56. Chim két thỉnh Phật

04/03/201103:31(Xem: 10323)
56. Chim két thỉnh Phật

MỘT TRĂM BÀI KINH PHẬT
Đoàn Trung Còn - Nguyễn Minh Tiến dịch và chú giải

PHẨM THỨ SÁU: CHƯ THIÊN CÚNG DƯỜNG

CHIM KÉT THỈNH PHẬT

Lúc ấy, Phật ở gần thành Xá-vệ, trong vườn Kỳ thọ Cấp Cô Độc. Mùa an cư vừa mãn, Phật cùng chư tỳ-kheo ra khỏi thành đi giáo hóa ở những vùng xa xôi.

Bấy giờ, vua Tần-bà-sa-la cùng với quần thần đều mong mỏi được gặp lại Phật, mới cùng nhau ra bên ngoài thành mà vọng bái, khấn nguyện rằng: “Đức Như Lai Thế Tôn hiện nay chẳng biết ở đâu, xin ngài mở lòng từ bi thương xót, trở về đây nhận sự cúng dường của chúng con.”

Phật biết được tâm nguyện khát ngưỡng của vua, liền cùng chư tỳ-kheo nhắm hướng nước Ma-kiệt-đề mà quay về.

Trên đường, đến khu rừng kia có một bầy chim két rất đông, trong đó có một con được tôn là vua két. Vua két nhìn thấy Phật từ xa đi lại liền bay đến nghinh tiếp. Vua két thưa với Phật rằng: “Xin thỉnh đức Thế Tôn và chư tỳ-kheo tăng ghé lại khu rừng chỗ chúng con ở mà nghỉ lại một đêm.” Phật liền nhận lời.

Vua két được Phật nhận lời, liền trở về khu rừng của mình, gọi cả bày chim két cùng ra nghênh tiếp Phật với chư tỳ-kheo tăng. Phật với chư tăng vào rừng rồi, dọn chỗ dưới các gốc cây trong rừng mà ngồi thiền.

Vua két nhìn thấy Phật với chư tăng tọa thiền dưới gốc cây, trong lòng vô cùng vui mừng hoan hỷ, nên suốt đêm không ngủ, bay quanh trên trời canh chừng các loại chim chóc, cầm thú, cho đến chó sói, cọp beo, sư tử... chẳng để cho quấy nhiễu Phật với chư tỳ-kheo.

Đến rạng sáng, Phật với chư tăng ra đi, vua két liền bay trước dẫn đường, thẳng đến thành Vương-xá mà báo trước với vua Tần-bà-sa-la: “Đức Thế Tôn và chư tỳ-kheo đang trên đường về tới, đại vương với quần thần nên chuẩn bị các thứ phẩm vật cúng dường, và cho người đi trước nghinh tiếp.”

Vua Tần-bà-sa-la nghe tin vui mừng khôn xiết, liền cùng các vị quần thần kéo ra ngoài thành một quãng xa để nghinh tiếp.

Đêm hôm đó, vua két mạng chung, sinh lên cõi trời Đao-lỵ. Vừa sinh ra đã cao lớn như đứa bé tám tuổi, liền tự suy nghĩ rằng: “Không biết ta đã tạo phước lành gì mà nay được sinh lên cõi trời này.” Rồi tự quán sát, nhớ lại thân trước là vua két, do công đức thỉnh Phật và chư tăng nghỉ lại trong rừng một đêm nên được sinh lên cõi trời. Biết như vậy rồi, liền muốn hiện đến cúng dường báo ân Phật.

Liền tự hiện thân trang nghiêm đẹp đẽ, mang theo những hoa hương, trân bảo cõi trời, hiện đến chỗ Phật mà lễ bái, cúng dường. Phật thuyết pháp cho nghe rồi, thiên tử ấy được đắc quả Tu-đà-hoàn, liền chí thành lễ Phật rồi quay về cõi trời.

Sáng hôm sau, chư tỳ-kheo thưa hỏi Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Đêm qua có hào quang chiếu sáng ở chỗ Phật, chẳng hay đó là các vị Thích phạm, Chuyển luân thánh vương, hay hai mươi tám bộ quỷ thần đến nghe pháp?”

Phật nói: “Chẳng phải Thích phạm, thiên thần, tứ thiên vương đến nghe pháp. Ấy là vua của loài chim két, nhờ công đức thỉnh ta với chư tăng nghỉ lại một đêm nên mạng chung được sinh lên cõi trời Đao-lỵ, nay hiện đến đây lễ bái cúng dường ta. Do đó mà có ánh hào quang ấy.”

Các vị tỳ-kheo lại thưa hỏi rằng: “Bạch Thế Tôn! Vị thiên tử ấy trước đã tạo nghiệp gì phải sinh làm thân chim két, lại nhờ phước lành gì mà nay nghe pháp được đắc quả?”

Phật bảo chư tỳ-kheo: “Các ngươi hãy chú tâm lắng nghe, ta sẽ vì các ngươi mà phân biệt giảng nói. Vào giữa Hiền kiếp này, xứ Ba-la-nại có một vị Phật ra đời hiệu là Ca-diếp. Trong pháp hội của ngài có một vị trưởng giả thọ trì năm giới. Người ấy có lần phạm vào một giới, nên về sau phải sinh làm thân chim két. Nhờ bốn giới kia được trọn vẹn, nên lại được gặp Phật, nghe pháp chứng quả.”

Phật bảo chư tỳ-kheo: “Người cư sĩ trưởng giả ngày ấy, chính là thân vua két, nay được sinh lên cõi trời đó.”

Các vị tỳ-kheo nghe Phật thuyết nhân duyên này xong thảy đều vui mừng tin nhận.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16/09/2011(Xem: 16087)
Tôi cảm động, vì sống trong đạo giải thoát tôi đã tiếp nhận được một thứ tình thiêng liêng, trong sáng; một thứ tình êm nhẹ thanh thoát đượm ngát hương vị lý tưởng...
12/09/2011(Xem: 6811)
Hồ Biểu Chánh (1884–1958), tên thật là Hồ Văn Trung, tự Biểu Chánh, hiệu Thứ Tiên; là một nhà văn tiên phong của miền Nam Việt Nam ở đầu thế kỷ 20. Ông sinh năm 1885 (trong giấy khai sinh ghi ngày 1 tháng 10 năm 1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Ông vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ.
11/09/2011(Xem: 17079)
Tôi thức dậy trong một sự yên tĩnh như thế ấy ở Pomona. Tiếng chim hót vang rừng những không thể nói là tiếng ồn. Nó lại càng làm cho sự yên lặng thêm sâu hơn về bề sâu là khác.
06/09/2011(Xem: 15245)
Đóa sen, nếu nhìn dưới kính hiển vi và suy luận theo thiên văn học, là nền tảng của vũ trụ và cũng là một phương tiện giúp ta khám phá vũ trụ.
05/09/2011(Xem: 11449)
Điều tôi muốn là con đường đưa đến sự chấm dứt mọi đau khổ, một con đường đã được khám phá hơn hai ngàn năm trăm năm nay nhưng mãi đến thời gian gần đây tôi mới ý thức được nó.
05/09/2011(Xem: 9779)
Tinh thần Hoa Nghiêm từng dạy một câu rất thâm sâu nhưng chỉ cần lắng tâm là có thể nắm bắt được. Đó là: “Khoảnh khắc chứa đựng thiên thu”. Mỗi phút giây là mỗi thách thức của ta qua sự hiện hữu ở cõi Ta Bà này. Ta phải nghĩ thế nào để có chánh niệm, thở thế nào để có tỉnh thức, sống thế nào để có an lạc. Bước được một bước chân vào Tịnh Độ thì cần gì trăm năm?! Khoảnh khắc đó chính là thiên thu đấy.... Đức Phật là tiêu biểu tuyệt hảo về Từ, Bi, Hỷ Xả. Đó là Tứ Vô Lượng Tâm toàn bích, không một tỳ vết, thể hiện qua suốt cuộc đời thị hiện ta-bà của Ngài.
01/09/2011(Xem: 4734)
Lữ khách một mình trên lối mòn vào thung lũng An-nhiên. Núi rừng trùng điệp miền Bản-ngã-sơn huyền bí, nhàn nhạt ánh mặt trởi trên bóng lá thâm u. Mơ hồ đâu đó phảng phất khói lam ai đốt lau làm rẫy dưới sườn non.
31/08/2011(Xem: 22906)
Cám ơn nàng. Nàng đã đem lại cho ta SỰ THẬT. Nàng đã cho ta thấy cái phi lý của tưởng tượng. Ta sẽ không còn ôm giữ một hình ảnh nào, vì Phật đã dạy: Pháp còn phải bỏ huống chi phi pháp.
29/08/2011(Xem: 10856)
Cha cô vẫn nói, cô giống mẹ từ chân tơ, kẽ tóc, vừa xinh đẹp, vừa tài hoa. Cha thương nhớ mẹ bao nhiêu là yêu quí cô bấy nhiêu.
29/08/2011(Xem: 18385)
Bàng bạc khắp trong tam tạng kinh điển, hằng hà sa số mẩu truyện, đức Phật thường nhắc đến sự liên hệ giữa Ngài và các đệ tử, giữa chúng sanh và Ngài trong những kiếp quá khứ.