Một chuyến trở về

10/04/201311:51(Xem: 5655)
Một chuyến trở về

canhdep_hoaphuong1

MỘT CHUYẾN TRỞ VỀ

Lam Khê

---o0o---

Tôi ra đi rồi lại trở về. Hay nói khác đi là vừa trở về, tôi lại vội vã ra đi. Những chuyện đến đi như thế thường chưa bao giờ được tính toán trước. Về ý nghĩa thì không khác, khác chăng là qua cách nhìn cách nghĩ theo từng sự kiện đến đi trong suốt cuộc hành trình nhiều rong ruỗi của mình..

Tôi phải trở về Sài Gòn trên một chuyến bay. Đó là điều nằm ngoài dự đoán của mọi người. Những tưởng sự trở về sẽ kịp nhìn thấy Sư Bà trước khi người viên tịch, vậy mà mọi việc tệ hại hơn nhiều so với điều mình dự tính. Một mình trở vào Đằ Nẵng_ Suốt chiều hôm trước, quý thầy đã chật vật chạy tìm mua vé xe không được, bèn đưa tôi ra xa lộ ngồi chờ suốt hai tiếng mà chẳng biết xúi quẩy thế nào vẫn không có được một chuyến xe xuôi vào Nam. Đến tối một phật tử lại chở tôi ra sân bay Phú Bài hy vọng có vé chờ, cuối cùng thì đến sáng hôm sau tôi đành phải ngồi xe từ Huế ra sân bay Đằ Nẵng, với sự tận tình của Thầy Tuệ- nhờ một người cháu trong đó đặt mua vé giùm. Không thể nôn nóng hơn được, tôi chỉ còn biết niệm Phật và chờ cho thời gian qua mau để mình nhanh chóng trở về.

Khi đã chấp nhận với những gì xảy ra, lòng tôi trở nên thanh thản hơn và hướng mọi tầm nhìn vào cảnh vật bên ngoài như để tận hưởng những giây phút còn lại trên chuyến trở về bất thường có phần nhanh vội này. Trước mắt tôi lại ẩn hiện những dãy núi nhấp nhô xanh rì trong ánh nắng ban mai rực sáng. Rồi từng cánh đồng phố xá xóm làng, những thung lũng thẫm màu sương khói vụt qua nhanh chóng. Còn kia là bờ biển Lăng Cô nằm bên đèo Hải Vân thơ mộng như cuốn hút lòng người vào chỗ tận cùng mênh mông của trời đất. Bầu trời trong vắt, chỉ thỉnh thoảng xuất hiện vài gợn mây xám vẩn vơ. Dường như trời cũng chiều lòng người trở lại, không đượm buồn mà vẫn sâu lắng một màu khói biếc.

Ngồi chờ nơi sân bay suốt một ngày trong bầu trời đầy nắng nóng, -chả bù với mấy hôm trước mưa tầm tã, tôi vẫn không thể nào kiếm được chiếc vé bay trước lúc năm giờ chiều, dù được nhiều người giúp đở. Cảm giác đói mệt chỉ thoáng qua, sự mong đợi trở về cũng vơi nhẹ. Giờ nầy ở chùa có nhiều người đang trông chờ, còn tôi thì cứ bình thản ngồi đây ngắm nhìn dòng người qua lại trong thế chẳng đặng đừng. Người ta bảo trong cái rủi thường có cái may, chẳng biết lúc này tôi đang gặp may hay rủi, mà sao đoạn đường trở về của mình lại lắm nhiêu khê đến vậy. Thế là một lần nữa tôi lại vay thêm món nợ ân tình với xứ Huế- Ba năm trước, lần đầu tiên về quê sau bao nhiêu năm xa cách, tôi cũng chỉ ở được dăm bữa dự đám giỗ người bác dâu, rồi quay vào Sài Gòn ngay vì việc chùa. Lần này chắc mẩm sẽ được mục kì sở thị hết các Cung điện và Lăng Tẩm một thời vang bóng của đất thần kinh. Hoặc sẽ ngồi thuyền trên dòng sông Hương thơ mộng mà ngắm nhìn về núi Ngự qua làn sương đêm mờ ảo. Ấy vậy mà… vừa đặt chân đến Huế tôi lại phải ra đi. Lòng tôi đến với Huế sao mà vội vàng và xa cách đến thế. Hởi người con của xứ miền Trung sỏi đá.

Mang tâm trạng chờ đợi nhưng lòng tôi vẫn thư thả đến lạ. Cũng buồn vì không trở về sớm cho mình bớt ray rứt, cũng tiếc vì không đi cho hết chuyến hành trình còn dài ngày qua các tỉnh miền Trung khúc ruột. Nhưng mọi việc rồi cũng sẽ qua, điều đọng lại trong tôi là chút tình người nơi sân ga cuộc sống. Nơi mà tôi vừa trải qua, chỉ vừa cảm nhận được qua hơi thở mong manh của đời người. Tôi đối với quê hương mình chưa bao giờ trọn nghĩa vẹn tình, vậy mà xứ Huế lúc nào cũng rộng lòng đón nhận những đứa con đi xa trở về thăm, dù chỉ trong giây lát. Những người chưa từng quen biết, họ luôn sẵn lòng giúp đở chia sẻ với tôi, không hẳn vì cám cảnh kẻ lỡ đường lỡ bước, mà đó là chút nghĩa tình chân thật. Một sự nhiệt tình rất trong sáng của những con người được sinh ra và lớn lên ở chốn non nước hữu tình. Như Cô Nga- nhân viên bán vé, cháu Thầy Tuệ- niềm nở ra chào hỏi khi tôi đến, và cô nhân viên trong nhà hàng bụng mang dạ chửa khi tôi vào gọi dĩa cơm trắng với chén nước tương đã không lấy tiền lại năng nổ vào tận sân bay nhờ người quen kiếm vé cho tôi đi sớm. Người chạy xe ôm từ bến xe Đà Nẵng biết tôi phải đợi đến chiều cũng tận tình chỉ vẻ nhiều điều. Chú Phật tử đưa tôi đến sân bay Phú Bài, rồi chở về trong đêm tối mà vẫn hăm hở muốn cho tôi xem qua một vòng trong Thành Nội. Tất cả mọi người -kể cả quý thầy cô ở Huế- dù chỉ mới gặp lần đầu và chắc không ai biết tôi là người đồng hương, đều tận tình tìm mọi cách để tôi được nhanh chóng trở về. Huế vừa trải qua những ngày mưa dầm rồi lại nắng nóng. Tôi trở vào Nam mang theo cả khúc ly hương sầu tiễn biệt chan chứa tình người ý đạo.

Cuối cùng thì tôi cũng lên được chuyến bay để trở về, dù có hơi muộn màng, nhưng về được vẫn là hơn không. Tôi đang trở về hay một lần nữa lại rời bỏ vùng quê cha đất tổ. Ngày trước, đứa bé gái năm tuổi theo cha mẹ đi máy bay vào Nam đã khóc ròng vì sợ chứ nào có biết gì đâu- Bây giờ hơn nửa đời hư lại bước lên máy bay, coi như là lần đầu vậy. Chẳng còn đâu cái cảm giác sợ hãi của thời thơ dại, ý tưởng rời xa quê cũng không thật rõ ràng. Tâm hồn già cỗi theo tháng năm dài lưu lạc, vậy mà vẫn chưa đánh mất đi cái chất hồn quê còn hằn sâu đâu đó trong cõi lòng. Hơn thế nữa, một chút dư vị tình người mà tôi vừa đón nhận sẽ là món quà tinh thần đầy ý nghĩa trong những năm tháng còn lại. Và biết đâu chừng, cũng sẽ giúp tôi dứt ra được cái mặc cảm về một thân phận lưu lạc bỏ quên nguồn cội. Một chuyến đi xa không đơn thuần vì ham vui, để lúc quay về, đa mang thêm tâm trạng của kẻ thọ ân chưa một lần báo đáp. Một miền quê đã xa khuất nhiều năm trong trí nhớ, vẫn mãi mãi là khoảng trời riêng cho những gã cùng tử lang thang như tôi tỏ chút lòng hoài vọng trong thâm tình cố cựu chi giao.

Ngồi trên chuyến bay trở về, lòng tôi cứ dâng lên cái cảm giác nao nao thú vị lẫn bỡ ngỡ như người nhà quê lên tỉnh, mà chính mình cũng phải bật cười. Tôi không biết làm gì khác hơn là quay ra cửa sổ máy bay để ngắm nhìn trời xanh mây trắng trong buổi chiều tàn rực nắng. Bầu trời trong xanh toả sáng nằm bên dưới mấy vạt nắng vàng ươm, tợ như một dòng chảy pha lê khổng lồ trong suốt. Còn kia là những đám mây trắng có lúc quyện dày như bông tuyết, có nơi thì tản mác lơ lững với muôn hình lắm vẻ, thật chẳng khác nào bức tranh vân cẩu biến đổi khôn lường. Bên trong khoang máy bay tai tôi vẫn lắng nghe những âm thanh ồ ồ của động cơ, tiếng cô tiếp viên hướng dẫn việc mặc áo phao, cùng nhiều tiếng động lạ, cả khi máy bay lên xuống làm cho cơ bụng co thắt lại, và hai lỗ tai cứ lùng bùng. Nhưng tâm trí và ánh mắt tôi lúc này chỉ chú mục ra bên ngoài khung cửa kiếng. Từ trên độ cao chót vót, Tôi nhìn thấy hết những làng quê xa tít nơi phía chân trời, và thầm nghĩ đó cũng là một phần quê hương mình đấy. Nơi có bờ biển cát trắng nhô cao, có dòng sông hương êm đềm phẳng lặng sớm chiều mà khách nhàn du thích tìm về thưởng ngoạn. Nơi ấy có những đồi núi màu rêu xanh nhấp nhô hùng vĩ mang hồn sắc rất riêng của xứ kinh kỳ. Lúc này tất cả cảnh vật bỗng trở nên nhỏ nhoi, nhỏ đến mức cả miền quê bao la đều nằm gọn trong tầm mắt. Những ngôi nhà, những chiếc thuyền, cả dòng xe cộ ngược xuôi, các dòng chảy của biển cả sông hồ chỉ còn là những chấm phá nhỏ xíu in trên những tấm thảm xanh trải dài giữa không gian. Miền quê hương tôi đó, dù rất bé nhỏ lại gập ghềnh sỏi đá và luôn hứng chịu cảnh thiên tai bão lụt; Vậy mà ai đi xa cũng mong muốn được trở về. Về để lại ra đi, để đem nỗi nhớ thương kia dệt nên cho đời biết bao áng văn thơ ký sự thấm đẫm chất hồn quê hồn đất.

Rời chuyến bay đời thường, tôi lại bước vào những chuyến bay khác theo lộ trình của đời sống tu sĩ, mà chuyện tử sinh cơm áo đôi khi cũng làm vướng bận manh áo nâu sồng, chùn bước chân kẻ sĩ. Thế nhưng trên các ngã rẽ của cuộc đời, vẫn không thiếu những trang sách đạo tình để cho tôi được góp lòng mình trên đó gọi... là đền ơn tri ngộ với bạn đồng thanh, và cũng là báo đáp chút tình thâm với nơi mình đã cất tiếng khóc chào đời. Một mảnh tình quê, mấy lần xuôi ngược, ai đến ai đi rồi cũng sẽ có một ngày trở về với nơi sâu thẳm nhất của cội nguồn. Một dòng sông, mấy mươi lần rẽ sóng, điểm cuối cùng vẫn là biển cả mênh mông.

---o0o---

Trình bày:Nhị Tường

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
29/03/2013(Xem: 11605)
Chuyến hành hương Thái Lan và Nhật Bản bắt đầu từ ngày 22 tháng 10 đến mùng năm tháng 11 năm 2012, vào một sáng mùa thu với nắng vàng ươm và se se gió lạnh. Có ai biết con số ghi tên tham dự chuyến hành hương Nhật Bản này lên đến bao nhiêu không? Trước giờ khóa sổ vào đầu tháng 10 là hơn một trăm vị, sau rút lui từ từ để dừng lại con số 85 với 14 quốc gia trên thế giới. Một con số đáng ngại trong lịch sử đi hành hương của quý Thầy.
20/03/2013(Xem: 5104)
Tác giả sinh năm 1937, 63 tuổi, hiện cư ngụ tại Worcester, Massachusetts. Công việc: Technician hãng điện tử ở Mass. Sau đây là bút ký về California lãnh Giải Thưởng do ông Luận viết. Bài đã phổ biến trong sách VVNM 2001, nhưng “mất tích” trên Việt Báo Online. Xin mời cùng đọc lại. Hình trên, từ trái: Thượng Nghị Sĩ California, Ông Joe Dunn và các viên chức dân cử khai mạc cuộc họp mặt. Phía trái là nữ nghệ sĩ Kiều Chinh. Phía mặt là cô Leyna Nguyen của truyền hình KCAL9.
19/03/2013(Xem: 13576)
Tập truyện “ Làng Cũ - Người Xưa” của Tiền Vĩnh Lạc (Australia) .Sách dầy 216 trang, bìa cứng 4 màu. Bìa trước cảnh nhóm chợ chồm hỗm ở làng quê tỉnh Trà Vinh. Bìa sau hình xe thổ mộ, ngưa kéo, tác giả gọi là “xe kiếng”? Nội dung gồm nhiều truyện ngắn, hồi ký, tài liệu quý giá...cùng nhiều kinh nghiệm sống viết ra ý chừng muốn khuyên răn con cháu, sách đọc thú vị và cần thiết để làm tài liệu nghiên cứu. Sách không bán, in để tặng . Ai cần xin gọi 618-8932- 3912
10/03/2013(Xem: 4207)
Nước Xá Vệ có cô gái nghèo tên Nan Đà, thân thế cô độc thân, sống bằng nghề ăn xin. Bấy giờ, cô thấy các vị vua chúa, quan đại thần, trưởng giả cúng dường Phật và chư Tăng, cô tự nghĩ: “Ta mắc tội báo gì mà sinh vào nhà bần tiện như thế này nên không thể cúng dường đấng phước điền?”. Cô tự hối trách lấy mình.
04/03/2013(Xem: 8956)
Theo lời Hòa Thượng trưởng lão Huyền Tôn kể rằng, những ngày Hòa Thượng còn ở quê nhà, nơi Tổ đình Thiên Ấn – miền Trung, có một chú sa di tên Diệu Mãn. Thường nhật Chú chỉ làm công việc quét chùa. Chú người hiền lành, ít nói, tánh tình ngồ ngộ. Đặc biệt trong chúng, ai nhờ việc gì đều hoan hỷ làm ngay. Cũng chính vì vậy, chú thường bị quí sư huynh đệ la rầy, sao đang làm việc này lại bỏ đi làm việc kia… Tuy vậy, nhưng lúc nào chú cũng hoan hỷ, không ai thấy chú câu chấp việc gì bao giờ.
20/02/2013(Xem: 24015)
Những Câu Chuyện Linh Ứng về Ngài Địa Tạng Vương Bồ Tát (trọn bộ 03 tập) do HT Thích Như Điển dịch Việt: Năm 2007 khi chúng tôi đang nhập thất tại Úc Châu thì có một Phật Tử tên là Huỳnh Hiệp từ Hoa Kỳ có liên lạc qua bằng E-mail cho Thầy Hạnh Tấn và nhờ tôi phiên dịch tác phẩm "Những mẩu chuyện linh ứng của Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát tại Fuchù - Nhật Bản“ từ tiếng Nhật sang tiếng Việt. Tôi bảo cứ gởi một số chuyện tiêu biểu sang Úc, tôi dịch thử. Nếu đồng ý với cách dịch ấy thì tôi sẽ tiếp tục. Sau một tuần lễ, tôi gởi trở lại 3 chuyện đầu đã dịch của quyển một cho Phật Tử nầy và anh ta rất hoan hỷ và nhờ tôi dịch tiếp cho đến hết quyển sách. Tôi trả lời rằng: "Tôi rất sẵn sàng; nhưng tôi rất ít thì giờ; khi nào xong tôi chưa biết; nhưng tôi sẽ cố gắng. Đồng thời việc đánh máy sẽ giao cho các anh chị em thực hiện". Cầm quyển sách trên tay độ 400 trang A4 thấy cũng hơi nhiều; nhưng thôi, cứ cố gắng vậy. Ông bà mình thường nói: „Kiến tha lâu đầy tổ“ quả câu nầy chẳng sai chút nào.
01/02/2013(Xem: 10509)
Tuổi Hồng Con Gái là tác phẩm đầu đời của tôi được viết vào năm 1980 cùng thời gian với tấm ảnh ngoài bìa sách. Tuy lúc đó sống ngay trên quê hương Việt Nam với dân số đông đảo mấy chục triệu người nhưng xung quanh tôi, vì hoàn cảnh hết sức đặc biệt, tôi không có lấy một người bạn, một người thân để tâm tình những lúc vui, buồn trong cuộc sống.
26/01/2013(Xem: 22090)
Cận cảnh tượng cụ Nguyễn Du bằng gỗ gù hương khủng ở Việt Nam
01/01/2013(Xem: 7407)
Ngày tôi còn học Y Khoa, ở khu Sản khoa thời đó ở miền Nam Việt Nam chỉ cho phép làm “abortion therapeutique”, với chữ ký cuả 3 vị Thầy đồng ý phải bỏ thai nhi để cứu mạng sản phụ. Và đây là chuyện rắc rối mà tôi đã gặp phải sau 1975 Anh chị M., đối với tôi là một cặp vợ chồng có tư cách rất đáng qúy, tôi luôn xem hai người như anh chị ruột của mình. Anh M., một Phật tử thuần thành, lớn hơn tôi 10 tuổi, tốt nghiệp đại học bên Pháp, là một người sống nhiệt thành vì lý tưởng, lập gia đình trễ, từng giữ chức vụ khá lớn thời Việt Nam Cộng Hoà. Năm 1980, khi mới ở tù cộng sản ra, tôi là người đưa chị M. đến nhà thương sanh con gái đầu lòng – cháu Phương Thanh (tên đã được thay đổi, không phải tên thật)
28/11/2012(Xem: 10205)
Nam Tuyền chém mèo (Nam Tuyền trảm miêu)[1]. 南泉斬猫 Bản tắc: Hòa thượng Nam Tuyền[2] nhân việc các học tăng ở đông đường và tây đường cứ tranh cãi nhau vì một con mèo, mới nắm ngay nó tại chỗ và giơ lên, nói: -Nếu có ai trong các ngươi nói được một câu nào, ta sẽ tha mạng con mèo. Bằng không, ta sẽ chém nó cho coi. Chư tăng không ai đáp lại được. Rốt cục, không còn cách nào, Nam Tuyền chém con mèo. Tôi hôm đó, đại đệ tử của ông là Triệu Châu ở ngoài về. Nam Tuyền đem chuyện vừa xãy ra kể lại. Lúc đó, Triệu Châu mới tháo đôi dép cỏ mang dưới chân đội lên đầu và ra khỏi phòng. Nam Tuyền thấy thế mới bảo: -Nếu ngươi lúc đó có mặt thì nhất định con mèo không đến nổi chết.