34. Mèo và gà

26/03/201108:33(Xem: 7932)
34. Mèo và gà

CHUYỆN PHẬT ĐỜI XƯA
Đoàn Trung Còn biên soạn, Nguyễn Minh Tiến hiệu đính

MÈO VÀ GÀ

Thuở trước, trong một khu rừng rất lớn có một con mèo cái thường đi rình bắt mồi. Một hôm, mèo đi cả ngày mà chẳng được miếng ăn nào. Nó đói bụng lắm và thèm ăn đến chảy nước dãi. Rồi nó nhìn lên cây, thấy con gà rừng đang đậu trên đó, mập mạp và lông lá tươi tốt lắm. Gà vốn hiền lành, hay thương mến các loài vật khác. Nhưng mèo thấy gà thì đã muốn hại mạng rồi. Nó mới nhè nhẹ đến gần dưới cây, ngước đầu lên, dùng lời dịu ngọt mà ngâm một bài thơ tứ tuyệt để dụ dỗ rằng:

Duyên đâu ta khéo gặp nhau đây,

Phận thiếp thầm yêu những bấy chầy.

Chàng nếu chẳng chê là thấp thỏi.

Thì xin mời xuống để sum vầy.

Gà ở trên cây nghe xong họa lại rằng:

Tình cờ mà hội đó cùng đây,

Ta thật mừng cho biết chẳng chây.

Nhưng tớ hai chân, người bốn cẳng.

Làm sao có thể được sum vầy?

Mèo thấy có hơi trắc trở, nhưng cũng cố bồi tiếp một bài thơ nữa rằng:

Trong bấy lâu nay lịch duyệt nhiều,

Gót hèn rảo khắp dám đâu kiêu.

Phồn hoa lắm kẻ mình quen biết,

Thôn dã như ngươi, tớ mới chiều.

Quân tử oai nghiêm xem đã thích,

Thuyền quyên đầm thấm thấy mà yêu.

Hay là tơ nguyệt xui ta đó,

Có nghĩa trăm năm kết chỉ điều.

Gà nghe tức cười, vì thấy mèo tưởng mình là dại nên cứ theo vỗ về mãi. Tuy vậy, gà cũng đáp lại bằng một bài tám câu:

Ta dẫu chưa khôn cũng ít nhiều,

Ngón nghề như thế mới là kiêu.

Trớ trêu với mổ lừa đâu mắc,

Sâu sắc cùng ai gạt bởi chiều.

Hai chữ a dua mà bảo thích,

Một niềm gao gắt ấy rằng yêu.

Nợ duyên gì lạ mà ngươi đặt?.

Chẳng nghĩa trăm năm, miếng thịt điều!

Mèo nghe gà miệt thị mà không thối chí, cứ dùng luôn cái nghề “ngọt bùi đánh lận”. Cho nên nó mới tiếp một bài nữa rằng:

Tài tử giai nhân nợ sẵn sàng,

Thế mà nỡ phụ khách đa mang.

Vui chi cái kiếp bay thơ thẩn,

Sướng bấy cuộc đời nghỉ rảnh rang.

Ví đó muốn vầy tình nhẫm tịch,(1)

Thì đây nguyền vẹn nghĩa tào khang.(2)

Cùng nhau vì nết càng ưu mến,

Cùng bóng đôi bên thiếp với chàng.

Gà đã tức cười lắm rồi, nhưng vẫn có ý khôn, nếu lặng thinh thì thành ra bất tài, nên cũng đáp lại rằng:

Tráo trở là ngươi đứa sỗ sàng,

Bạc tình lại dám nói đa mang.

No nê bay khắp ca thong thả.

Đói khó dông cùng thốt tiếng ran.

Mắt đục, lông hồng đâu nhẫm tịch?

Hiền nhân, tục tử dễ tào khang?

Thôi đừng nói nữa mà vô ích,

Trên dưới riêng hai chẳng thiếp chàng.

Rồi gà muốn dứt chuyện mà bay đi, nên đọc một bài tứ tuyệt để đập tan cái ảo mộng lừa bịp của mèo. Thơ rằng:

Rày ta muốn dạy đứa si tâm,

Chớ tưởng là ta dễ mắc lầm.

Lẽ ác chẳng qua chân lý cả.

Hẳn mày chưa hiểu đạo cao thâm!

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/10/2011(Xem: 30200)
Bùi Giáng, Người viết sách với tốc độ kinh hồn
12/10/2011(Xem: 25211)
Truyện thơ Tôn giả La Hầu La - Tác giả: Tâm Minh Ngô Tằng Giao
01/10/2011(Xem: 9746)
Hàng ngũ phật tử thường được chia là phật tử tại gia và phật tử xuất gia. Các phật tử tại gia thường được gọi là cư sĩ. Trong lịch sử đạo Phật có ghi lại chuyện một số các vị cư sĩ nổi tiếng, tuy các vị ấy không xuất gia nhưng về phương diện tu hành, thấu hiểu đạo lý thì không thua kém gì các vị đã xuất gia. Có nhiều vị cư sĩ nổi tiếng nhưng bài này chỉ xin nhắc đến ông Duy Ma Cật, bà hoàng hậu Thắng Man, cư sĩ Huệ Năng lúc chưa xuất gia và sau đó đến gia đình ông Bàng Uẩn.
25/09/2011(Xem: 6028)
Lời hát ru nhẹ nhàng mà trầm buồn da diết ấy đi vào trong cả giấc mơ của Hiền. Bao lần chị giựt mình thảng thốt ngồi bật dậy… ngơ ngác nhìn quanh. Chẳng có gì khác ngoài bóng đêm lạnh giá bao trùm hai dãy xà lim hun hút. Chốc chốc vẳng lại tiếng thạch sùng chặc lưỡi, tiếng chí chóe của mấy chú tí ưa khuấy rối trong xó tối. Và cả tiếng thở dài của ai đó dội qua mấy bức tường xanh rêu im ỉm…
24/09/2011(Xem: 4093)
Ngày xưa có một chàng trai tên là Na Á. Anh mồ côi cha từ sớm, ở với mẹ già. Nhà Na Á nghèo, anh phải làm nghề đánh cá để nuôi thân, nuôi mẹ.
24/09/2011(Xem: 4873)
Một hôm em bé ngồi trong bóng cây trú nắng, gió cũng thổi mát quá, em ngủ quên, đến lúc thức dậy, thì đàn trâu đã đi mất. Em tìm khắp cánh đồng mà chẳng thấy.
21/09/2011(Xem: 4391)
Tờ Chú (có nghĩa là anh đen) nghèo nhất làng. Họ nghèo lắm, nghèo đến nỗi không có một con dao mẻ để phát nương, một cái thuổng để đào củ mài.
21/09/2011(Xem: 4078)
Ngày xưa, ở xã Đại An gần cù lao Huân tỉnh Khánh Hòa có một đôi vợ chồng già không có con cái. Ông bà ở trong một căn nhà lá dựng bên vách núi, làm nghề trồng dưa.
16/09/2011(Xem: 15252)
Tôi cảm động, vì sống trong đạo giải thoát tôi đã tiếp nhận được một thứ tình thiêng liêng, trong sáng; một thứ tình êm nhẹ thanh thoát đượm ngát hương vị lý tưởng...
12/09/2011(Xem: 5341)
Hồ Biểu Chánh (1884–1958), tên thật là Hồ Văn Trung, tự Biểu Chánh, hiệu Thứ Tiên; là một nhà văn tiên phong của miền Nam Việt Nam ở đầu thế kỷ 20. Ông sinh năm 1885 (trong giấy khai sinh ghi ngày 1 tháng 10 năm 1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Ông vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ.