49. CẢM BẠT

19/03/201408:37(Xem: 39014)
49. CẢM BẠT
blank

CẢM BẠT
Một Cuộc Đời
Một Vầng Nhật Nguyệt


Viết xong cuộc đời ngài

Tôi bần thần, dã dượi

Sinh lực tổn hao

Như thân cây không còn nhựa luyện

Như sức ngựa đường dài 

Hoàn tất cuộc lữ trình lên đến đỉnh đồi cao

Ôi! Tôi đã chạy đuổi chiêm bao

Muốn vói bắt mảnh trăng trời nguyên thuỷ

Tôi đã gục khóc

Trên từng viên gạch vỡ

Nơi những dấu tích điêu tàn, hoang phế cổ xưa

Trên những di chỉ bia văn rêu phủ, gió lùa

Nơi điện đài còn trơ trầm hương tín mộ

Trên những trang kinh kiến sâu loang lổ

Lửa vô thường cháy xém chữ câu

Tôi đã đi theo từng đốm nắng không màu

Mong vẽ lại ánh triêu dương chánh pháp

Tôi bất lực đi qua nhiều hoang mạc

Khói bụi thời gian, phế tích tàn tro

Tôi đứng bên này sông hớt hãi gọi đò

Đồng vọng hai bờ, hư vô xào xạc

Bút mỏi

Tay run

Tứ cùn

Chữ nhạt

Cô liêu tháng ngày góc núi ánh trăng suông

Gió phủi qua song trăm chuyện vui buồn

Để từng hơi thở theo dấu chân Từ Phụ

Người đã như cánh chim thiêng tiêu dao du ngoài ba cõi

Rơi rớt nhụy vàng để lại thế gian hương

Vô tích, vô tăm sinh tử mộng thường

Vô khứ, vô lai - hiện thân tuyệt đối

Tôi cúi xuống

Nghe thức tri già cỗi

Chắp vá từng trang, thêu dệt một chân dung

Đất Ấn linh thiêng, lưu bóng đức Đại Hùng

Mỗi cọng cỏ vàng

Mỗi cành cây khô

Cũng trở nên thân thuộc

Dốc đá xám

Cổng rêu đen - dấu khói sương thuở trước

Cũng là hóa thân của sử lịch ngàn năm

Ôi từng đêm, từng đêm

Từng câu chữ âm thầm

Chợt hiện linh hồn biết vui, biết khổ

Biết hỷ hoan, biết suy tư, trăn trở

Biết lội ngược dòng tìm giọt nước nguồn xanh

Nó cũng biết chán chê dục vọng xây thành

Nhốt kín nhân tâm, bủa tròng nô lệ

Dấu lửng, dấu than hàng hàng kể lể

Nói với chúng sanh nguyên nhân khổ vì đâu

Tái hiện con sông, bắt những nhịp cầu

Bằng cọng lau mềm hôm qua sương đọng

Một thoáng tinh anh, một trời viễn mộng

Hiu hắt cõi miền cánh vạc vỗ tịch liêu

Tuyết đổ non cao, lạnh buốt chợ chiều

Nhân thế căm căm lối về vô định

Sống chết trầm kha, sinh luân lão bệnh

Ngơ ngác tầm cầu, bầy cú rúc thâu canh

Huyền sử đi đêm đội bóng lữ hành

Bên vực thẳm đốm lửa người leo lét

Tuyệt vọng

Gọi nhau

Hãi hùng

Bi thiết

Có ai nghe tiếng trống pháp còn vang

Bao lời kinh thiêng, ma quỷ bàng hoàng

Vọng ba cõi, xuyên sâu vào địa ngục

Địa ngục của lòng người

Địa ngục của thức tri tối tăm 

Và của sân tham, ngu dốt

Đang đốt cháy bình nguyên, sông núi, ao hồ

Đốt cháy nương vườn, cổ tích, tuổi thơ

Nhân ái, nhân văn không còn ô-xy để thở

Đức lý tan hoang, phận người xiêu đổ

Lây lất đi về trong bóng vô minh

Vì đại bi mà đức Phật dặm trình

Suốt bốn mươi lăm năm đầu trần chân đất

Lộc Giả chuyển luân, tuyên ngôn sự thật

Độ năm thầy Kiều-trần-như, Thích tử đầu tiên

Rồi Yasa cùng năm mươi bốn thân hữu thiện hiền

Giáo hội ra đời gồm sáu mươi Như Lai sứ giả

Mỗi người hãy đi mỗi phương, đừng đi chung ngã

Vì an lạc, hạnh phúc cho nhân loại, chư thiên

Đập vỡ tín lý khắt khe, tín ngưỡng cổ truyền

Hạ bệ thượng đế, thần linh khói hương nghi ngút

Phá bỏ kỳ thị giai cấp, hàng rào tủi nhục

Mang thông điệp tự do, giải thoát cho đời

Tuệ quang minh chiếu tỏ trần khơi

Nguồn thánh thuỷ chảy tràn miền cỏ cây khô khát

Cái kiến, con sâu mừng vui rức hạt

Đất cỗi cằn nức nhựa uyên nguyên

Phố thị, làng quê, đền miếu, chợ triền

Quý tộc, nô tỳ uống chung bầu sữa pháp

Hoa nở

Chim reo

Rừng ca

Suối hát

Triệu triệu năm duyên phúc một lần

Triệu triệu tử sinh, đại ngộ sát-na tâm

Khoảnh khắc bất diệt

Vô lượng a-tăng-kỳ không bao giờ trở lại...

Lạy Phật

Bút của con cùng với văn chương ngu dại

Dám đặc tả đời ngài cùng với công hạnh trăng sao

Câu chữ phàm phu, cảm xúc tuôn trào

Theo dấu bụi mờ, nhặt sử kinh lưu lạc

Đốt trái tim làm đèn soi bờ giác

Khái niệm chất chồng, “đất thực” tuyết sương che

Hướng tâm sai là phiền não kết bè

Một niệm khởi trùng trùng duyên sanh khởi

Đã thấy rõ sự thật

Nhưng vẫn còn lầm lỗi

Bởi kiết sử sâu dày

Từ vô thức bước ra

Đã bao nhiêu năm

Lăng xăng đọc sách, uống trà

Làm chuyện thanh cao giảng kinh, dạy pháp

Viết truyện, làm thơ, triết văn uyên bác

Đại sự càng nhiều, bản ngã càng to

Vô tác, vô hành giảng nói hay ho

Vô cấu, vô vi cao ngôn thiện thuyết

Dao hai lưỡi ẩn sau “cái biết”

Đại dụng mơ hồ, chệch hướng vạn trùng mê

Chỉ hai nẻo thôi: Một phiền não, một bồ-đề

Đâu dám thõng tay mà ngao du giữa chợ

Nào khoác áo vị tha

Nào đóng trò cứu độ

Chốn ngũ trần đâu dễ gót thong dong

Tôi đã từng thấy

Viện lớn, tượng to bôi đỏ, phết hồng

Tín ngưỡng bán mua, thần linh đổi chác

Thiện tín chợ đông, trầm hương thơm ngát

Mặc cả thiệt hơn, lạy lục, cầu xin

Quán hàng bày ra, quảng cáo đức tin

Ma quỷ vỗ tay, ăn mừng mở tiệc

Chiêu phát triển, chiêu văn minh, hội nhập

Tiếp thị, tuyên truyền, kỷ lục thi đua

Bắc nam đông tây hí hửng tiền chùa

Xả rác bụi dục tham

Xả kiêu căng, hợm hĩ

nh

Ô nhiễm tinh thần, ô nhiễm sử kinh

Đức Phật ngồi cao

Thương xót sinh linh

Tứ đế thắp đèn 

Giữa đêm đen thảm nạn

“Sự sống đang là...”

Dành cho người mắt sáng

Tự thức, tự tri gậy chống lên đường

Tuệ giác tinh minh xóa lớp khói sương

Trả chân thực

Cho tự mình muôn thuở

Vọng tưởng, si mê

Không làm gì được nữa

Phiền não, khổ đau tự diệt, tự tan

“Thấy rõ” rồi mới biết sống đàng hoàng

Điều chỉnh đúng từng hành vi, cử chỉ

Mỗi niệm khởi không ở ngoài thiện mỹ

Mỗi tác duyên

Chân lý vận hành theo

Nặng nề vô cùng là bản ngã buộc đeo

Phải thấy chúng trong từng thức tri, cảm thọ

Mặt nạ “cái ta” đánh lừa bao độ

Giác ngộ thì “nguyên con” nhưng kiết sử phải đoạn dần

Thường trực lắng nghe như thực như chân

Thì phiền não không phan duyên dấy khởi

Niệm niệm bèo rong bập bềnh trôi nổi

Thả theo dòng 

Nhìn ngắm đốm hoa xao

“Thấy pháp” rồi mới lên bến, chống sào

Mới tu tập nhẹ nhàng 

Mới như thực kiến và tư duy chơn chánh

Nếu chưa thấy pháp

Dù nghiêm tu công hạnh

Cũng tựa như nấu sạn muốn thành cơm

Cũng tựa như dã tràng xe cát biển đông

Muốn nhặt bóng mình

Muốn lưu dấu huân tu

Giữa dòng cuồng lưu chảy xiết

Cát vỡ

Đá tan

Hư vô

Hủy diệt

Mộng trùng trùng

Ngộp chết giữa bờ mê

Quanh quẩn trả vay, nhân quả ê chề

Lượm phước báu nhân thiên

Ủi an đời bèo bọt

Thật sự giải thoát thì “không có ta-giải-thoát”

Tự không rỗng trong ngoài

Chẳng dính mắc tế vi

Gọi là người, là thánh, cứ tuỳ

Sát-na một, pháp thung dung tự tại

Đại dụng trong tay, nụ cười tiêu sái

Muôn việc như không, quyền biến như không

Và đến lúc này mới nói chuyện vào dòng

Pháp cứu độ cũng là duyên cứu độ

Tứ vô lượng tâm bèn tuỳ nghi dạo phố

Thăm xóm làng, bình bát xin ăn

Đến lúc này mới dám gọi sa-môn

Là Thích tử, là tỳ-khưu không thấy lòng hổ thẹn

Kính lạy Phật

Từ chân dung thánh điển

Nghĩa lý, chữ câu đã mã hóa không môn

Gần ba nghìn năm chẳng có lối mòn

Giác niệm là bước đi

Giác niệm là cõi về không khác

Trọn vẹn từng hơi thở

Trọn vẹn từng thức tri, buồn vui, khổ lạc

Cùng với bốn mùa mưa nắng, gió sương

Định luật tâm, định luật pháp thị thường

Nhật nguyệt, tinh hà cùng chung vận hoá

Li ti tế bào, diệt sinh vô ngã

Tất thảy đều chu toàn trong mỗi khắc phục sinh

Mỗi mỗi khí, thời, vận, số quân bình

Là vĩnh cửu đủ đầy trong từng vi trần dịch biến

Kính lạy Phật

Tự ngàn xưa hiển hiện

Đang ở trong con vô tận phút giây này

Pháp huy hoàng

Nhật nguyệt rạng trời mây

Soi bóng chữ

Qua sông

Hy vọng

Vẫn còn nguyên chân diện mục!

Colombo – Sri Lanka

12/2013

Minh Đức Triều Tâm Ảnh

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
04/10/2010(Xem: 4873)
Thôi Hộ, một danh sĩ đời nhà Đường (618-907), nhân dự hội Đạp Thanh đến Đào Hoa Trang, gõ cửa một nhà xin được giải khát. Một thiếu nữ đứng thập thò bên cửa...
02/10/2010(Xem: 4447)
Một đêm nọ, sư cụ nằm mộng thấy một người đàn bà dắt năm đứa con nhỏ đến trước mặt mình rồi vái lấy vái để, miệng nói: "Xin cứu mạng! Xin cứu mạng!". Sư hỏi người đàn bà...
30/09/2010(Xem: 14428)
Chúng sanh bị đọa địa ngục, đó là chúng sanh tâm bị đọa lạc vào địa ngục tham, sân, si phiền não. Muốn giải phóng chúng sanh tâm, phải dùng tự tánh Địa Tạng của chính mình.
27/09/2010(Xem: 8884)
Đức Địa Tạng là một vị đã chứng bực Đẳng Giác trải đến vô lượng A Tăng Kỳ kiếp rồi. Ngài có lời đại nguyện rằng: Nếu Ngài chưa độ hết chúng sanh, thì Ngài không chứng quả Bồ Đề, và nếu sự thọ khổ trong địa ngục hãy còn, thì Ngài thề không chịu thành Phật. Do cái bổn nguyện ấy, nên Ngài phân thân nhiều phen, đặng độ thoát hằng hà sa số chúng sanh đương tội khổ, trải đã không biết bao nhiêu kiếp rồi, mà Ngài cũng còn làm một vị Bồ Tát như vậy. Còn như nói đến tiền thân của Ngài từ khi chưa chứng quả vị, có kiếp Ngài làm con gái, có kiếp thì Ngài làm con trai, và cũng có kiếp Ngài làm vua nữa.
25/09/2010(Xem: 13960)
Nan-In, một thiền sư Nhật vào thời Minh - Trị (1868- 1912), tiếp một vị giáo sư đại học đến tham vấn về Thiền. Nan-In đãi trà. Ngài chế một cốc đầy và vẫn tiếp tục rót.
10/09/2010(Xem: 78681)
Một cuộc đời một vầng nhật nguyệt (quyển 3) Vào thời không có đức Phật Chánh Đẳng Giác ra đời, tại vùng Allakappa bị dịch bệnh hoành hành, lây lan từ người này sang người khác, nhà này sang nhà khác làm cho rất nhiều người chết, đói kém xảy ra khắp nơi. Những người còn mạnh khỏe, chưa bị lây nhiễm
02/09/2010(Xem: 10348)
Sơ lược về Thiền Sư Nguyễn Minh Không, Ông tên là Nguyễn Chí Thành sinh ngày 14/8 năm Bính Thìn (1076) tại Điềm Xá, Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Thiếu thời ngài chuyên làm nghề chài lưới của ông cha. Năm 29 tuổi ngài xuất gia đầu Phật. Ngài đã cùng Thiền sư Giác Hải và Thiền sư Từ Đạo Hạnh làm bạn thân sang Thiên Trúc học đạo với thầy Samôn được phép: Lục Trí Thần.
02/09/2010(Xem: 5711)
Tha phương sinh sống xứ người, tuy thâm tâm lúc nào cũng hướng về quê hương mến yêu, thế nhưng phải chờ đợi đến hơn hai mươi năm trời, sau bao ngày khắc khoải suy tư Thanh mới đột ngột quyết định về nước nghỉ hè hai tháng. Chàng về Saigon viếng thăm họ hàng vài ngày, rồi lang thang du ngoạn khắp các vùng biển từ Sầm Sơn đến Vũng Tàu, sau cùng quay lại Nha Trang, chiều chiều thơ thẩn đi dài dài trên bãi, mắt lơ láo nhìn biển khơi xa xăm với nỗi buồn vời vợi.
02/09/2010(Xem: 5544)
“Khác hơn thường lệ, đôi bạn thân Hiển và Phước, đối ẩm trong lặng lẽ, chẳng ai chịu mở lời. Hiển nâng chung trà hớp từng ngụm, rồi dường như đang bâng khuâng thả hồn theo những chiếc lá phong đỏ thẩm từng chiếc, từng chiếc rụt rè buông rời cành theo làn gió chiều mơn man. Còn Phước thì cầm chung trà, đi tới lui đăm chiêu suy nghĩ, mấy lần định lên tiếng mà cố đè nén chưa chịu hở môi.