cùng chiếc ghe tròng trành của người mới tập chèo chống. Nhiều lần định quay vaò bờ, nhưng vầng trăng và phong cảnh hữu tình cứ bắt anh lướt tới. Minh Đức ngắm trăng rồi hứng chí ngâm thơ vịnh nguyện, tự ví mình là thi sĩ Lý Bạch đời Đường. Một lúc sau thì gió bỗng thổi mạnh, làm cho chiếc xuồng không thể tiến tới được. Chàng trai chưa biết xử trí thế nào thì tay chèo mất thăng bằng rồi cả người lẫn ghe cùng lật nhào xuống nước. Lúc ấy anh chỉ kịp đưa tay với lấy bụi rậm gần đó.

Trong cơn mê chấp chờn Minh Đức cảm tưởng có ai đó kéo mình lên. Anh mở mắt ra và ngạc nhiên thấy chiếc thuyền lớn đầy màu sắc của những ánh đèn cùng hào quang rực rỡ. Lại có nhiều tràng hoa tươi kết trên mui trên mạn và đặt cả dưới sàn. Giữa thuyền có chiếc bàn cũng trang trí thật lộng lẫy hoa đèn, trên đó đặt một tượng Phật nhỏ. Minh Đức nghe có tiếng người nói:_ Hôm nay là ngày Phật đản, Chúng ta làm lễ rước Phật trên sông cho bà con có dịp được chiêm bái Phật.

Một người khác kéo tay chàng đến trước bàn Phật bảo quỳ xuống để làm lễ thế phát xuất gia vì hôm nay là ngày tốt. Minh Đức vội đưa hai tay lên ôm lấy đầu la lớn …

- Cậu nhỏ tỉnh rồi à? Con uống chút nuớc gừng này rồi lại ngồi gần bên bếp lửa cho ấm? May mà chỉ uống có ít nước.

Minh Đức ngơ ngác nhìn vị sư già, nhìn quanh quất:_ Mình đang ở đâu đây. Hình như là ngôi chùa thường gặp mỗi ngày khi qua lại trong xóm. Cố nhớ ra mọi chuyện, anh khẻ khàng cất tiếng hỏi:_ Sao con lại nằm ở đây? Còn chiếc thuyền hoa rước Phật đâu?

Vị sư đưa cho chàng chén nước bảo uống rồi nói:_ Con còn mê sảng à? Làm gì có thuyền hoa rước Phật. Thầy có việc đi trong xóm về tối. Khi chèo ghe gần đến chùa thì nghe tiếng kêu từ một bụi rậm gần bờ nên vội bơi tới, thấy có người tay nắm cành lau còn đầu thì chúi xuống nứơc. Thầy kéo con lên và đưa vào đây. Tuy chưa uống nước nhiều, nhưng bị ngất cũng khá lâu. Thầy phải hô hấp nhân tạo thoa dầu, hơ nóng. Bây giờ con thấy trong người thế nào? Thôi nằm nghĩ cho khoẻ, đợi sáng thầy sẽ đưa về trường.

Chàng trai ngạc nhiên:_ Thế sư cụ biết con là sinh viên thực tập à?

Sư cụ gật đầu:_ Sao lại không biết? Ngày nào mấy cậu cũng đi ngang chùa, hát hò um sùm ngoài đường. Tuổi trẻ ham học hỏi tìm tòi mà cũng ham vui lắm. Nghe nói hôm nay ông Hai chiêu đãi mấy chàng sinh viên thực tập sắp trở về thành phố, sao cậu lại chèo ghe một mình đêm hôm để suýt phải chết đuối…? Bộ định nhảy xuống sông ôm trăng như chàng Lý Bạch hồi xưa à?

Minh Đức nhắm mắt lại. Anh vẫn còn mệt, đầu óc quay cuồng với bao hình ảnh cứù thoặt ẩn thoặt hiện. Thật lạ lùng, có phải mình vừa thoát chết không? Mà sao lại gặp lúc vị sư đi ngang qua. Vậy còn chiếc thuyền hoa…?

Khi khoẻ hẳn, Anh kể lại giấc mơ của mình cho vị Sư. Chàng trai cứ băn khoăn tự hỏi:- Một người trong cơn thập tử nhất sinh mà vẫn nằm mơ à!Một giấc mơ kỳ lạ, chàng có bao giờ đi chùa, nào có biết gì đến những sinh hoạt lễ lạc ở nơi tôn nghiêm này…

Vị sư yên lặng nghe. Người nhìn chàng trai và suy nghĩ rất lâu rồi mới cất tiếng nói:_ Đây chắc là điềm lành cho con. Biết đâu đây là nhân duyên. Mà thôi, dầu sao thì con cũng được bình yên rồi. Cửa chùa từ bi lúc nào cũng rộng mở. Hôm nay là mười bốn, ngày mai đúng là ngày Phật Đản.

Minh Đức vẫn còn suy tuởng với cảnh trong mơ:_ Vậy thầy có làm thuyền hoa rước Phật không?

Vị sư cười thật hiền:_ Thầy chưa từng nghe thấy chuyện này. Quả là một ý tưởng thú vịï. Có thể sau này ai đó sẽ làm thuyền hoa rước Phật trên sông. Nhưng chùa Thầy thì chỉ làm lễ tắm Phật đơn sơ…như mọi năm thôi.

Sau lần thoát nạn ấy Minh Đức trở về thành phố tiếp tục chuyện học hành. Ra trường, Anh không xin việc làm mà tìm đến xuất gia ở một ngôi chùa gần nhà, rồi được Bổn Sư gởi đi học các nơi. Thỉnh thoảng Minh Đức cũng về quê thăm vị thầy đã cứu mình ngày trước. Dù không xuất gia với Hoà Thựơng nhưng Minh Đức vẫn xem người là thầy y chỉ. Chàng trai trẻ ngày nào thích suy tư mơ mộng, nay đã là vị đại đức có phẩm cách và nhiều tâm nguyện. Thầy vẫn luôn nghĩ về giấc mơ xưa …

Khi thấy Thầy tổ chức ngày lễ tắm Phật thật long trọng; lại cho kết thuyền hoa rước Phật trên sông, người ta vừa lạ lẫm vừa nghi ngại. Những phật tử lâu năm của chùa lúc đầu cũng không đồng tình. Bởi họ cũng từng dự lễ xe hoa trong đêm Phật đản tại các tỉnh thành lớn. Còn ở đây là miền quê sông nước đầm lầy, dân tình mộc mạc chưa quen với cụm từ thuyền hoa rước Phật. Hơn nữa đã tốn kinh phí mà không hẳn đã mang lại lợi ích. Bổn đạo chùa cũng chẳng có mấy người, hằng tâm thì có chứ hằng sản thì không. Nhưng rồi khi sự việc hoàn thành, mọi người hoan hỷ và biểu lộ sự kính trọng cảm phục vị thầy trụ trì. Mấy đêm trước rằm thầy có thuyết pháp và mời bà con lại nghe. Họ được thầy kể cho nghe câu chuyện nằm mơ khi sắp chết đắm của chàng sinh viên ngày trước.

Đêm Phật đản cả mặt sông tràn ngập ánh đèn màu của thuyền hoa. Chiếc thuyền lớn có bài trí tượng Phật đản sanh đi trước. Thầy và mấy chú tiểu đứng dọc hai bên bàn Phật với pháp y vàng rực như các vị tôn giả đệ tử Phật của mấy ngàn năm trước. Bốn chiếc ghe nhỏ hơn đi phía sau thì chở các bô lão và đoàn thanh thiếu niên phật tử trong làng. Tất cả đều đồng phục áo lam làm phản chiếu thêm vẻ tươi tắn rạng rỡ như ánh trăng rằm trên từng gương mặt. Trời không gợn mây, trăng và nước cứ mặc sức toả chiếu lung linh theo ánh đèn lồng và hoa cỏ đồng nội. Những ghe thuyền của khách thương hồ xuôi ngược cũng tò mò ghé lại đứng xem. Thuyền hoa đi lần qua các kênh rạch. Dân làng đứng chật trên bờ hướng mắt nhìn đoàn thuyền Phật đi qua, có cả các Sư sải từ mấy ngôi chùa trong làng cũng đến chiêm bái. Họ vui vẻ và hết lời tán thán. Chưa bao giờ con sông quê họ lại tưng bừng lễ hội hoa đăng rước Phật trang nghiêm mang đầy ánh đạo nhiệm mầu như thế. Những người dân chơn chất an phận làm ăn hiếm có dịp biết đến chùa, lúc này lòng họ gợi lên chút niềm tin trong sáng. Họ chắp tay hướng về đức Phật bổn sư, cùng chư tăng để bày tỏ niềm thành kính vô biên.

Đoàn thuyền đi qua mấy làng xã thưa vắng. Sau đó ngược sang bến đò bên khu trung tâm thị trấn nhộn nhịp bóng người đi lễ chùa đêm rằm, rồi từ từ quay về con sông lớn. Ánh trăng đêm vẫn huyền ảo soi sáng đến tận bờ giác ngạn xa xa. Vị Thầy với dáng vẻ nghiêm nghị, lúc này cũng xúc động trong cảnh sắc như thật như mơ trong ngày Phật đản. Thầy vẫn đứng yên, mắt hướng nhìn phía trước nơi thuyền hoa đi qua. Dường như dòng sông cũng ánh lên vẻ reo vui đằm thắm, khoảnh khắc của thời gian trước có khác gì với hình ảnh hôm nay.

Và biết đâu chừng, trên những con đò bấp bênh đời sông nước, có ai đó cũng từng được trải qua cuộc hội ngộ kỳ thú như chàng trai Minh Đức ngày nào.

---o0o---

Trình bày: Nhị Tường

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/10/2014(Xem: 6167)
Từ lâu, người ta tin rằng có một cái “bản ngã” thường hằng, bất biến, tồn tại độc lập trong vạn pháp. Trước sự nhầm lẫn tai hại đó, Phật Thích Ca bèn nói thuyết “Vô ngã” để chúng sinh phá chấp. “Vô ngã” không phải không có gì hết mà là không có tự tánh, không có tự thể riêng biệt. Đây là một trong ba Pháp ấn trong hệ thống giáo lý của Phật giáo (hai pháp ấn kia là Khổ và Vô thường). Gọi là Pháp ấn có nghĩa là trong tám mươi bốn ngàn pháp môn của đạo Phật nếu có pháp môn nào không có một trong ba khái niệm Khổ, Vô thường và Vô ngã thì không phải giáo lý đạo Phật.
03/10/2014(Xem: 5339)
Học sinh thường cho rằng, các thầy cô chỉ nhớ tên học sinh giỏi, học sinh đẹp hoặc hoạt động hiệu đoàn... Cho nên mỗi lần nếu tôi gặp lại một em học sinh không có gì xuất sắc ngày xưa mà tôi còn nhớ tên, thì đó là một niềm vui to lớn của em là được thầy cô còn nhớ mặt và nhớ tên của mình. Sau khi cuộc chiến lan tràn trên quê hương thầy trò phân tán, tôi đi cùng nam cực bắc, đi xa nửa trái địa cầu, rải rác khắp nơi, tôi vẫn gặp lại những em học sinh Đồng Khánh cũ. Và nhờ cố gắng nhớ mặt, nhớ tên các em, nên hầu như ở đâu tôi cũng gieo được chút niềm vui cho những người đang phập phồng chờ được gọi đích danh sau một câu mở đầu công thức: „Cô còn nhớ em không?“. Những con người ấy, những học sinh Đồng Khánh tha phương - xa trường, xa thầy bạn cũ đã xưa rất xưa, mà chính bản thân khi soi gương cũng không còn bắt được hình bóng mình ngày ấy..., bất giác còn được gọi tên, còn được nhớ, còn được nhắc nhở đến bao kỷ niệm của một thời. Ôi! Vui biết bao nhiêu, ấm áp ngọt ngào biết bao nhiêu
02/10/2014(Xem: 5521)
Ra đến bến xe trời hãy còn khuya khoắt, trông cảnh nhộn nhịp ì xèo rộn lên từ những gian hàng ăn uống ở một góc gần bên, và tiếng nói cười lăng xăng của hành khách đi lại lẫn với tiếng những người bán hàng rong mời mọc. Nhìn sang quầy bán vé bây giờ không giống như những ngày tháng sau năm 1975, bề mặt thoáng mát rộng rãi trang trí bởi những bảng quảng cáo, những hoa văn sắc màu, những hàng ghế để khách ngồi chờ trông lịch sự. Khách mua vé rất nhanh khỏe hơn xưa, không còn cảnh chen lấn xếp hàng cả buổi trời như trước đây, lại có thêm nhiều loại xe phục vụ trên các tuyến, việc nầy còn tùy thuộc vào túi tiền của hành khách, ai có tiền nhiều thì đi loại xe chất lượng cao, còn ai ít tiền thì đi loại xe bình dân hơn. Nói vậy chứ còn khá hơn trước Đây, bởi ba chiếc xe car cũ kỹ hoặc xe chạy bằng than đá trên những tuyến Miền Đông, Miền Tây vào những năm 1975 - 1990.
24/09/2014(Xem: 7736)
Xưa có một người quyết tâm học đạo, theo một vị thiền sư sống trong một cái cốc nhỏ, sống đạm bạc, quyết chí tu hành. Một này kia, có công việc, vị thiền sư phải đi xa, dặn đệ tử ở lại phải lo chăm chỉ tu hành, luôn luôn giữ lối sống đạm bạc và tâm hồn thanh tịnh. Người đệ tử này chỉ có một chiếc khố che thân. Đêm tới khi ngủ, máng khố trên vách, thường bị chuột chui ra cắn rách, phải xin bá tánh chút vải thừa thay khố nhiều lần.
03/09/2014(Xem: 6618)
Lúc đó tôi được 13 tuổi. Trước đó một năm gia đình tôi đã chuyển từ Bắc Florida đến miền Nam California. Tôi dễ hận thù khi vừa đến tuổi vị thành niên. Tôi rất nóng nảy và hay cãi lại đối với bất cứ chuyện gì dù nhỏ mà ba mẹ đề cập tới, đặc biệt là nếu nó liên quan đến tôi. Cũng giống như nhiều đứa trẻ lứa tuổi thiếu niên, tôi khó chấp nhận bất cứ điều gì đi ngược lại với quan điểm của mình về thế giới chung quanh. Một đứa bé “thông minh không cần dạy bảo”. Tôi phản đối bất cứ biểu lộ nào của tình thương. Thật sự, tôi dễ giận dữ khi đề cập đến cái từ “thương yêu”.
26/08/2014(Xem: 5703)
Ở ven bờ bể Mễ Tây Cơ, có một làng nhỏ chuyên sống nghề đánh cá, một chiếc thuyền con lướt sóng nhẹ vào bờ, đem về vài con cá khá to. Một ông khách Mỹ đứng trên bờ, khen ngợi nghề đánh cá tài giỏi của anh chàng Mễ Tây Cơ và hỏi anh ta mất bao nhiêu thì giờ mới được chừng đó cá. _ “ Không lâu lắm đâu !” anh Mễ Tây Cơ trả lời.
17/08/2014(Xem: 38087)
Đại Sư tên là Huệ Năng, cha họ Lư, tên húy là Hành Thao. Người mẹ họ Lý, sinh ra ngài nhằm giờ tý, ngày mùng tám tháng hai, năm Mậu Tuất, niên hiệu Trinh Quán thứ 12. Khi ấy, hào quang từ nhà ngài chiếu sáng lên không trung, mùi hương lạ tỏa lan khắp nhà. Đến tảng sáng, có hai vị tăng lạ mặt đến thăm, bảo cha ngài rằng: “Khuya nay ông vừa sinh quý tử, chúng tôi đến đây là để đặt tên cho cháu bé. Ông nên đặt trước là chữ Huệ, sau là chữ Năng.”
17/08/2014(Xem: 32731)
Nhân quả báo ứng là một tập truyện của Trung Quốc, có vẽ tranh minh họa rất sinh động. Tập truyện này trước do ngài Văn Xương Đế Quân đời nhà Tấn sưu tập những truyện nói về nhân quả và sự báo ứng qua nhiều triều đại ở Trung Quốc.
17/08/2014(Xem: 29585)
Nhân quả là định luật căn bản xuyên suốt quá trình thành trụ hoại diệt của tất cả chúng sinh từ đời này sang đời khác, cho đến vũ trụ, vạn vật cũng không phải tuần hành, biến dịch một cách ngẫu nhiên, vô lí, mà luôn tuân theo định luật nhân quả. Định luật này không do một đấng thần linh nào, xã hội nào đặt ra cả, mà là luật tự nhiên, âm thầm, lặng lẽ, nhưng luôn đúng đắn, chính xác, hiệu quả vô cùng.
17/08/2014(Xem: 35291)
Ngài Nam Tuyền nói: “Tâm bình thường là đạo.” Chư vị Tổ sư dùng đến vô số phương tiện cũng không ngoài việc dẫn dắt người học đạt đến tâm bình thường này. Vì thế, thiền không phải là một lãnh vực siêu nhiên vượt ngoài phạm trù ý thức thông thường như nhiều người lầm tưởng, mà trái lại chính là sự soi rọi, chiếu sáng những trạng thái tâm thức hết sức bình thường mà mỗi người chúng ta đều đã và đang trải qua trong cuộc sống thường ngày.