95. Sanh tử khổ lắm thay!

04/03/201103:31(Xem: 10728)
95. Sanh tử khổ lắm thay!

MỘT TRĂM BÀI KINH PHẬT
Đoàn Trung Còn - Nguyễn Minh Tiến dịch và chú giải

PHẨM THỨ MƯỜI: CÁC NHÂN DUYÊN KHÁC

SANH TỬ KHỔ LẮM THAY!

Lúc ấy, Phật ở gần thành Xá-vệ, trong vườn Kỳ thọ Cấp Cô Độc. Trong thành có một người trưởng giả giàu có vô cùng, chọn một người thuộc dòng hào tộc mà cưới về làm vợ, cùng nhau chung sống ấm êm hạnh phúc.

Không bao lâu người vợ có thai, sinh được một bé trai. Đứa trẻ sanh ra tự nhớ tiền kiếp, lên tiếng nói với người chung quanh rằng: “Sanh tử khổ lắm thay!” Nhân đó, cha mẹ mới đặt tên cho là Sanh Tử Khổ.

Dần dần khôn lớn nên người, mỗi khi gặp gỡ bằng hữu thường nói lời này: “Sanh tử khổ lắm thay! Các vị đối với bậc cha mẹ, thầy dạy, các bậc tôn trưởng cao niên đức hạnh, nên đem lòng hiếu kính, vâng theo, chớ nên dùng những lời thô tục, ác độc mà đối đáp.”

Ngày kia, cùng đi chơi với các vị thân hữu, đến chỗ tinh xá Kỳ Hoàn được gặp Phật. Nhìn thấy đức Thế Tôn với ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, hào quang chiếu sáng quanh thân, oai nghi rực rỡ thù thắng vô cùng, Sanh Tử Khổ liền sanh tâm hoan hỷ, kính ngưỡng, chí thành lễ bái rồi đứng sang một bên.

Phật nhân đó thuyết pháp Tứ diệu đế cho nghe. Tâm ý khai mở, liền đắc quả Tu-đà-hoàn. Khi trở về nhà, liền thưa xin cha mẹ cho xuất gia nhập đạo. Cha mẹ thương yêu lắm, chẳng muốn trái ý, liền dẫn đến tinh xá Kỳ Hoàn cầu Phật xin cho xuất gia. Phật nói: “Lành thay đó, tỳ-kheo!” Tức thì, râu tóc tự nhiên rụng sạch, áo cà-sa hiện ra nơi thân, thành một vị tỳ-kheo oai nghi đầy đủ. Chuyên cần tu tập, chẳng bao lâu đắc quả A-La-hán, đủ Ba trí sáng, Sáu phép thần thông, Tám môn giải thoát, khắp cõi trời người ai gặp cũng đều kính trọng, ngưỡng mộ.

Chư tỳ-kheo thấy việc như vậy thưa hỏi Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Tỳ-kheo Sanh Tử Khổ trước đây đã trồng những căn lành gì, nay vừa sanh ra liền biết nói, nhớ được chuyện kiếp trước, lại được gặp Phật xuất gia đắc đạo?”

Phật bảo chư tỳ-kheo: “Các ngươi hãy chú tâm lắng nghe, ta sẽ vì các ngươi mà phân biệt giảng nói. Giữa Hiền kiếp này, xứ Ba-la-nại có Phật ra đời, hiệu là Ca-diếp. Trong chúng hội của ngài, có vị sa-di theo phụng sự một hòa thượng. Ngày kia, trong thành có lễ hội lớn, sa-di bạch hòa thượng rằng: “Hôm nay có lễ hội, chúng ta nên đi khất thực sớm, chắc sẽ được nhiều.” Hòa thượng đáp: “Giờ vẫn còn sớm, con nên ngồi thiền đi.” Lại nói đến lần thứ hai, lần thứ ba, hòa thượng cũng đều đáp như vậy.

“Chú sa-di liền nổi nóng lên, buông lời ác khẩu rằng: ‘Sao ông không chết quách luôn trong phòng đi?’ Nói rồi bỏ đi ra, một mình vào thành khất thực. Khi trở về liền lạy thầy xin sám hối.

“Do nghiệp duyên ấy, trong năm trăm đời phải đọa vào địa ngục, thọ những khổ não không sao nói hết. Nay vừa được thoát ra, nên nói rằng: Sanh tử khổ lắm thay!”

Phật lại dạy rằng: “Chú sa-di nhỏ buông lời xúc phạm vị hòa thượng kia, nay là tỳ-kheo Sanh Tử Khổ đó.”

Các vị tỳ-kheo nghe Phật thuyết nhân duyên này xong thảy đều vui mừng tin nhận.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16/09/2011(Xem: 16735)
Tôi cảm động, vì sống trong đạo giải thoát tôi đã tiếp nhận được một thứ tình thiêng liêng, trong sáng; một thứ tình êm nhẹ thanh thoát đượm ngát hương vị lý tưởng...
12/09/2011(Xem: 7151)
Hồ Biểu Chánh (1884–1958), tên thật là Hồ Văn Trung, tự Biểu Chánh, hiệu Thứ Tiên; là một nhà văn tiên phong của miền Nam Việt Nam ở đầu thế kỷ 20. Ông sinh năm 1885 (trong giấy khai sinh ghi ngày 1 tháng 10 năm 1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Ông vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ.
11/09/2011(Xem: 17641)
Tôi thức dậy trong một sự yên tĩnh như thế ấy ở Pomona. Tiếng chim hót vang rừng những không thể nói là tiếng ồn. Nó lại càng làm cho sự yên lặng thêm sâu hơn về bề sâu là khác.
06/09/2011(Xem: 15556)
Đóa sen, nếu nhìn dưới kính hiển vi và suy luận theo thiên văn học, là nền tảng của vũ trụ và cũng là một phương tiện giúp ta khám phá vũ trụ.
05/09/2011(Xem: 11670)
Điều tôi muốn là con đường đưa đến sự chấm dứt mọi đau khổ, một con đường đã được khám phá hơn hai ngàn năm trăm năm nay nhưng mãi đến thời gian gần đây tôi mới ý thức được nó.
05/09/2011(Xem: 9993)
Tinh thần Hoa Nghiêm từng dạy một câu rất thâm sâu nhưng chỉ cần lắng tâm là có thể nắm bắt được. Đó là: “Khoảnh khắc chứa đựng thiên thu”. Mỗi phút giây là mỗi thách thức của ta qua sự hiện hữu ở cõi Ta Bà này. Ta phải nghĩ thế nào để có chánh niệm, thở thế nào để có tỉnh thức, sống thế nào để có an lạc. Bước được một bước chân vào Tịnh Độ thì cần gì trăm năm?! Khoảnh khắc đó chính là thiên thu đấy.... Đức Phật là tiêu biểu tuyệt hảo về Từ, Bi, Hỷ Xả. Đó là Tứ Vô Lượng Tâm toàn bích, không một tỳ vết, thể hiện qua suốt cuộc đời thị hiện ta-bà của Ngài.
01/09/2011(Xem: 4967)
Lữ khách một mình trên lối mòn vào thung lũng An-nhiên. Núi rừng trùng điệp miền Bản-ngã-sơn huyền bí, nhàn nhạt ánh mặt trởi trên bóng lá thâm u. Mơ hồ đâu đó phảng phất khói lam ai đốt lau làm rẫy dưới sườn non.
31/08/2011(Xem: 25040)
Cám ơn nàng. Nàng đã đem lại cho ta SỰ THẬT. Nàng đã cho ta thấy cái phi lý của tưởng tượng. Ta sẽ không còn ôm giữ một hình ảnh nào, vì Phật đã dạy: Pháp còn phải bỏ huống chi phi pháp.
29/08/2011(Xem: 12581)
Cha cô vẫn nói, cô giống mẹ từ chân tơ, kẽ tóc, vừa xinh đẹp, vừa tài hoa. Cha thương nhớ mẹ bao nhiêu là yêu quí cô bấy nhiêu.
29/08/2011(Xem: 18768)
Bàng bạc khắp trong tam tạng kinh điển, hằng hà sa số mẩu truyện, đức Phật thường nhắc đến sự liên hệ giữa Ngài và các đệ tử, giữa chúng sanh và Ngài trong những kiếp quá khứ.