06. Chuyển Luân Thánh Vương

29/08/201105:03(Xem: 6520)
06. Chuyển Luân Thánh Vương

LƯỢC TRUYỆNTIỀN THÂN ĐỨC PHẬT
Hòathượng Thích Ðức Niệm
PhậtHọc Viện Quốc Tế, California, 1998

Chuyển Luân Thánh Vương

Một hôm tại thànhCâu-Thi-Na, trong rừng Ta-La Song-Thọ, trước những ngày đức Phật sắp nhậtNiếp-bàn, tôn giả A-Nan và đại chúng vô cùng buồn khổ, nhất là A-Nan tâm thầnhôn mê, hồn bất phụ thể, quên ăn bỏ ngủ, vì nghĩ rằng Phật sắp lìa đời, như mặttrời rơi rụng, như con mắt thế gian không còn, như con thơ mất mẹ.

Sau khi được Phật anủi khuyến hóa, A-Nan tỉnh ngộ, liền bạch Phật rằng: "Kính bạch đứcThế-Tôn! Thành Câu-Thi-Na na`y so với các thành Vương-Xá, thành Ba-La-Nại,thành Xá-Vệ, thành Tỳ-Xá-Ly, thì Câu-Thi-Na quả là nhỏ bé, kém văn hóa khôngkhác gì nơi biên địa. Ngài nhập Niết-bàn nơi đây chúng sanh không được lợi íchnhiều. Con nay trộm nghĩ, tốt hơn, đức Thế-Tôn nên rời Câu-Thi-Na nầy, để đếncác thành lớn kia nhập Niết-bàn. Nơi đó dân chúng đông đúc, trình độ văn hóacao, lòng tin nơi đạo Ngài sâu đậm. Như vậy chúng sanh sẽ được nhiều lợi lạchơn".

Nghe tôn giả A-Nantrình bày xong, đức Phật từ hòa dẫn giải: "Nầy A-Nan! Ông không nên nóinhư thế! Ông đâu có biết rằng, thuở quá khứ thành Câu-Thi-Na nầy có một vịChuyển-luân Thánh-vương tên là Ðại-Thiện-Kiến ngự trị, đem chánh pháp thốngnhiếp bốn châu thiên hạ. Lúc bấy giờ vương thành mỗi bề rộng trên mười cây số,có bảy lớp thành bao bọc chung quanh. Lớp thành thứ nhất bằng vàng. Lớp thànhthứ hai bằng bạc. Lớp thành thứ ba bằng lưu ly. Lớp thành thứ tư bằng pha lê.Lớp thành thứ năm bằng xa cừ. Lớp thành thứ sáu bằng mã não. Lớp thành thứ bảytổng hợp tất cả các thứ châu báu trên đời làm thành. Cứ mỗi lớp thành là có aonước tám công đức bao bọc.

Ðền đài lầu các baolơn đều làm toàn bằng bảy thứ bảo châu, điêu khắc chạm trổ huy hoàng trangnghiêm rực rỡ. Bốn cửa thành mỗi cửa đều có chín từng lớp chạm trổ sơn son thếpvàng ngời sáng thật là hoa lệ. Cây cối trong thành xanh tươi mát mẻ quanh năm.Có đủ thứ chim quý ngày ngày reo hót thanh thót trên cành cây, bay lượn trênmặt nước hồ. Trong vườn muôn thứ hoa thơm cỏ lạ rộn nở bốn mùa. Khắp hoàngthành, gió thoảng cành cây, các loài chim quý hòa tấu tạo thành âm thanh thiênnhạc. Nhân dân trong thành đều phú quý giàu sang, hưởng đầy đủ ngũ dục lạc nhưcõi trời Ðao-Lợi. Hai bên đường xa trong thành treo đầy ngọc minh châu sángchói không phân ngày đêm. Âm nhạc dịu dàng phát ra từ cành cây hoa lá khuyếnkhích khen ngợi mọi người trì trai giữ giới tu niệm, hòa với tiếng thuyết pháp,khiến cho người làm lành hướng thiện.

Vua Ðại-Thiện-Kiến làbậc vua hiền đức, tướng mạo đoan trang, dân chúng trong thành ai nấy đều quýmến ngưỡng mộ như bậc cha mẹ. Một hôm nhà vua muốn đi du ngoạn để xem dân tình,liền hạ lệnh cho quan chủ binh chuẩn bị tám vạn bốn ngàn xe ngựa để cho cungphi mỹ nữ và Bà-La-Môn, trưởng giả, cư sĩ đồng tham dự cuộc du ngoạn này. Riêngvua Ðại-Thiện-Kiến cưỡi trên lưng con bạch tượng đi giữa quân hầu. Dân chúngnghe vua xuất thành, đồng nhau kéo đến đứng hai bên đường hàng hàng lớp lớp đểđược nhìn dung nhan của đức vua. Khắp nơi, vua Ðại-Thiện-Kiến đều thấy cỏ câyhoa lá xanh tốt đầy đầy, dân chúng đâu đâu cũng được hưởng thái bình âu ca lạcnghiệp. Nhà vua lại còn hạ lệnh xây thêm hồ ao ở những nơi ngã tư đường, trôngcây mát hoa thơm để cho dân chúng đến tắm rửa thưởng ngoạn. Ðồng thời vuỪại-Thiện-Kiến còn sắc chỉ cho các quan địa phương nên đem của cải tiền vàngbạc trong kho ra bố thí để tùy sở thích của dân chúng lấy dùng.

Sau ngày du ngoạn trởvề hoàng cung, khoảng tuần lễ sau, những người Bà-la-môn, trưởng giả , cư sĩđem đủ loại vàng bạc của báu đến tặng cho vua. Vua Ðại-Thiện-Kiến nói: "Tađã ra lệnh khắp nơi mở cửa kho bố thí cho nhân dân. Ta đâu cần thiết bạc tiềnmà các khanh đem đến tặng ta làm gì?"

Các vị Bà-la-môn,trưởng giả đồng loạt tâu vua rằng: "Muôn tâu Thánh-thượng! Cung điện Thánh-thượngquá nhỏ. Mỗi lần hạ thần chúng tôi vào ra mắt Thánh-thượng thì không đủ chỗ đểcho thân quyến tùy tùng của chúng tôi đứng. Xin Thánh-thượng vì lợi ích muôndân mà mở mang cung điện lớn thêm".

Nghe lời tâu hữu lý,nhà vua im lặng suy nghĩ: "Họ tâu có lý lắm. Nay ta nên mở rộng trụ xứnày".

Bấy giờ trời Ðế-Thíchbiết rõ tâm niệm của vua Chuyển-luân Thánh-vương Ðại-Thiện-Kiến, liền gọi vịthiên tử tên Tỳ-Thủ Kiến-Ma là vị kiến trúc tài ba khéo léo nhất, bảo rằng:"Nay vua Chuyển-luân Thánh-vương Ðại-Thiện-Kiến ở cõi Diêm-phù-đề muốn mởmang cung điện, nhà ngươi nên xuống đó giúp đỡ để cho cung thành nhà vua ấycũng được trang nghiêm tuyệt mỹ như cung điện của ta đây vậy".

Thiên tử Tỳ-ThủKiến-Ma vâng lệnh, liền vận dụng thần thông co duỗi cánh tay trong nháy mắt đãbiến thành một trang tráng sĩ đến cõi nhân gian đứng trước nhà vuỪại-Thiện-Kiến.

Lúc đó, nhà vua trôngthấy hình dáng đặc biệt của vị tráng sĩ, biết không phải là người thường, nênhỏi rằng: "Ngài là ai, bỗng nhiên hiện trước ta đây?"

Vị thiên tử đáp:"Tôi tên là Tỳ-Thủ Kiến-Ma vâng lệnh trời Ðế-Thích đến đây giúp Ðại-vươngmở mang cung điện". Vua Ðại-Thiện-Kiến nghe xong rất đỗi vui mừng ưngthuận ngay.

Nhờ sự giúp đỡ thầndiệu của Tỳ-Thủ Kiến-Ma, chẳng bao lâu đền đài cung điện vua Chuyển-luânThánh-vương Ðại-Thiện-Kiến được xây xong bằng thất bảo, cực kỳ lộng lẫy rộnglớn trang nghiêm, nguy nga tráng lệ. Ðặc biệt trong cung điện mới này có điệnthuyết pháp, giữa điện thuyết pháp có tòa sư tử làm bằng bảy thứ châu báu vàchung quanh tòa có tám vạn bốn ngàn chỗ ngồi nghe pháp.

Sau khi cung điện hoànthành xong, thì cũng không còn thấy bóng hình của người tráng sĩ tài ba kia đâunữa. Nhà vua truyền lệnh đánh trống thổi kèn rao khắp nhân gian rằng: "Tạithành nội, Ðại-vương sẽ mở hội thuyết pháp bảy ngày đêm để khánh thành cungđiện mới, đồng thời bố thí vàng bạc cơm áo, dân chúng ai thích đến nghe PhậtPháp thì sẽ được tùy ý nhận lấy của báu về dùng".

Khi các hàngBà-la-môn, trưởng giả, cư sĩ và bá quan, vạn dân thi đua nhau vào chỗ ngồixong, vua Chuyển-luân Thánh-vương Ðại-Thiện-Kiến uy nghi bước lên ngồi tòa sưtử thuyết pháp về Thập Thiện, rồi tiếp đó thuyết về những thiện pháp khác,khiến cho mọi người đều được lợi lạc hưởng sự vui thú của cõi trời. VuỪại-Thiện-Kiến tiếp tục làm việc lợi ích như thế suốt hơn một vạn hai nghìnnăm.

Nầy A-Nan! Nhà vua ấylại vào tịnh thất quán tưởng biết được thời quá khứ của mình nhờ tu hạnhbố-thí, nhẫn-nhục, từ bi mà nay được phước báu làm Chuyển-luân Thánh-vương tônquý nhất trên đời không ai sánh bằng. Nhà vua ấy lại phát nguyện triệt để tinhtấn tu Tứ-vô-lượng-tâm, cung phi mỹ nữ hoàng thân quốc thích cùng cố gắng tutập.

Lúc bấy giờ công chúaThiện-Hiền cùng hoàng hậu và cung phi mỹ nữ ngồi thiền chánh niệm trong tịnhthất đã hơn bốn vạn năm cũng khởi niệm rằng: "Chúng ta ngồi thiền Chánhniệm nơi đây đã lâu lắm rồi, nay chúng ta nên đến ra mắt thăm Ðại-vương".

Trong giây lát nhữngngười nầy hiện trước vua tâu rằng: "Muôn tâu Thánh-thượng! Nay Thiện-Hiềncùng tám vạn bốn ngàn thể nữ đến ra mắt vấn an Ðại-vương".

Vua Ðại-Thiện-Kiếnnghe xong, liền lên pháp tòa sư tử. Các thể nữ kia cũng liền kéo đến trước pháptòa đồng cung kính chấp tay quỳ thưa: "Chị em chúng con trong tịnh thấtchánh tâm thiền quán đã hơn bốn vạn năm, nay đến đây yết kiến vấn an Ðại-vương,và có điều muốn thưa thỉnh, kính xin Ðại-vương thương xót thuận cho".

Vua Ðại-Thiện-Kiếnđáp: "Quý hóa thay, các ngươi cứ tùy ý nói".

Công chúa Thiện-Hiềntâu vua rằng: "Thiện hạ trong bốn phương: Nam Diêm-phù-đề, Tây Cồ-da-ni,Bắc Uất-đan-việt, Ðông Phất-bà-đề đều giàu sang, vui vẻ, yên ổn biết tu hànhthập thiện, tất cả đều nhờ đức giáo hóa của Ðại-vương. Riêng thành Câu-Thi-Natrong cõi Diêm-phù-đề này còn có đến tám vạn bốn nghìn thành. Quốc-vương,Ðại-thần, Bà-la-môn, Trưởng giả đều muốn yết kiến Ðại-vương, ước mong để nhờ ơnmưa móc pháp nhũ. Nhưng Ðại-vương thiền định trải qua nhiều năm, nên mọi ngườikhông có dịp triều kiến chiêm ngưỡng dung nhan, lòng họ khát vọng muốn đượcthấy tôn nhan Ðại-vương như con hiếu lâu năm muốn được thấy cha hiền. Vả lạibốn phương thiên hạ cần sự vỗ về dìu dắt của Ðại-vương. Lại nữa, voi ngựa xư cộđều có sẵn, Ðại-vương nên khéo dùng thời nghi để đi du ngoạn quan sát dân tìnhsinh hoạt. Vả lại ngày trước Ðại-vương thường thuyết khuyến hóa muôn dân tuThập thiện, nhưng thời gian gần đây Ngài lại chuyên tâm thiền định bỏ mất việclợi ích này. Bọn nữ nhân chúng con không làm lợi ích nhân quần, nên chuyên tâmthiền quán. Còn Ðại-vương là bậc ân đức của muôn dân, đâu phải vì mải mê tịnhtâm thiền định mà ở lâu mãi trong thiền thất được, bỏ mất điều lợi ích của muôndân.

Vua Ðại-Thiện-Kiếnnghe xong, ôn tồn đáp: "Những lời khuyên vừa rồi của các khanh thật khôngđúng ý ta. Các con nên biết rằng, tất cả hình tướng đều là vô thường, ân ái hộihọp rồi phải biệt ly, bốn phương thiên hạ đông đảo hưng thịnh rồi cũng suy tàn.Xưa kia ta đã từng làm đứa trẻ thơ bốn vạn tám ngàn năm; làm vua bốn vạn támngàn năm, nhờ liên tục gắng tu, sau rốt, ta làm Chuyển-luân Thánh-vương đến támvạn bốn ngàn năm, trị vì bốn phương thiên hạ, cung điện dẫy đầy bảy báu, muôndân ấm no, hạnh phúc, thuyết pháp tám vạn bốn ngàn năm. Từ đấy đến nay trải quanăm mươi tám vạn bốn ngàn năm. Tuy mạng sống lâu dài, nhưng cuối cùng rồi cũnghết. Thành Câu-Thi-Na này trước đây cũng hưng thạnh to lớn, lại còn có đến támvạn bốn ngàn thành lớn khác tùy thuộc, cực thịnh vô cùng, rồi cũng suy tàn tiêutan với thời gian. Tất cả sự đời có hợp rồi phải tan, có thịnh rồi phải suy,còn rồi phải mất. Biết rõ điều đó, ta đã lo chuyên cần tịnh tâm tu mà được phầntối thắng. Ta cần phải trồng nhiều thiện căn hơn nữa". Chẳng bao lâu, vuaChuyển-luân Ðại-Thiện-Kiến ấy mạng chung, sanh lên cõi trời Phạm-Thiên.

A-Nan! Vua Chuyển-luânThánh-vương Ðại-Thiện-Kiến kia trị vì bốn châu thiên hạ, nhưng nhà vua cũng chỉở một thành Câu-Thi-Na cõi Diêm-phù-đề; voi ngựa mỗi thứ có đến hơn tám vạn bốnngàn con, nhưng nhà vua cũng chỉ cưỡi có một con. Tuy có tám vạn bốn ngàn xelàm bằng thất bảo sẵn sàng cung ứng, nhưng nhà vua cũng chỉ ngồi một chiếc. Tuycó tám vạn bốn ngàn phu nhân, nhưng nhà vua chỉ yêu quý có một người. Tuy cóhơn tám vạn bốn ngàn lâu đài cung điện làm bằng châu báu, mà thật sự nhà vuacũng chỉ ở một cung điện. Thế mà nhà vua phải bận tâm lo khắp bốn châu thiênhạ, buộc lòng vào chuyện chúng sanh, luống mệt tinh thần, mà chính bản thânkhông được mấy chân lợi ích.

Ðức Phật lại bảo tiếpA-Nan rằng: "Vua Chuyển-luân Ðại-Thiện-Kiến tôn quý kia không phải làngười nào khác lạ mà chính là tiền thân của ta. Thành Câu-Thi-Na huy hoàng rựcrỡ rộng lớn ngày xưa, chính là thành Câu-Thi-Na nhỏ hẹp ngày nay. Sự việc nhưthế, sao ông có thể nói thành Câu-Thi-Na nầy là chỗ biên địa được ư?"

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
18/10/2014(Xem: 46391)
Uống trà là một nét đẹp văn hóa truyền thống của Á Đông theo phương châm“Bình minh nhất trản trà". Cách đây hàng ngàn năm, con người đã biết đến trà như một loại nước uống mang lại sự sảng khoái, thanh khiết cho tinh thần, là cách để khai tâm mở trí. Người ta xem chén trà là đầu câu chuyện, là gợi mở tâm linh, là giao thoa văn hóa và kết nối lòng người.
10/10/2014(Xem: 6218)
Từ lâu, người ta tin rằng có một cái “bản ngã” thường hằng, bất biến, tồn tại độc lập trong vạn pháp. Trước sự nhầm lẫn tai hại đó, Phật Thích Ca bèn nói thuyết “Vô ngã” để chúng sinh phá chấp. “Vô ngã” không phải không có gì hết mà là không có tự tánh, không có tự thể riêng biệt. Đây là một trong ba Pháp ấn trong hệ thống giáo lý của Phật giáo (hai pháp ấn kia là Khổ và Vô thường). Gọi là Pháp ấn có nghĩa là trong tám mươi bốn ngàn pháp môn của đạo Phật nếu có pháp môn nào không có một trong ba khái niệm Khổ, Vô thường và Vô ngã thì không phải giáo lý đạo Phật.
03/10/2014(Xem: 5780)
Học sinh thường cho rằng, các thầy cô chỉ nhớ tên học sinh giỏi, học sinh đẹp hoặc hoạt động hiệu đoàn... Cho nên mỗi lần nếu tôi gặp lại một em học sinh không có gì xuất sắc ngày xưa mà tôi còn nhớ tên, thì đó là một niềm vui to lớn của em là được thầy cô còn nhớ mặt và nhớ tên của mình. Sau khi cuộc chiến lan tràn trên quê hương thầy trò phân tán, tôi đi cùng nam cực bắc, đi xa nửa trái địa cầu, rải rác khắp nơi, tôi vẫn gặp lại những em học sinh Đồng Khánh cũ. Và nhờ cố gắng nhớ mặt, nhớ tên các em, nên hầu như ở đâu tôi cũng gieo được chút niềm vui cho những người đang phập phồng chờ được gọi đích danh sau một câu mở đầu công thức: „Cô còn nhớ em không?“. Những con người ấy, những học sinh Đồng Khánh tha phương - xa trường, xa thầy bạn cũ đã xưa rất xưa, mà chính bản thân khi soi gương cũng không còn bắt được hình bóng mình ngày ấy..., bất giác còn được gọi tên, còn được nhớ, còn được nhắc nhở đến bao kỷ niệm của một thời. Ôi! Vui biết bao nhiêu, ấm áp ngọt ngào biết bao nhiêu
02/10/2014(Xem: 5724)
Ra đến bến xe trời hãy còn khuya khoắt, trông cảnh nhộn nhịp ì xèo rộn lên từ những gian hàng ăn uống ở một góc gần bên, và tiếng nói cười lăng xăng của hành khách đi lại lẫn với tiếng những người bán hàng rong mời mọc. Nhìn sang quầy bán vé bây giờ không giống như những ngày tháng sau năm 1975, bề mặt thoáng mát rộng rãi trang trí bởi những bảng quảng cáo, những hoa văn sắc màu, những hàng ghế để khách ngồi chờ trông lịch sự. Khách mua vé rất nhanh khỏe hơn xưa, không còn cảnh chen lấn xếp hàng cả buổi trời như trước đây, lại có thêm nhiều loại xe phục vụ trên các tuyến, việc nầy còn tùy thuộc vào túi tiền của hành khách, ai có tiền nhiều thì đi loại xe chất lượng cao, còn ai ít tiền thì đi loại xe bình dân hơn. Nói vậy chứ còn khá hơn trước Đây, bởi ba chiếc xe car cũ kỹ hoặc xe chạy bằng than đá trên những tuyến Miền Đông, Miền Tây vào những năm 1975 - 1990.
24/09/2014(Xem: 8202)
Xưa có một người quyết tâm học đạo, theo một vị thiền sư sống trong một cái cốc nhỏ, sống đạm bạc, quyết chí tu hành. Một này kia, có công việc, vị thiền sư phải đi xa, dặn đệ tử ở lại phải lo chăm chỉ tu hành, luôn luôn giữ lối sống đạm bạc và tâm hồn thanh tịnh. Người đệ tử này chỉ có một chiếc khố che thân. Đêm tới khi ngủ, máng khố trên vách, thường bị chuột chui ra cắn rách, phải xin bá tánh chút vải thừa thay khố nhiều lần.
03/09/2014(Xem: 6752)
Lúc đó tôi được 13 tuổi. Trước đó một năm gia đình tôi đã chuyển từ Bắc Florida đến miền Nam California. Tôi dễ hận thù khi vừa đến tuổi vị thành niên. Tôi rất nóng nảy và hay cãi lại đối với bất cứ chuyện gì dù nhỏ mà ba mẹ đề cập tới, đặc biệt là nếu nó liên quan đến tôi. Cũng giống như nhiều đứa trẻ lứa tuổi thiếu niên, tôi khó chấp nhận bất cứ điều gì đi ngược lại với quan điểm của mình về thế giới chung quanh. Một đứa bé “thông minh không cần dạy bảo”. Tôi phản đối bất cứ biểu lộ nào của tình thương. Thật sự, tôi dễ giận dữ khi đề cập đến cái từ “thương yêu”.
26/08/2014(Xem: 5960)
Ở ven bờ bể Mễ Tây Cơ, có một làng nhỏ chuyên sống nghề đánh cá, một chiếc thuyền con lướt sóng nhẹ vào bờ, đem về vài con cá khá to. Một ông khách Mỹ đứng trên bờ, khen ngợi nghề đánh cá tài giỏi của anh chàng Mễ Tây Cơ và hỏi anh ta mất bao nhiêu thì giờ mới được chừng đó cá. _ “ Không lâu lắm đâu !” anh Mễ Tây Cơ trả lời.
17/08/2014(Xem: 38626)
Đại Sư tên là Huệ Năng, cha họ Lư, tên húy là Hành Thao. Người mẹ họ Lý, sinh ra ngài nhằm giờ tý, ngày mùng tám tháng hai, năm Mậu Tuất, niên hiệu Trinh Quán thứ 12. Khi ấy, hào quang từ nhà ngài chiếu sáng lên không trung, mùi hương lạ tỏa lan khắp nhà. Đến tảng sáng, có hai vị tăng lạ mặt đến thăm, bảo cha ngài rằng: “Khuya nay ông vừa sinh quý tử, chúng tôi đến đây là để đặt tên cho cháu bé. Ông nên đặt trước là chữ Huệ, sau là chữ Năng.”
17/08/2014(Xem: 33092)
Nhân quả báo ứng là một tập truyện của Trung Quốc, có vẽ tranh minh họa rất sinh động. Tập truyện này trước do ngài Văn Xương Đế Quân đời nhà Tấn sưu tập những truyện nói về nhân quả và sự báo ứng qua nhiều triều đại ở Trung Quốc.
17/08/2014(Xem: 29723)
Nhân quả là định luật căn bản xuyên suốt quá trình thành trụ hoại diệt của tất cả chúng sinh từ đời này sang đời khác, cho đến vũ trụ, vạn vật cũng không phải tuần hành, biến dịch một cách ngẫu nhiên, vô lí, mà luôn tuân theo định luật nhân quả. Định luật này không do một đấng thần linh nào, xã hội nào đặt ra cả, mà là luật tự nhiên, âm thầm, lặng lẽ, nhưng luôn đúng đắn, chính xác, hiệu quả vô cùng.