60. Thiên nga nghe pháp

04/03/201103:31(Xem: 9920)
60. Thiên nga nghe pháp

MỘT TRĂM BÀI KINH PHẬT
Đoàn Trung Còn - Nguyễn Minh Tiến dịch và chú giải

PHẨM THỨ SÁU: CHƯ THIÊN CÚNG DƯỜNG

THIÊN NGA NGHE PHÁP

Lúc ấy, Phật đang ở trong nước Ba-la-nại, tại một vùng rừng núi đầm lầy, vì dân chúng nơi ấy mà thuyết pháp.

Bấy giờ, trên không có một bầy thiên nga 500 con, nghe âm thanh thuyết pháp của Phật sinh lòng hoan hỷ, kính mộ, liền hạ xuống bay đến gần để nghe cho rõ.

Có người bẫy chim đang giăng lưới gần đó, nhìn thấy bầy thiên nga bay xuống thấp thì giăng lưới ra mà chờ. Bầy thiên nga vô tình đáp xuống liền mắc lưới bị bắt trọn.

Năm trăm thiên nga ấy đều bị người bẫy chim mang đi bán cho người giết thịt. Sau khi mạng chung, nhờ duyên lành muốn nghe pháp Phật, tất cả đều được sinh lên cõi trời Đao-lỵ. Vừa sinh ra, thảy đều cao lớn như đã được tám tuổi, lại có dung mạo đoan trang thù thắng, hào quang chiếu sáng quanh thân, cung điện uy nghi như những quả núi lớn.

Khi ấy, năm trăm vị thiên tử đều tự hỏi rằng: “Không biết chúng ta tạo phước lành gì mà nay được sinh lên cõi trời này?” Nghĩ rồi đều tự quán sát, nhớ lại tiền thân là bầy chim thiên nga, nhờ nghe âm thanh Phật thuyết pháp sinh lòng kính mộ mà được phước sinh lên cõi trời. Các vị liền tự trang nghiêm thân mình, mang theo những hương hoa, trân bảo của cõi trời, cùng đến chỗ Phật mà lễ bái, cúng dường. Cúng dường xong, cùng thưa với Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Chúng con từ xa nghe âm thanh thuyết pháp của Phật sinh lòng kính mộ, nên bỏ thân súc sanh mà được sinh về cõi trời. Nay xin đức Thế Tôn từ bi thương xót mà giảng thuyết lại những chỗ pháp yếu ấy để chúng con được nghe rõ.”

Phật liền vì chư thiên tử ấy mà giảng thuyết những chỗ pháp yếu. Sau khi nghe rồi, tâm ý được khai mở, tất cả đều được đắc quả Tu-đà-hoàn, liền vui mừng lễ Phật rồi quay về cõi trời.

Bấy giờ, ngài A-nan thưa hỏi Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Đêm qua có hào quang chiếu sáng nơi Phật ngự, đó là nhân duyên gì? Xin Phật từ bi giảng giải cho được biết.”

Phật bảo A-nan: “Ngươi hãy chú tâm lắng nghe, ta sẽ vì ngươi mà phân biệt giảng nói. Nhân hôm trước khi ta đang thuyết pháp có bầy chim thiên nga 500 con, vì muốn nghe pháp mà hạ cánh xuống, nhân đó bị mắc bẫy mà mất mạng. Nhờ phước lành đó, được sinh lên cõi trời Đao-lỵ. Nay đến cúng dường ta để báo ân.”

Ngài A-nan nghe Phật thuyết nhân duyên của bầy chim thiên nga được sinh lên cõi trời, liền tán thán rằng: “Thật là chưa từng có! Đức Như Lai xuất hiện nơi cõi thế này mang lại lợi ích cho khắp cả quần sanh. Đến như loài chim thú nghe âm thanh của Phật còn được phước báo, huống chi chúng ta là người, nếu biết thành tín mà thọ trì tu tập giáo pháp, phước báo sẽ nhiều hơn gấp bội.”

Bấy giờ, chư tỳ-kheo trong chúng hội nghe Phật thuyết nhân duyên này, có người đắc quả Tu-đà-hoàn, có người đắc quả Tư-đà-hàm, có người đắc quả A-na-hàm, có người đắc quả A-La-hán, lại có nhiều người phát tâm cầu quả Phật Bích-chi, cũng có người phát tâm cầu quả vô thượng Bồ-đề.

Các vị tỳ-kheo nghe Phật thuyết nhân duyên này xong thảy đều vui mừng tin nhận.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16/10/2010(Xem: 5775)
Trong đời, tôi đã thấy mặt trăng lần nào chưa? Nhìn trăng, tôi nhìn cả đời. Nhưng thấy trăng, tôi không dám nói chắc. Khi tôi nhìn trăng trước mắt, tôi nghĩ đến trăng nửa khuya loáng thoáng trên tàu lá chuối sau vườn cũ. Tôi nghĩ đến đèn trung thu lúc nhỏ. Tôi nghĩ đến cái chõng tre giữa sân trên đó, ngày xưa, tôi nằm nhìn mây bay. Nhìn trăng, tôi không thấy trăng. Chỉ thấy lá chuối, chõng tre. Thấy cả tôi với trẻ con hàng xóm nô đùa. Có lần tôi trốn tìm với chúng nó, bị lộ, tôi nhảy bừa vào bụi tre, bất ngờ có đứa con gái đã ngồi sẵn trong đó. Tôi sợ hoảng, toan vọt ra thì nó kéo tay tôi lại, ấn vai tôi xuống, cười đồng lõa. Trong loáng thoáng của cây lá, tôi thấy hai cái răng cửa của nó sáng ngời ánh trăng. Bây giờ, nhìn trăng non, tôi thấy cái miệng và hai cái răng. Tựa như hai cái răng của nó phát ánh sáng và in hình miệng nó lên bầu trời.
16/10/2010(Xem: 5746)
Ngày xưa, một nhà quan lang họ Cao có hai người con trai hơn nhau một tuổi và giống nhau như in, đến nỗi người ngoài không phân biệt được ai là anh, ai là em
16/10/2010(Xem: 4788)
Ngày xưa, vào hồi Tây Sơn khởi nghĩa, có một chàng trai người vùng Đồng Nai, có tài cả văn lẫn võ, đã vung gươm hưởng ứng sự bất bình của thiên hạ.
16/10/2010(Xem: 4640)
Ngày xửa... Ngày xưa... Có một cô bé rất giàu lòng yêu thương. Cô yêu bố mẹ mình, chị mình đã đành, cô còn yêu cả bà con quanh xóm...
15/10/2010(Xem: 4633)
Một danh tướng về già muốn tặng thanh kiếm báu của mình cho một tướng quân ở xa. Ông giao trọng trách đó cho một gia nhân, cũng là một tay kiếm xuất chúng. Cẩn thận như vậy, ông vẫn không yên lòng, nghĩ rằng kiếm sĩ này chưa chắc đã đủ chín chắn để giữ kiếm không bị cướp dọc đường. Thanh kiếm không những quý về chất thép mà còn quý vì chuôi kiếm có nạm vàng và ngọc vua ban.
13/10/2010(Xem: 4793)
Có hai vợ chồng một ông già tên là Dã Tràng. Trong vườn họ có một hang rắn. Thường ngày làm cỏ gần đấy, ông già vẫn thấy có một cặp vợ chồng rắn...
13/10/2010(Xem: 6667)
Vào Thứ Sáu, ngày 8 tháng 10 năm 2010, Ủy Ban Giải Nobel Hòa Bình Na Uy đã công bố giải Nobel Hòa Bình năm 2010 được trao cho Lưu Hiểu Ba. Lưu Hiểu Ba, sinh năm 1955 tại thủ phủ Trường Xuân của tỉnh Cát Lâm ở đông bắc Trung Quốc, là nhà tranh đấu bất bạo động cho tự do, dân chủ và nhân quyền tại Trung Quốc. Ông đã từng tham gia phong trào sinh viên đấu tranh trong biến cố Thiên An Môn năm 1989 và sau đó liên tục bị sách nhiễu, quản chế tại gia và tù tội. Ngày 8 tháng 12 năm 2008, ông đã bị bắt vì cùng một số nhà tranh đấu dân chủ và nhân quyền Trung Quốc công bố Hiến Chương 2008 đòi xóa bỏ chế độ cai trị độc đảng để tiến tới một xã hội dân chủ cho Trung Quốc. Hiến Chương 2008 cho đến nay đã có hơn 8,500 người tham gia ký tên. Vì Hiến Chương 2008, Lưu Hiểu Ba đã bị chính quyền cộng sản Trung Quốc kết án 11 năm tù. Hiện ông vẫn còn ngồi tù ở Liễu Ninh, Trung Quốc.
11/10/2010(Xem: 5089)
Không ngờ tôi lại có được duyên lành đi chung với Thầy Trụ Trì Chùa Tâm Giác một đoạn đường khá xa. Tôi vẫn thường hay đến chùa, vãn hay gặp Thầy nhưng lúc nào Thầy cũng „Phật sự đa đoan“ nên tôi có rất ít thì giờ gần gũi và tiếp xúc với Thầy nhiều. Chuyến đi này thật hữu ích cho tôi vô cùng, tôi đã nghe và thấm nhuần được rất nhiều điều về Giáo lý Phật Đà - một niềm tin mà tôi luôn luôn tôn thờ và say mê khi vừa mới lớn cho đến tận bây giờ và cũng nhờ Thầy mà đoạn đường đi về 260 km không còn xa vời vợi nữa.
07/10/2010(Xem: 5323)
Hiện nay, truyền thuyết Lương Sơn Bá-Chúc Anh Đài được lưu truyền dưới nhiều hình thức nghệ thuật khác như kể chuyện, ca dao, truyền kỳ, kịch, khúc nghệ, âm nhạc, v.v