Thằng Cu Róm

06/12/201406:37(Xem: 4851)
Thằng Cu Róm

Thằng Cu Róm

 

 Ba Noi Hoa Lan

 

T

huở nhỏ tôi mồ côi bố sớm, ở vào cái tuổi con nít vừa mới chập chững biết đi chưa nói được câu gọi bố lần đầu, bố tôi đã đi về miền cát bụi. Sự ra đi của ông đột ngột quá, còn trẻ quá mới 27 tuổi đầu làm sao không để lại bao luyến tiếc cho người ở lại. Dĩ nhiên mẹ tôi là người chịu nhiều đau đớn nhất, mới lấy chồng được hai năm cộng thêm đời chiến binh nên chỉ ở gần chồng vỏn vẹn có một tháng là nhiều. Con thơ còn bế ngửa trên tay, đầu quấn khăn tang người chồng yêu quí, đã phải xách tay nải leo lên chiếc thuyền viễn xứ nhổ neo lên đường như một bài hát nào đó.

Thế rồi gia đình tôi định cư tại bến bờ bình yên của một vùng biển rì rào cát trắng, kể từ đó cuộc đời tôi gắn liền với một nhân vật vừa mang hình ảnh mẹ hiền vừa là bà nội.

Bà Nội tôi sinh năm nào chẳng ai trong gia đình nhớ đến, chỉ riêng cô cháu gái bé nhỏ nhớ được năm sinh của bà là cùng năm với nhà văn Khái Hưng trong Tự Lực Văn Đoàn. Nghĩa là từ thời mi-nớp xăng cà cộ của thế kỷ mười chín, cái thời thiên hạ còn nhuộm răng đen hạt huyền, con gái không được quyền đi học. Vì các cụ nghĩ cho con gái biết chữ chỉ tổ đi viết thư cho trai mà thôi.

Lỡ sinh ra trong thời kỳ Nửa Chừng Xuân và Đoạn Tuyệt ấy, bà nội tôi không biết đọc biết viết. Ấy thế mà bao nhiêu ca dao tục ngữ, truyện Kiều, Lục Vân Tiên... cụ thuộc vanh vách. Tôi nhớ những buổi trưa hè oi ả, hai bà cháu một già một trẻ nằm trên tấm đi-văng bằng gỗ lim lau sạch bóng, vắt chân chữ Ngũ đánh củ khoai lang, ngâm nga những câu tình tự dân tộc như:

Sự đời như cái Lá Đa.

Đen như mõm chó chém cha sự đời.

Thuở nhỏ với đầu óc non nớt làm sao tôi hiểu được ý nghĩa sâu xa của hai câu ấy, đến cái Lá Đa còn chưa biết hình dáng ra sao nữa là.

Bà nội tôi thương bố tôi lắm, chắc hợp tuổi và tính tình hòa nhã với mọi người, nhất là hiếu thuận đặc biệt với mẹ. Bà cụ định gửi gấm tuổi già của mình vào gia đình người con trai yêu quí này, nhưng trời đất quá oái oăm đã cướp mất đi nguồn hy vọng thật bình thường của cụ. Thế là tôi đương nhiên được nhận hết tất cả tình thương của bà nội đổ dồn vào như thác lũ triều dâng, không còn một khoảng trống nào cho các cháu nội khác của cụ. Tấn bi kịch bắt đầu từ đấy các bạn ạ!

Luận về chữ Hiếu, tôi phải kể câu chuyện lạ lùng về cái tình mẫu tử giữa bà tôi và cậu con trai cả của cụ. Bà tôi sinh thời có bốn người con, hai trai hai gái, cách nhau mỗi người đúng bốn năm. Hai cô con gái vừa lớn đã gả chồng tỉnh xa, xem như thuộc về gia đình khác rồi. Bà tôi chỉ hợp với bố tôi và khắc tinh với cậu cả.

Bà hay gọi bác tôi là thằng Cu Róm, vì lúc nhỏ bác hay bắt nạt bố tôi. Mỗi sáng đi học mẹ thường cho mỗi cậu 5 xu, bố tôi chỉ ăn 3 xu, còn 2 xu cất về trả mẹ, phần bác tôi chẳng những xơi hết, còn đòi tẩn ông em để lấy thêm 2 xu nữa. Chả trách gì bà mẹ thiên vị chỉ thương ông em thôi.

Nếu nói câu

Thương ai thương cả đường đi lối về.

Ghét ai ghét cả tông ti họ hàng.

rất phù hợp với tâm trạng của bà tôi. Bà cụ thương bố tôi rồi, không cần biết phải trái gì, cứ một mực thương tiếp đến đời con của ông nữa. Trong khi ấy, trừ ông anh họ con người vợ trước của bác tôi ra, bà cụ thường lạnh nhạt với những người con của bác gái tôi sau này. Như vậy tạo ra một sự bất hòa rất lớn trong gia đình, sau này chính bà tôi là nạn nhân nhận tất cả các quả do cái nhân thương yêu không đồng đều ấy.

Trời rất oái oăm, khi bà tôi cứ một mực đòi sống với gia đình bố tôi, không muốn nhìn mặt cái thằng Cu Róm ấy. Bố tôi lại ra đi sớm, bà cụ vẫn cương quyết một lòng theo tôi, xem con dâu như con gái. Nhiều lúc bác tôi cũng buồn, ông bảo chắc ông không phải là con đẻ, bà cụ nhặt được ở bụi tre vườn chuối nào.

Lúc về già, bà tôi hay vào Đền lên Đồng của cô Nga, nghe tiếng hát Cung Văn, xem nhảy múa giải sầu. Bác tôi mời mãi, cực chẳng đã vì tuổi già sức yếu cụ mới vào Sài Gòn rồi theo bác tôi sang Mỹ.

Bẵng đi gần mười lăm năm nơi xứ người, bà tôi sống như một cái bóng trong gia đình bác tôi. Các cháu nội và cô con dâu bên cạnh oán hận bà, vì bà lúc nào cũng chỉ nhớ các cháu ở phương xa, ý muốn ám chỉ tôi và ông anh họ bên Đức.

Vậy ai đã chăm sóc cơm nước, tắm rửa cho bà nội tôi sống đến 92 tuổi, đó chính là thằng Cu Róm của cụ, người con cụ ghét cay ghét đắng, không muốn nhìn mặt.

Ngày tôi sang Mỹ thăm Bà Nội, trời ơi cụ vui mừng khôn xiết hai bà cháu cứ quấn quít bên nhau không nỡ cách xa. Mười năm trước cụ đã may sẵn quần áo để dành cho hậu sự, nhưng chờ hoài chờ mãi chẳng thấy động tĩnh gì chỉ tổ làm mồi cho mấy con mối gậm nhấm mà thôi. Tôi được giao trọng trách may lại cho bà chiếc quần trắng đã bị cắn thủng nhiều lỗ để bà yên tâm chờ tiếp.

Dĩ nhiên tôi muốn rủ bác tôi cùng đi đến nơi đô hội như Las Vegas vài ngày cho biết thế nào là văn minh thế giới, thế nào là sòng bài quốc tế móc túi những kẻ bị con ma cờ bạc hớp hồn. Nhưng bác tôi từ chối thẳng:

Cháu đi một mình đi! Bác mà đi ai lo cho bà, để bà chết đói à!

Chỉ nghĩ đến cảnh một người con trai trên bảy mươi tuổi, ngày ba bữa đút cơm nuôi mẹ, chưa kể tắm rửa, lau chùi. Không phải một bữa hay hai ba ngày, mà ròng rã suốt mười lăm năm trời.

Lúc kể chuyện tại sao bà mất, bác tôi cười hề hề bảo:

-  Tao đang đút cơm cho bà, chắc bà cụ chán sống, nên không buồn nuốt, nghẹn cổ rồi đi luôn.

Tôi nghĩ bác tôi phải là một vị Bồ Tát hóa thân, lúc sống không ai thương sót, từ mẹ đến vợ con ai cũng muốn xa lánh, vì bác tôi không biết biểu lộ tình cảm, lúc nào cũng khoác trên thân cái vỏ khó ưa. Bây giờ bác đã ra đi rồi, không biết ngoài tôi có còn ai thương bác nữa không? Chắc phải có rồi, các con bác rất đông, các anh chị trong bụng rất thương bố, nhưng lúc sinh thời gặp ông bố khó tính quá, không ai dám lại gần và ông cũng không muốn cho ai lại gần. Nên sự thể mới xảy ra như vậy thôi.

Nếu đi sâu vào thâm cung bí sử trong gia đình tôi, phải nói là rắc rối tơ vò. Bà nội tôi tất cả đều hoàn hảo, không chê được vào đâu, chỉ bị một điểm không phải là tính thiên vị. Này nhé! Con yêu con ghét, con dâu yêu con dâu ghét, cháu thương nhiều cháu thương ít, chỉ chừng ấy thôi mà ân oán giang hồ kéo đến mấy đời vẫn chưa dứt.

Bác gái tôi lúc về làm dâu hãy còn quá trẻ, mới 18 tuổi đã làm mẹ kế ông anh họ tôi 12 tuổi. Bà nội tôi chỉ thương con dâu chín chắn, biết tằn tiện và chí thú làm ăn, cỡ như mẹ tôi vậy đó. Bác gái tôi làm sao thích hợp được với môi trường, đâm ra phiền não, có cảm giác bị hắt hủi, ghét bỏ.

Tôi trái lại rất thích bà bác chịu chơi này, tối ngày hai bác cháu cứ dẫn nhau đi xem cinéma, ăn quà và mướn truyện Quỳnh Dao đọc lén. Bác trai tôi vớ được truyện sẽ xé ngay bảo: Đàn bà con gái không được xem tiểu thuyết nhảm nhí, mất thì giờ.

Thường là bác gái tôi xem trước, chuyền sang cho tôi và cuối cùng đến tay cô con gái lớn của bác. Hôm nào chị nhỏ để quên không giấu dưới nệm ghế sa-lông là bác gái tôi phải mất thêm món tiền đền quyển truyện.

Cả thời thơ ấu, tôi gần gũi bác gái nhiều hơn cả mẹ, vì mẹ tôi đi làm cả ngày, về nhà hãy để mẹ nghỉ ngơi, đừng nhõng nhẽo sẽ bị chổi phất trần cho vào mông.

Bác có một trí nhớ dai rất đáng ngại, bao nhiêu thi phú chỉ cần đọc qua vài lần là thuộc vanh vách. Bác gái tôi sản xuất rất mau lẹ, ban đầu là ba năm hai đứa, sau mỗi năm một đứa, cuối cùng đầu năm con trai cuối năm con gái. Các cụ bảo cứ đẻ chừng nào hết trứng thì thôi. Nên tài năng ca hát, ngâm thơ, ru con bác có dịp trổ tài. Tôi chịu nhiều ảnh hưởng của nền văn hóa bác gái tôi.

Nếu ru con bằng những bài thơ cổ, nó vẫn chê không chịu nín khóc. Bác chế nhạc giễu cho nó cười:

Anh tán con tiều con hươu khiến cho lòng em siêu. Trời ơi đất hỡi! Đau đớn thay con người nói điêu. Nhưng xét ra là anh nói liều…

Có thể nói mối quan hệ giữa bác gái và tôi như một cặp tri kỷ tri âm so le không đều. Với chồng mình, bác không có sự truyền thông, xa nhau thì thôi, chứ gặp mặt là gừ gừ, cãi bậy chọc ổng nổi nóng là bị thụi ngay. Với mẹ chồng thì hoàn toàn đông lạnh rồi, con còn bé quá chưa tâm sự được. Rốt cuộc chỉ còn cô cháu nhỏ, nhiều lúc cũng thấy ghét vì tính nhõng nhẽo ỷ mình được bà thương rồi làm nũng.

Sau này gặp lại nhau bên Mỹ, bác cháu vẫn tương đắc, bác tính tình rộng rãi, chiêu đãi cô cháu gái rất hậu hỹ.

Nhưng đám mây mù của thời dĩ vãng vẫn lẩn quẩn đâu đây. Câu chuyện hồi nhỏ tham ăn của tôi đã được nhắc tới. Chỉ vì một trái Na thôi, trái Mãng Cầu đó các bạn ạ. Thật là:

Miếng ăn là miếng tồi tàn.

Mất ăn một miếng lộn gan đằng đầu.

Hai bà cháu tôi đã xử sự không phải với các con của bác, để họ mang mãi hình ảnh cháu thương cháu ghét đến ngày nay.

 Bây giờ các con của bác đã thành đạt giàu sang nơi xứ người. Cho dù tôi có muốn chuộc lỗi bằng cả chục quả Na, chưa chắc họ đã vui bằng một góc quả Na ngày xưa.

 

Hoa Lan.

Mùa xuân 2005.

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
29/03/2013(Xem: 11509)
Chuyến hành hương Thái Lan và Nhật Bản bắt đầu từ ngày 22 tháng 10 đến mùng năm tháng 11 năm 2012, vào một sáng mùa thu với nắng vàng ươm và se se gió lạnh. Có ai biết con số ghi tên tham dự chuyến hành hương Nhật Bản này lên đến bao nhiêu không? Trước giờ khóa sổ vào đầu tháng 10 là hơn một trăm vị, sau rút lui từ từ để dừng lại con số 85 với 14 quốc gia trên thế giới. Một con số đáng ngại trong lịch sử đi hành hương của quý Thầy.
20/03/2013(Xem: 5050)
Tác giả sinh năm 1937, 63 tuổi, hiện cư ngụ tại Worcester, Massachusetts. Công việc: Technician hãng điện tử ở Mass. Sau đây là bút ký về California lãnh Giải Thưởng do ông Luận viết. Bài đã phổ biến trong sách VVNM 2001, nhưng “mất tích” trên Việt Báo Online. Xin mời cùng đọc lại. Hình trên, từ trái: Thượng Nghị Sĩ California, Ông Joe Dunn và các viên chức dân cử khai mạc cuộc họp mặt. Phía trái là nữ nghệ sĩ Kiều Chinh. Phía mặt là cô Leyna Nguyen của truyền hình KCAL9.
19/03/2013(Xem: 13383)
Tập truyện “ Làng Cũ - Người Xưa” của Tiền Vĩnh Lạc (Australia) .Sách dầy 216 trang, bìa cứng 4 màu. Bìa trước cảnh nhóm chợ chồm hỗm ở làng quê tỉnh Trà Vinh. Bìa sau hình xe thổ mộ, ngưa kéo, tác giả gọi là “xe kiếng”? Nội dung gồm nhiều truyện ngắn, hồi ký, tài liệu quý giá...cùng nhiều kinh nghiệm sống viết ra ý chừng muốn khuyên răn con cháu, sách đọc thú vị và cần thiết để làm tài liệu nghiên cứu. Sách không bán, in để tặng . Ai cần xin gọi 618-8932- 3912
10/03/2013(Xem: 4030)
Nước Xá Vệ có cô gái nghèo tên Nan Đà, thân thế cô độc thân, sống bằng nghề ăn xin. Bấy giờ, cô thấy các vị vua chúa, quan đại thần, trưởng giả cúng dường Phật và chư Tăng, cô tự nghĩ: “Ta mắc tội báo gì mà sinh vào nhà bần tiện như thế này nên không thể cúng dường đấng phước điền?”. Cô tự hối trách lấy mình.
04/03/2013(Xem: 8792)
Theo lời Hòa Thượng trưởng lão Huyền Tôn kể rằng, những ngày Hòa Thượng còn ở quê nhà, nơi Tổ đình Thiên Ấn – miền Trung, có một chú sa di tên Diệu Mãn. Thường nhật Chú chỉ làm công việc quét chùa. Chú người hiền lành, ít nói, tánh tình ngồ ngộ. Đặc biệt trong chúng, ai nhờ việc gì đều hoan hỷ làm ngay. Cũng chính vì vậy, chú thường bị quí sư huynh đệ la rầy, sao đang làm việc này lại bỏ đi làm việc kia… Tuy vậy, nhưng lúc nào chú cũng hoan hỷ, không ai thấy chú câu chấp việc gì bao giờ.
20/02/2013(Xem: 23812)
Những Câu Chuyện Linh Ứng về Ngài Địa Tạng Vương Bồ Tát (trọn bộ 03 tập) do HT Thích Như Điển dịch Việt: Năm 2007 khi chúng tôi đang nhập thất tại Úc Châu thì có một Phật Tử tên là Huỳnh Hiệp từ Hoa Kỳ có liên lạc qua bằng E-mail cho Thầy Hạnh Tấn và nhờ tôi phiên dịch tác phẩm "Những mẩu chuyện linh ứng của Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát tại Fuchù - Nhật Bản“ từ tiếng Nhật sang tiếng Việt. Tôi bảo cứ gởi một số chuyện tiêu biểu sang Úc, tôi dịch thử. Nếu đồng ý với cách dịch ấy thì tôi sẽ tiếp tục. Sau một tuần lễ, tôi gởi trở lại 3 chuyện đầu đã dịch của quyển một cho Phật Tử nầy và anh ta rất hoan hỷ và nhờ tôi dịch tiếp cho đến hết quyển sách. Tôi trả lời rằng: "Tôi rất sẵn sàng; nhưng tôi rất ít thì giờ; khi nào xong tôi chưa biết; nhưng tôi sẽ cố gắng. Đồng thời việc đánh máy sẽ giao cho các anh chị em thực hiện". Cầm quyển sách trên tay độ 400 trang A4 thấy cũng hơi nhiều; nhưng thôi, cứ cố gắng vậy. Ông bà mình thường nói: „Kiến tha lâu đầy tổ“ quả câu nầy chẳng sai chút nào.
01/02/2013(Xem: 10474)
Tuổi Hồng Con Gái là tác phẩm đầu đời của tôi được viết vào năm 1980 cùng thời gian với tấm ảnh ngoài bìa sách. Tuy lúc đó sống ngay trên quê hương Việt Nam với dân số đông đảo mấy chục triệu người nhưng xung quanh tôi, vì hoàn cảnh hết sức đặc biệt, tôi không có lấy một người bạn, một người thân để tâm tình những lúc vui, buồn trong cuộc sống.
26/01/2013(Xem: 21824)
Cận cảnh tượng cụ Nguyễn Du bằng gỗ gù hương khủng ở Việt Nam
01/01/2013(Xem: 7222)
Ngày tôi còn học Y Khoa, ở khu Sản khoa thời đó ở miền Nam Việt Nam chỉ cho phép làm “abortion therapeutique”, với chữ ký cuả 3 vị Thầy đồng ý phải bỏ thai nhi để cứu mạng sản phụ. Và đây là chuyện rắc rối mà tôi đã gặp phải sau 1975 Anh chị M., đối với tôi là một cặp vợ chồng có tư cách rất đáng qúy, tôi luôn xem hai người như anh chị ruột của mình. Anh M., một Phật tử thuần thành, lớn hơn tôi 10 tuổi, tốt nghiệp đại học bên Pháp, là một người sống nhiệt thành vì lý tưởng, lập gia đình trễ, từng giữ chức vụ khá lớn thời Việt Nam Cộng Hoà. Năm 1980, khi mới ở tù cộng sản ra, tôi là người đưa chị M. đến nhà thương sanh con gái đầu lòng – cháu Phương Thanh (tên đã được thay đổi, không phải tên thật)
28/11/2012(Xem: 10157)
Nam Tuyền chém mèo (Nam Tuyền trảm miêu)[1]. 南泉斬猫 Bản tắc: Hòa thượng Nam Tuyền[2] nhân việc các học tăng ở đông đường và tây đường cứ tranh cãi nhau vì một con mèo, mới nắm ngay nó tại chỗ và giơ lên, nói: -Nếu có ai trong các ngươi nói được một câu nào, ta sẽ tha mạng con mèo. Bằng không, ta sẽ chém nó cho coi. Chư tăng không ai đáp lại được. Rốt cục, không còn cách nào, Nam Tuyền chém con mèo. Tôi hôm đó, đại đệ tử của ông là Triệu Châu ở ngoài về. Nam Tuyền đem chuyện vừa xãy ra kể lại. Lúc đó, Triệu Châu mới tháo đôi dép cỏ mang dưới chân đội lên đầu và ra khỏi phòng. Nam Tuyền thấy thế mới bảo: -Nếu ngươi lúc đó có mặt thì nhất định con mèo không đến nổi chết.