65. Tuyền Ðại Ðạo

05/06/201115:05(Xem: 17286)
65. Tuyền Ðại Ðạo

CAO TĂNG DỊ TRUYỆN
(Truyện Kể Các Vị Cao Tăng Trung Quốc)
Hạnh Huệ biên soạn - Nhà Xuất Bản TP. Hồ Chí Minh 2001

65. TUYỀN ĐẠI ĐẠO

Cốc Tuyền, người Tuyền Nam, lúc nhỏ rất thông minh, nhưng ăn ở nhơ bẩn, nói năng lớn lối, thiếu khiêm nhường, không ai ưa. Ông bỏ nhà làm Sa môn, mà không giữa giới luật, làm theo ý mình, tăng chúng gai mắt nên hễ Sư vào tòng lâm là bị đuổi đi, Sư cũng chẳng bận tâm. Sư đến Phần Dương, ngài Thiện Chiêu lấy làm lạ, ngầm thọ ký. Sư lại trở về Nam, sống phóng lãng, qua lại đôi lần trong vùng Hồ Tương, đến Đạo Ngô gặp Từ Minh. Ở Đạo Ngô có ao, độc long ẩn dưới đó. Dù chỉ lá rụng thôi, sóng cũng dấy động, rồi mưa giông sấm sét suốt ngày. Đi qua ao này không ai dám thở. Buổi chiều, Sư cùng Từ Minh trở về. Trời thu nóng bức, Sư nắm áo Từ Minh rủ:

- Dám tắm không?

Từ Minh giựt tay áo lại bỏ đi thẳng. Sư cởi áo nhảy xuống ao, sấm sét nổi dậy, gió tanh thổi đến, mưa như trút nước, cây cối ngã rạp. Từ Minh ngồi trong đám cỏ, nghĩ bụng Cốc Tuyền chắc chết. Lát sau mưa tạnh chợt thấy Sư trồi đầu lên thở khì.

Sau Sư trụ Nam Nhạc, hang Lại Toản. Rồi dời về am Ba Tiêu, rồi đến am Bảo Chân. Sư đề thơ trên vách Ba Tiêu rằng:

Am Ba Tiêu ta đây

Ẩn sau lớp lớp mây

Cảnh lạ quanh co chưa rảnh đếm

Trước thấy từng nhỏ ba bốn cây

Lạnh đến đốt sam khô

Đói ăn củ khoai bự

Nay mà bỏ nó đi

Không biết ai đến ở?

(Dư thử Ba Tiêu am

U chiếm đôi vãn xứ

Bàn bàn dị cảnh vị hạ sổ

Tiên khán ải tùng tam tứ thọ

Hàn lai thiêu khô sam

Ngạ san đại tử dụ

Nhị kim khí chi khứ

Bất truy lai trụ).

Sư trụ Bảo Chân, đêm ngồi dưới ngọn Chúc Dung, bị một con trăn lớn quấn quanh mình. Sư lấy dây lưng cột ngang mình nó. Sáng ra chống gậy đi tìm, thấy dây lưng treo trên ngọn tùng, té ra tùng thành yêu. Sư thường đến huyện Hành Sơn, thấy hàng thịt đang xẻ thịt, liền đứng cạnh, điệu bộ thiểu não, chỉ thịt rồi chỉ vào miệng mình. Đồ tể hỏi:

- Ông câm hả?

Sư gật đầu. Đồ tể tội nghiệp cắt một miếng thịt bỏ vào bát Sư. Sư vui vẻ đi ra, rồi ngoái vào cảm ơn. Cả chợ đều cười ồ lên, Sư vẫn thản nhiên, treo bầu rượu lớn đầu gậy vào núi. Gặp người hỏi trong bầu có gì? Su trả lời:

- Tương đại đạo.

Rồi làm kệ:

Ta lại quản gì trời của anh,

Quản gì đất của anh,

Khoác cái áo giấy rách,

Cứ việc nằm ngủ khò.

Mặc kệ mặt trời lên phương Đông,

Mặt trăng lặn phương Tây,

Vinh nhục ăn thua gì đến ta.

Hưng vong chẳng dính dáng

Một cây trụ trượng,

Một bầu hồ lô.

Chạy hết núi Nam qua núi Bắc

Nuôi một đầy tớ tên Điều Cổ (con trâu thuần)

Ta sai lượm củi, múc nước suối,

Hoặc gọi ngồi cùng trong núi đá.

Tặng hắn bài kệ rằng:

Ta có sơn đồng tên Điều Cổ,

Không tụng kinh, chẳng lễ Tổ.

Biết đốn cây ngừa đông lạnh

Áo quần tùy phận rách chẳng vá.

Biết trồng rau, hay cắm khoai

Ngàn núi muôn núi đi chẳng sợ

A ha ha!! Có chỗ yên ổn nào hơn nữa?

(Ngã hựu thùy quản nễ thiên

Thùy quản nễ địa,

Trước cá phá chỉ áo

Nhất vị công đả thùy

Nhất nhâm kim ô đông thượng

Ngọc thố tây đọa,

Vinh nhục hà dự ngã

Hưng vong bất tương quan

Nhất điều trụ trượng,

Nhất hồ lô gian

Tẩu nam Sơn dữ Bắc Sơn

Súc nhất nô danh Điều Cổ

Tự linh thập tân cấp giản

Hoặc hô đối tọa nham thạch gian

Tặng chi dĩ kệ viết:

Ngã hữu sơn đồng danh Điều Cổ

Bất tụng kinh, bất lễ Tổ

Giải bàn cốt đốt ngữ đông hàn

Tuỳ phận y thường phá bất bổ

Hội tài sơ, năng chủng dụ

Thiên sơn vạn sơn khứ vô cụ

A ha ha!

Hữu thậm thảo xứ ỷ?)

Có thượng tọa đến tham vấn hỏi:

- Am chủ ở đâu?

Sư hỏi:

- Ai đó?

Đáp:

- Tăng hành khước.

Hỏi:

- Đến làm gì?

- Lễ bái am chủ.

- Vừa lúc am chủ không có nhà.

- Chính là Ngài mà!

Sư bảo:

- Đã nói không có nhà mà còn nói cái gì là ngài với ngày ...

Rồi vác gậy đuổi ra. Ngày kế ông lại đến, cũng bị đuổi ra. Một hôm lại đến, Sư nắm đứng lại hỏi:

- Chỗ ta ở đây, đầy phẩn tiểu của cọp beo qua lại. Con quỷ này ba lần đến, hai lần đi, ông muốn gì?

Tăng thưa:

- Người ta bảo am chủ từng thân gặp Phần Dương, nên tôi đến tìm.

Sư hớn hở cởi áo nói:

- Ông bảo ta đã gặp Phần Dương, xem có gì kỳ đặc không?

Sau Sư gặp Từ Minh, làm kệ rằng:

Xa nhau đã nửa năm,

Biết còn ai chuyện thiền với tôi!

Tương Sơn một dãy vời

Ông nuôi đồ chúng, tôi vùi giấc say.

(Tương biệt nhi kim hựu bán niên

bất tri thủy cộng đối dàm thiền!

Nhất ban tú sắc Tương Sơn lý

Nhữ tự khuông đồ, ngã tự miên).

Tự Minh cười mà thôi, rồi sai Nam Công (Huệ Nam) lại gặp Sư. Hai bên trò chuyện, Nam Công kinh hãi nói:

- Khắp trong năm châu mới có được đạo nhân méo này chăng?

Khoảng niên hiệu Gia Hựu, Sư vì người sàm báng nên đang ở Kinh Do, Thanh Tằng bị bắt giam vào ngục ở Xâm Châu. Trời nóng nực, Sư phải gánh đất, qua ngã tư đường. Sư buông gánh xuống nói:

Sáng nay 6 tháng 6

Cốc Tuyền bị bỏ cuộc

Không phải lên thiên đường

Ắt là xuống địa ngục.

(Kim triêu lục nguyệt lục

Cốc Tuyền bị chí khúc

Bất thị thướng thiên đường

Tiện thị nhập địa ngục).

Nói xong cười nhẹ, thản nhiên thoát xác. Trà tỳ xá lợi đếm không nổi. Người đất Xâm dựng khám thờ. Sư thọ 94 tuổi.

52. THIỀN SƯ QUY TÔNG TUYÊN

Thiền Sư Quy Tông Tuyên, người Hán Châu, nối pháp Ngài Lang Gia Quảng Chiếu kết thân với Quách Công Phủ. Chợt một hôm có quan trấn thủ Nam Khang đến, Sư sai người đem thơ cho Công Phủ lại dặn người đưa thơ chớ cho quan huyện trông thấy. Công Phủ đọc thơ thấy ủy thác rằng:

- Tôi còn sáu năm duyên đời chưa hết, hôm nay không chịu nổi áp bức muốn thác sanh vào nhà ông, mong ông chiếu cố cho.

Công Phủ vừa sợ vừa mừng, nửa đêm bà vợ mơ màng thấy Sư vào trong phòng ngủ, bất giác thất thanh nói:

- Đây không phải là chỗ Hòa thượng đến.

Công Phủ hỏi duyên cớ, bà vợ kể lại. Công Phủ sai đốt đền, lấy thơ của Sư cho coi. Quả nhiên sau bà vợ có thai sanh con đặt là Tuyên Quang. Vừa đầy năm đã nhớ hỏi chuyện trước.

Đến ba tuổi, Hòa thượng Bạch Vân Đoan đi qua nhà này, Công Phủ kêu con ra tương kiến, vừa thấy kêu lên:

- Sư Điệt! (cháu).

Hòa thượng Đoan nói:

- Cùng Hòa thượng từ biệt nhau đã mấy năm rồi?

Tuyên co ngón tay nói:

- Bốn năm.

Hòa thượng Đoan nói:

- Tương biệt tại đâu?

- Tại Bạch Liên Trang.

- Lấy gì để chứng nghiệm?

- Cha mẹ tôi ngày mai sẽ mời Hòa thượng thọ trai.

Chợt có tiếng đẩy xe qua ngoài cửa. Hòa thượng Đoan nói:

- Tiếng gì ngoài cửa vậy?

Tuyên làm thế đẩy xe. Hòa thượng Đoan nói:

- Qua thế nào?

- Đất bằng có một rãnh nước.

Đến sáu tuổi không bệnh mà chết.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
04/11/2011(Xem: 5851)
Tiếng súng nổ từ xa, dù lớn dù nhỏ, vẫn là chuyện thông thường không thắc mắc đối với dân Quảng Ngãi trong thời chiến tranh. Nhưng đêm nay, đêm mồng một Tết, tiếng súng nổ bên tai làm cả nhà tôi bàng hoàng. Không ai bảo ai đều giật mình thức giấc rồi chạy ào xuống nhà núp dưới chân cầu thang. Tiếng súng nổ gần quá, tôi nghe cả tiếng hô hoán: “Tiến lên!” giọng Bắc rặc của một người chỉ huy nào đó. Trời! Không lẽ mặt trận đang diễn ra trong thành phố? Tim tôi đập loạn xạ, dù mồ hôi vã ra, răng tôi vẫn đánh bò cạp. Tôi rúc vào lòng năm chị em gái và ba má của tôi. Tiếng khóc thút thít vì sợ hãi muốn oà ra nhưng tôi cố dằn lòng sợ địch quân nghe thấy. Ầm! Một trái pháo kích rớt trúng nhà phía sau của tôi. Ngói bể rơi loảng xoảng, khói đạn bay mịt mù. Tôi chỉ kịp thét lên, ôm cứng lấy má tôi, hồn như bay khỏi xác. Đó là năm Mậu Thân 1968, lúc tôi 14 tuổi.
27/10/2011(Xem: 31511)
Bùi Giáng, Người viết sách với tốc độ kinh hồn
12/10/2011(Xem: 26048)
Truyện thơ Tôn giả La Hầu La - Tác giả: Tâm Minh Ngô Tằng Giao
01/10/2011(Xem: 10560)
Hàng ngũ phật tử thường được chia là phật tử tại gia và phật tử xuất gia. Các phật tử tại gia thường được gọi là cư sĩ. Trong lịch sử đạo Phật có ghi lại chuyện một số các vị cư sĩ nổi tiếng, tuy các vị ấy không xuất gia nhưng về phương diện tu hành, thấu hiểu đạo lý thì không thua kém gì các vị đã xuất gia. Có nhiều vị cư sĩ nổi tiếng nhưng bài này chỉ xin nhắc đến ông Duy Ma Cật, bà hoàng hậu Thắng Man, cư sĩ Huệ Năng lúc chưa xuất gia và sau đó đến gia đình ông Bàng Uẩn.
25/09/2011(Xem: 6291)
Lời hát ru nhẹ nhàng mà trầm buồn da diết ấy đi vào trong cả giấc mơ của Hiền. Bao lần chị giựt mình thảng thốt ngồi bật dậy… ngơ ngác nhìn quanh. Chẳng có gì khác ngoài bóng đêm lạnh giá bao trùm hai dãy xà lim hun hút. Chốc chốc vẳng lại tiếng thạch sùng chặc lưỡi, tiếng chí chóe của mấy chú tí ưa khuấy rối trong xó tối. Và cả tiếng thở dài của ai đó dội qua mấy bức tường xanh rêu im ỉm…
24/09/2011(Xem: 4362)
Ngày xưa có một chàng trai tên là Na Á. Anh mồ côi cha từ sớm, ở với mẹ già. Nhà Na Á nghèo, anh phải làm nghề đánh cá để nuôi thân, nuôi mẹ.
24/09/2011(Xem: 5157)
Một hôm em bé ngồi trong bóng cây trú nắng, gió cũng thổi mát quá, em ngủ quên, đến lúc thức dậy, thì đàn trâu đã đi mất. Em tìm khắp cánh đồng mà chẳng thấy.
21/09/2011(Xem: 4823)
Tờ Chú (có nghĩa là anh đen) nghèo nhất làng. Họ nghèo lắm, nghèo đến nỗi không có một con dao mẻ để phát nương, một cái thuổng để đào củ mài.
21/09/2011(Xem: 4379)
Ngày xưa, ở xã Đại An gần cù lao Huân tỉnh Khánh Hòa có một đôi vợ chồng già không có con cái. Ông bà ở trong một căn nhà lá dựng bên vách núi, làm nghề trồng dưa.
16/09/2011(Xem: 15914)
Tôi cảm động, vì sống trong đạo giải thoát tôi đã tiếp nhận được một thứ tình thiêng liêng, trong sáng; một thứ tình êm nhẹ thanh thoát đượm ngát hương vị lý tưởng...