23. Tôn Giả Tí Hon

31/08/201113:33(Xem: 20113)
23. Tôn Giả Tí Hon

Đường Vào Nội Tâm
Thích Nữ Trí Hải

23. TÔN GIẢ TÍ HON

Thuở Phật còn tại thế, một hôm vị đệ tử Đại trí của Ngài, Tôn giả Xá Lợi Phất, đi khất thực trong thành Vương xá, Ngài bỗng nhớ tới một người bạn nghèo của thân phụ, và muốn đến gieo phước cho ông. Tôn giả đi đến nhà ộng lão. Khi thấy Tôn giả từ xa đi lại, ông lão nghĩ thầm " Kìa là cháu Upatissa (tên của Tôn giả lúc ở đời) yêu dấu của ta ngày xưa đến khất thực. Y không biết rằng ta chẳng còn gì để cho y ". Nghị thế, ông lão lánh mặt, tự nhủ xin được chút gì mới cúng dường tôn giả. Ít hôm sau, ông lão kiếm được một ít cháo và một mảnh y phục nhờ sự tụng đọc kinh điển Bà la môn. Ông định bụng sẽ cúng dường tôn giả. Lúc ấy tôn giả đang nhập định, quán sát ông lão muốn bố thí, nên ngài xuất định, ôm bát đến nhà ông lão. Khi tôn giả đến trước cửa như thường lệ, ông lão ra đãnh lễ tôn giả, mời vào nhà để cúng dường. Tôn giả chỉ nhận phân nửa bát cháo, rồi đấy nạp bát. Nhưng ông lão năn nỉ: "Bạch tôn giả, đây chỉ có một phần ăn. Xin tôn giả nhận tất cả, cho con được phước báu đời sau. Con muốn cúng tất cả cho Ngài. Nói rồi ông đổ trọn bát cháo vào bát tôn giả. Tôn giả Xá Lợi Phất dùng cháo ngay tại chỗ. Khi Ngài dùng xong ông lại cúng nốt mảnh y phục cho Ngài: - Bạch Tôn giả, nguyện cho con đời sau có trí tuệ siêu việt như Ngài. - Này Bà la môn, ngươi sẽ được toại nguyện. Tôn giả đáp, và sau khi nói lời tùy hỷ công đức, Ngài đứng lên tiếp tục du hành đến Kỳ viên tinh xá.

Ông lão sau khi cúng dường Tôn giả thì vui mừng vô hạn, và càng tăng lòng ái mộ đối với Tôn giả. Do sự kính ái này, ông lão thác sinh vào gia đình một thí chủ thường xuyên của Tôn giả Xá Lợi Phất. Khi bà tín nữ mang thai, bà đâm ra khát khao hơn bao giờ hết, được cúng dường cháo hàng ngày cho chúng tỳ kheo của Tôn giả Xá Lợi Phất gồm tất cả 500 vị. Bà khao khát được mặc y vàng, đến ngồi ngoài cổng tinh xá mà chực ăn phần cháo thừa của chúng Tăng, để thừa hưởng phước trí trang nghiêm. Thân quyến và chồng bà giúp bà thực hiện ước nguyện ấy, cúng dường cháo hàng ngày cho chúng tỳ kheo. Có người cho rằng sự thích mặc áo vàng của bà là điềm báo trước người con trong bụng sẽ là một vị tỳ kheo đệ tử Phật, và họ lấy làm sung sướng. Đúng kỳ sinh nở, một hài nhi xinh đẹp ra đời, cả gia đình hân hoan đón tiếp. Họ tắm em bé bằng nước thơm, mục cho em bé những y phục vô cùng quý giá đã may sẵn từ trước, và đặt em bé n?n trong một chiếc nôi lộng lẫy như một hoàng cung, đạp cho em bé một cái mền gấm sang trọng. Rồi thỉnh tôn giả Xá Lợi Phất và chúng tỳ kheo đến quy y cho em bé. Khi tôn giả đến em bé đang nằm ngửa nhìn chăm chăm vào Tôn giả với một cặp mắt tinh anh lạ kỳ, một cách nhìn trìu mến như đối với người đồng hàng quyến thuộc. Em bé nghĩ: "Đây là thầy của ta đời trước, nhờ Ngài mà ta được sang quý ở đời này. Ta phải cúng dường Ngài một cái gì." Khi người mẹ ẵm em bé lên để thụ tam quy, ngũ giới với tôn giả, những ngón tay của em bé quấn vào trong cái mền gấm. Gia nhân la lên: "Kìa, tay em bé bị kẹt trong cái mền gấm", và chạy lại gỡ ra thì em bé òa khóc như không muốn rời. Người mẹ nói: "Để vậy đừng làm em bé khóc", và ẵm con đến cho Tôn giả. Khi đến trước Tôn giả, em bé thả tay cho cái mền rớt phủ trên chân Ngài. Người mẹ thông ngôn rằng: - Bạch Tôn giả, xin Ngài nhận cho con của cúng dường này, và cho con được thụ tam quy ngũ giới làm đệ tử ngài. Tôn giả hỏi tên đứa bé đó là gì? - Bạch Tôn giả xin ngài cho hài nhi cái tên của ngài lúc tại thế. - Vậy nó sẽ mang tên Tích Sa (Upasstisa là tên của tôn giả ).

Khi được bảy tuổi Tích sa nói với mẹ: - Thưa mẹ, con muốn xuất gia theo Tôn giả Xá Lợi Phất. - Tốt lắm cho con xuất gia. Rồi bà mời Tôn giả lại rồi bạch: - Bạch tôn giả, đệ tử của Ngài xin được xuất gia với Ngài. Chiều nay con sẽ đưa y đến tu viện. Sau khi đươc Tôn giả nhận lời, bà mẹ sắm nhiều lễ vật cúng dường, và dẫn chú bé đến Kỳ viên tinh xá. Tôn giả nói với Tích Sa:

- Tích Sa này, đời sống của người xuất gia rất cam khổ. Khi muốn ấm nhà ngươi phải gặp lạnh, muốn mát ngươi lại gặp nóng. Những tỳ kheo phải sống ngược đời như thế đấy. Liệu ngươi có sức chịu đựng không?

- Bạch Tôn giả con sẽ làm tất cả những gì ngài dạy bảo.

- Tốt lắm.

Rồi Tôn giả dạy cho Tích Sa quán pháp bất tịnh bằng cách học 5 món đầu trong 32 món ô uế trong thân là tóc, lông, móng, răng, da. Tôn giả lại truyền cho Tích Sa thấp giới và từ đó Tích Sa khởi sự cuộc đời của một chú tiểu.

Để mừng việc xuất gia của con, cha mẹ Tích Sa cúng dường cháo thấp cẩm cho toàn thể chúng tăng ở Kỳ viên suốt một tuần lễ. Những tỳ kheo chưa chứng quả không ngớt thì thầm với nhau: "Ngon thật. Đâu phải chúng ta luôn luôn được như thế này".

Sau bảy ngày thết đãi chúng tăng, cha mẹ tích Sa từ giã trở về nhà. Qua ngày thứ tám, chú tiểu Tích sa bắt đầu ôm bát đi bọc hậu đoàn tỳ kheo do tôn giả Xá Lợi Phất dẫn đầu, để vào thành Xá vệ khất thực.

Những người trong thành phố bảo nhau: "Nghe đồn hôm nay chú tiểu Tích sa sẽ đi khất thực trong thành phố. Ta hãy sửa soạn tặng phẩm cúng dường". Bởi thế, khi Tích Sa vào thành, những người quen biết cha mẹ chú tiểu đều đem phẩm vật cúng dường tới tập. Chú tiểu nhận được 500 bát đầy phẩm vật và 500 bộ y phục đem về chùa. Hôm sau, những người chưa được cúng lại thân hành đem phẩm vật t?i tinh xá. Chú tiểu nhận thêm 500 bát, 500 y, rồi dâng tất cả một ngàn y, một ngàn bát cho chúng tỳ kheo tại tinh xá Cấp cô độc. Do đó chú được đại chúng mệnh danh là thí chủ Tích Sa.

Một hôm vào thời tiệt giá buốt, trong khi Tích Sa quét dọn chung quanh tinh xá, chú tiểu thấy chư tăng tụm năm tụm ba đang sưởi bên những đống lửa, bèn hỏi:

- Bạch chư Đại đức, tại sao chư Đại đức phải hơ lửa vậy? (Trẻ con thường không biết rét là gì).

- Chú tiểu đi chúng tôi lạnh cóng cả người phải hơ cho ấm.

- Bạch chư Đại đức khi nào trời rét thì ta đắp mền cho ấm. Mền sẽ ngăn cái lạnh không cho thấm vào cơ thể.

- Chú tiểu có nhiều phước đức mới có mền mà đạp, chớ chúng tôi làm sao có mền được?

- Bạch chư Đại đức, thế thì ngày mai, vị nào cần mền xin hãy đi với con vào thành.

Rồi chú xin chư tăng thông báo như vậy cho chúng tỳ kheo trong tinh xá. Bởi vậy hôm sau có một ngàn vị tỳ kheo cùng đi theo chú tiểu. Trước khi vào thành Xá vệ, chú ghé từng nhà ở ngoài thành và đã được 500 cái mền. Khi vào thành mọi người đổ xô đến cúng dường theo lời yêu cầu của chú tiểu. Tại một cửa tiệm, ông chủ đang ngồi sau một đống mền cao ngất. Một người đi đường đến rỉ tai:

- Này, có một chú tiểu đang đi xin mền đấy, nên giấu hết đi. Ông chủ nói:

- Nếu tôi muốn cho, thì tôi cho. Không muốn thì tôi không cho. Giấu làm gì?

Nhưng khi người kia đi khỏi ông chủ ngẩm nghĩ, và giấu bớt hai cái mền thượng hạng trong số mền bày bán. Ngay lúc ấy Tích Sa cũng vừa đến. Mới thấy mặt chú tiểu ông đã đem lòng thương mến vô cùng. Cả người ông tràn ngập một niềm kính yêu chan chứa. Ông nghĩ: "Coi đáng yêu chưa tề! Trông mặt mũi một bé trai kháu khỉnh như thế kia, thì dù có đem cho cả thịt da tim ruột của ta, ta cũng không tiệc, nói chi tới vài ba cái mền". Và lập tức, ông rút ngay cái mền quí giá nhất đặt dưới chân Tích Sa, đảnh lễ mà bạch:

- Bạch Đại đức, mong sao con được thấm nhuần ánh sáng đạo mà ngài đã thấy.

- Cư sĩ sẽ toại nguyện.

Chú tiểu chúc tụng, rồi nói lời tùy hỷ công đức. Ngày hôm ấy chú tiểu nhận đúng một ngàn cái mền cho chúng tỳ kheo. Do đó, chú lại được mệnh danh là người cho mền. đó là nhờ công đức lúc mới sinh Tích sa đã cúng dường mền cho Tôn giả Xá Lợi Phất.

Tại tinh xá Kỳ viên, chú tiểu Tích Sa phải tiếp đón những cậu bé bạn cũ đến thăm . Ngày nào chúng cũng tới, hỏi han mọi chuyện, làm cho chú không có thì giờ mà tham thiền nhập định gì hết. Nghĩ rằng sanh tử là việc lớn, chú đến xin Đức Phật một đề mục thiền định để rút vào rừng sâu tu tập.

Khi đến một khu làng, Tích sa gặp một ông lão. Chú hỏi:

- Thưa cư sĩ, gần đây có một cánh rừng nào để tu sĩ ẩn cư không?

- Bạch Đại đức, có.

- Vậy, xin người hãy chỉ đường cho tôi đến đó.

Mới nhìn chú, ông lão đã có cảm tình, nên bằng lòng dẫn chú đi. Vừa đi chú vừa hỏi ông lão địa danh những nơi đi qua. Khi tới rừng, ông lão nói:

- Bạch Đại đức, đây là chỗ tốt lành. Ngài hãy ở đây và xuống làng chúng tôi mà khất thực.

Dân chúng yêu kính chú khôn cùng và năn nỉ: "Đại đức ở đây thật lâu với chúng tôi để chúng tôi được thọ tam quy ngũ giới với ngài".

Họ cúng dường những vật dụng cần thiết cho Tích Sa. Mỗi khi nhận Tích sa đều chúc lành cho thí chủ như sau:

- Mong thí chủ được hạnh phúc an vui. Mong thí chủ thoát khỏi khổ ách.

Sau hai tháng ở rừng nỗ lực tu tập thiền định, Tích Sa chứng quả A La Hán. Bấy giờ tôn giả Xá Lợi Phất có ý định thăm chú, nên bạch Phật:

- Bạch Thế tôn, con sẽ đi thăm chú tiểu Tích Sa.

- Được, ngươi cứ đi.

Tôn giả đến bên người bạn cố tri của ngài là tôn giả Mục Kiền Liên:

- Hiền huynh, Tôi sẽ đi thăm Tích sa.

- Tôi cũng đi với.

Và tất cả những vĩ đại đệ tử của Phật như ngài Ca Diếp, A Nậu Lâu Đà, Ưu Đà Di, Phú Lâu Na,v.v... đều đi cùng tôn giả Xá Lợi Phất để thăm chú tiểu ở trong rừng. Khi đoàn Thánh chúng đến, dân cư tiếp đón nồng nhiệt. Họ vô cùng hân hoan được trông thấy vị Thánh đệ tử Xá Lợi Phất nổi danh thiên hạ, và xin ngài ban cho một thời Pháp. Nhưng tôn giả từ chối:

- Ta đến thăm chú tiểu Tích Sa của ta cái đã.

Khi Tích Sa được tin, chú xuống làng thi lễ, và làm bổn phận của một chú tiểu đối với những vị trưởng thượng đầy uy đức của mình. Chỗ nghỉ ngơi đã được dân cư lo chu đáo tại một ngôi chùa trong làng. Họ lập lại lời thỉnh cầu nghe Pháp, mặc dù trời đã tối. Tôn giả Xá Lợi Phất nói:

- Vậy, hãy đốt đèn lên và loan tin cho Phật tử xa gần đến nghe.

Khi dân làng tề tựu, tôn giả Xá Lợi Phất bảo Tích sa: - Này Tích sa, các thí chủ của con ngỏ ý muốn nghe pháp. Con hãy nói pháp cho họ đi.

Toàn thể dân làng đều đồng thanh thưa:

- Bạch Tôn giả, vị đại đức của chúng con không biết gì ráo, ngoài ra hai câu: "Mong gia chủ được hạnh phúc an vui, mong gia chủ thoát khỏi khổ ách." xin Ngài cho vị khác nói pháp cho chúng con nghe.

Khi ấy tôn giả hỏi chú tiểu:

- Tích sa, nhưng làm sao để được hạnh phúc an vui? Người ta phải làm thế nào để thoát khỏi khổ ách? Con hãy giải rộng hai câu ấy.

- Thưa vâng, bạch Tôn giả.

Tích Sa thăng tòa, giảng như nước chảy về khổ đế, nguyên nhân khổ, Niết bàn và con đường đưa đến tịch diệt. Và chú kết luận:

- Bạch chư Tôn giả, đó là đường đi của một vị A La Hán để thoát khỏi khổ ách, để được an vui.

- Giỏi! Con đã thông thuộc rành rẽ giáo pháp.

Những cư dân nghe xong thời pháp đều rất ngạc nhiên. Một số mừng vì lâu nay được cúng dường một vị thông tuệ, nhưng một số tỏ ý bất mãn, bảo nhau:

- Không dè vĩ đại đức thuyết pháp hay như vậy. Tại sao lâu nay đại đức cứ câm miệng hến không chịu nói gì cả? Thật gan lì.

Từ tinh xá Cấp cô độc, đức Thế tôn biết được tâm niệm bất kính của những cư dân này đối với Tích Sa. Ngài động lòng từ bi, muốn cho họ khỏi tội báo xúc phạm một vị A La Hán, nên đích thân đến làng thăm chú tiểu. Khi thấy đức Phật thân hành đi đến làng để thăm Tích sa, dân làng mới hoàn toàn công nhận tầm quan trọng của vĩ đại đức tí hon ấy. Ngài bảo Tích Sa đưa ngài lên ngọn núi cao nhất từ đó có thể nhìn xuống biển cả, và hỏi:

- Tích Sa, khi đứng trên đỉnh núi này, nhìn quanh con thấy gì?

- Bạch Thế tôn, con thấy nước biển mênh mông không bờ bến.

- Con nghĩ gì khi thấy đại dương?

- Bạch Thế tôn, con nghĩ: trong vô số kiếp luân hồi, ta đã đổ bao nhiêu là nước mắt để khóc vì những nỗi đau khổ, nước mắt ta có lẽ còn nhiều hơn nước mắt trong bốn biển lớn kia.

- Đúng lắm, Tích Sa.

Rồi ngài đi thăm động đá nơi Tích Sa cư trú.

- Con nghĩ gì khi cư trú nơi đây?

- Bạch Thế tôn, con nghĩ: Ta đã chết vô số lần, vô số lần thi hài ta đã nằm trên đất này.

- Đúng lắm, Tích Sa! Không có một nơi nào trên mặt đất mà chúng sinh không xả bỏ thân mạng vô số lần ở đó.

Và Ngài hỏi tiếp:

- Tích Sa, khi con nghe tiếng hổ báo gầm trong rừng sâu con có sợ không?

- Bạch Thế tôn, con không sợ. Trái lại một niềm yêu thích núi rừng lại dâng lên trong tâm khảm con.

Và Tích Sa đã đọc cho Phật nghe 60 bài thơ mình đã cảm hứng từ rừng sâu.

Sau khi thăm các nơi, đức Thế tôn từ giã:

- Tích Sa, bây giờ ta trở về tinh xá. Con muốn đi theo ta, hay ở lại rừng?

- Bạch Thế tôn, nếu thầy con (chỉ Tôn giả Xá Lợi Phất) muốn con trở về, con sẽ trở về. Ngài muốn con ở lại, con sẽ ở lại.

Tôn giả đoán biết Tích Sa không muốn trở về nên bảo:

- Tích Sa, con hãy ở lại rừng, nếu con muốn vậy.

Tích Sa đảnh lễ Phật và chư Tôn giả rồi quay trở về rừng, sau khi đưa tiễn các Ngài một quãng xa.

Tại Diệu pháp đường trong tinh xá Cấp cô độc, khi chúng tỳ kheo ngồi bàn tán về hạnh xả ly của Tích Sa, họ không ngớt lời tán thán:

- Khó thay, những gì Tích Sa đã làm! Bỏ tất cả lợi dưỡng, cung kính, để rút vào ẩn cư trong rừng sâu!

Đức Phật nhân đó thốt lên bài kệ thứ 75 trong kinh Pháp cú:

"MỘT NẺO ĐƯỜNG DẪN ĐẾN THẾ LỢI, MỘT NẺO ĐƯỜNG KHÁC DẪN ĐẾN NIẾT BÀN. HÀNG TỲ KHEO ĐỆ TỬ ĐẤNG GIÁC NGỘ KHI HIỂU NHƯ VẬY, KHÔNG NÊN THAM ĐẮM LỢI DƯỠNG THẾ GIAN, MÀ PHẢI CHUYÊN TÂM VÀO HẠNH ĐỘC CƯ THIỀN ĐỊNH."

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
07/02/2015(Xem: 7038)
Một trong tôn giáo cổ xưa Có thầy tu nọ rất ưa tế thần Tuy ông nổi tiếng xa gần Nhưng mà mê muội tâm thần nhiều thay. Một hôm ông chọn dê này Cho rằng thích hợp, giết ngay tế thần Nghĩ suy lầm lạc vô ngần:
25/01/2015(Xem: 10825)
Tác phẩm Một Đóa Sen, được diễn nói về vận hành tầm sư học đạo của Sư bà Thích Nữ Diệu Từ, thật là gian truân trăm bề, được thấy từ khi mới vào “Thiền Môn Ni Tự” ở các cấp Khu Ô Sa Di, Hình Đồng Sa Di, ứng Pháp Sa Di và Tỳ Kheo Ni ở tuổi thanh niên mười (10) hạ lạp rồi, mà vẫn còn gian nan trên bước đường hành hoạt đạo Pháp. Nhưng Sư bà vẫn định tâm, nhẫn nhục , tinh tấn Ba la mật mà tiến bước lên ngôi vị Tăng Tài PGVN ở hai lãnh vực văn hóa quốc gia và Phật Giáo Việt Nam một cách khoa bảng. Nếu không nói rằng; tác phẩm “Một Đóa Sen và Pháp thân” của Sư bà Diệu Từ, là cái gương soi cho giới Ni PGVN VN hiện tại và hậu lai noi theo…
24/01/2015(Xem: 7257)
Mỗi sáng sớm khi sương còn mù mịt trên sông, chiếc thuyền con của lão già đã là đà rẽ nước, hướng về bờ – lúc thì bờ đông, lúc thì bờ tây, nơi những ngôi nhà tranh và những chiếc ghe nhỏ tụ tập. Mái chèo khua nhè nhẹ như thể sợ động giấc ngủ của thế nhân. Chẳng ai biết chắc lão có gia đình, nhà cửa ở đâu hay không. Nhưng người ta có thể đoán chiếc thuyền con ấy chính là nhà của lão, vì lão phơi thuốc, xắc thuốc, nấu thuốc ngay trên đó. Trên thuyền không còn ai khác. Ban đêm, thuyền của lão neo ở đâu không ai biết, nhưng sáng sớm thì thấy lù lù xuất hiện trên sông hoặc nơi bờ cát. Lão già đến và đi, một mình. Mỗi ngày xách cái túi nhỏ rời thuyền, thường là đi hái thuốc trên núi, ven rừng, bờ suối, có khi vào làng chữa bệnh cho bá tánh rồi ghé chợ mua vài thứ lĩnh kĩnh.
21/01/2015(Xem: 14976)
1. Chân như đạo Phật rất mầu Tâm trung chữ Hiếu niệm đầu chữ Nhân, Hiếu là độ được song thân Nhân là cứu độ trầm luân muôn loài. 5. Thần thông nghìn mắt nghìn tay Cũng trong một điểm linh đài hóa ra,
16/01/2015(Xem: 5827)
Sau 30-4-75, tất cả giáo chức chúng tôi đều phải đi học tập chính trị trong suốt 3 tháng hè mà họ gọi nôm na là "bồi dưỡng nghiệp vụ". Một buổi chiều sau mấy ngày "bồi dưỡng", tôi đạp xe lang thang qua vùng Trương minh Giảng, tình cờ gặp Báu - một người học trò năm xưa, rất xưa, đang ngơ ngẩn đứng trước cửa nhà. Dừng xe đạp, tôi chào: - Báu hả? Phải em là Trương thị Báu không? Có nhớ ra cô không? Báu giương mắt nhìn tôi, nhìn đi nhìn lại rồi nghiêng đầu lại nhìn...Em không nhớ nổi... Tôi đã thoáng thấy được một tâm thần bất thường qua thần sắc cũng như qua đôi mắt trống rỗng vô hồn!
16/01/2015(Xem: 7189)
Năm 1954 ông Thiện khăn gói đùm đề đưa mẹ, vợ và hai đứa con gái xuống con tàu há mồm vào Nam.Trên bờ, Thụ, người em trai của ông còn đưa tay vẫy vẫy. Đêm hôm qua, ông và người em trai bàn rất nhiều về chuyến ra đi này.Người em nói: - Đất nước đã hòa bình, độc lập, anh nên ở lại, dù gì cũng là nơi chôn nhau cắt rốn.Vào Nam xứ lạ quê người, chân ướt chân ráo trăm bề khổ sở... Ông Thiện đã trả lời em:
15/01/2015(Xem: 7170)
Trong cả thành phố này, anh chị chỉ có tôi là chỗ thân nhất, vừa là thầy vừa là bạn. Buổi sáng anh gọi phone bảo trưa nay đến đón tôi về nhà dùng cơm cho vui. Hôm nay là sinh nhật của thằng Alexander con một của anh chị.
14/01/2015(Xem: 16059)
Tiếng Hồng chung Phật Học Viện Hải Đức Nha Trang nói riêng và các chùa trong thành phố Nha trang nói chung, sớm khuya ai cũng có thể nghe được, nhưng nghe để “Trí tuệ lớn” và “Bồ-đề sinh” thì tùy theo “phiền não” của đối tượng nghe có vơi nhẹ hay không? Riêng với nhà văn Võ Hồng, qua tác phẩm “Tiếng chuông triêu mộ” cho thấy Trí tuệ và Bồ đề của ông sanh trưởng tốt. Nhưng nhân duyên như thế cũng chưa đủ, ông là giáo sư của PHV, của trường Bồ Đề, là thiện tri thức của các bậc cao Tăng ở đồi Đông và đồi Tây non Trại Thủy. Có thế mới có truyện ngắn “Cây khế lưng đồi”, có tùy bút “Con đường thanh tịnh”. Thưa thầy Võ Hồng, chừng ấy đủ rồi, đủ cho PHV đi vào lịch sử văn học, đủ cho 100 năm sau, 1000 năm sau hay nhiều hơn thế nữa, nhìn thấy PHV uy nghi như một Linh Thứu thời Phật và cũng cho thấy các bậc cao Tăng Miền Trung nói riêng xứng đáng là những Sứ giả Như Lai đầy trách nhiệm đối với sự trường tồn của Phật giáo Việt Nam.
09/01/2015(Xem: 6432)
Tháng 10 năm 1962, TT Chủ Tịch Ủy Ban Liên Phái… nhờ Tôi đi công tác Vũng Tàu, Tôi đi chuyến xe đò lúc 8g30 sáng, xe chạy vừa khỏi hãng xi-man Hà Tiên, thì có 3 người đón xe. Anh tài xế nói với tôi : “Thầy vui lòng xuống hàng ghế phía dưới để cho “mấy cha”ngồi, vui nghen Thầy”! Tôi lách mình qua khoản trống thì có 2 vị đưa tay đón và đở nhường chỗ ngồi còn nói lớn: “Ngộ ha, cha quí hơn Thầy “! Tôi sợ gây chuyện không vui, nên đưa tay và lắc đầu xin yên lặng. Vì đương thời bấy giờ bóng dáng của các áo đen có nhiều sát khí thế lực! Nhưng, Mộc dục tịnh, nhi phong bất đình 木欲淨而風不亭.Xe chạy êm ả, gió lùa mát rượi.
26/12/2014(Xem: 20130)
Phât tử Chơn Huy ở Hoa Kỳ về có đem theo tập tự truyện dày của Tỳ Kheo Yogavacara Rahula. Cô nói truyện rất hay, khuyên tôi đọc và nhờ tôi dịch ra Việt ngữ để phổ biến trong giới Phật tử Việt Nam. Câu chuyện rất lý thú, nói về đời của một chàng trai Mỹ đi từ chỗ lang bạt giang hồ đến thiền môn. Truyện tựa đề "ONE NIGHT'S SHELTER (From Home to Homelessness)--The Autobiography of an American Buddhist Monk". Tôi đọc đi rồi muốn đọc lại để thấu đáo chi tiết trung thực của một đoạn đời, đời Thầy Yogavacara Rahula. Nhưng thay vì đọc lại, tôi quyết định dịch vì biết rằng dịch thuật là phương pháp hay nhứt để hiểu tác giả một cách trọn vẹn. Vả lại, nếu dịch được ra tiếng Việt, nhiều Phật tử Việt Nam sẽ có cơ duyên chia sẻ kinh nghiệm quý báu của Thầy Rahula hơn.