47. Ngạ quỷ mù

04/03/201103:31(Xem: 9970)
47. Ngạ quỷ mù

MỘT TRĂM BÀI KINH PHẬT
Đoàn Trung Còn - Nguyễn Minh Tiến dịch và chú giải

PHẨM THỨ NĂM: LÀM ÁC ĐỌA NGẠ QUỶ

NGẠ QUỶ MÙ

Lúc ấy, Phật ở thành Xá-vệ, trong vườn Kỳ thọ Cấp Cô Độc. Tôn giả A-nan đắp y mang bát vào thành khất thực, thấy một ngạ quỷ thân như cây đuốc cháy, bụng như quả núi lớn, cổ họng như cây kim, lại mù lòa. Các loài quạ, ó trên không, chó dữ dưới đất đều đua theo mà cắn xé thịt ngạ quỷ ấy, khiến cho đau đớn than khóc không lúc nào nguôi.

Tôn giả A-nan liền hiện đến trước ngạ quỷ ấy, hỏi rằng: “Ngày trước người đã tạo những ác nghiệp gì mà nay thọ khổ báo như thế này?”

Ngạ quỷ đáp: “Khi mặt trời chiếu sáng thì chẳng cần đến đèn đuốc. Nay đức Thế Tôn đang tại thế, ngài nên đến hỏi thì sẽ biết.”

Khi ấy, ngài A-nan liền đến chỗ Phật, kể rõ sự tình và thưa hỏi nhân duyên tạo nghiệp của ngạ quỷ ấy.

Phật bảo A-nan: “Ngươi hãy chú tâm lắng nghe, ta sẽ vì ngươi mà phân biệt giảng nói.

“Vào giữa Hiền kiếp này, xứ Ba-la-nại có Phật ra đời hiệu là Ca-diếp, cùng các vị tỳ-kheo đi giáo hóa khắp nơi, đến khu vườn Lộc. Khi ấy, có người phụ nữ đang mang thai, được nhìn thấy chân thân Phật oai nghi tốt đẹp, ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, lòng rất hoan hỷ, sinh lòng tin kính sâu vững nơi Phật pháp.

Nhờ nhân duyên ấy, bà sinh hạ một bé gái dung nhan xinh đẹp, nết na thùy mỵ, thông minh hơn người. Qua nhiều năm, dần dần lớn lên được có nhân duyên gặp Phật, sinh lòng tin sâu vững liền thưa với cha mẹ xin được xuất gia nhập đạo. Cha mẹ hết lời khuyên can ngăn cản đều không được, buộc phải đồng ý cho xuất gia làm tỳ-kheo ni. Khi ấy, cha mẹ thương con nên bỏ tiền xây dựng một ngôi chùa thật lớn làm nơi cho cô tu tập, lại thỉnh nhiều vị tỳ-kheo ni oai đức khác cùng đến ở.

Qua một thời gian, vị tỳ-kheo ni con nhà trưởng giả ấy phạm vào giới luật. Chư tỳ-kheo ni họp bàn quyết định trục xuất cô ra khỏi chùa. Cô sinh lòng hổ thẹn, chẳng dám trở về nhà, đến nương náu ở nhà người khác. Khi ấy, cô sinh tâm sân hận, nói ra lời này: “Nơi ấy thật là nhà của ta, do mẹ cha ta tạo dựng. Vì sao giờ các người ấy sinh lòng bội bạc mà đuổi ta đi, tự chiếm lấy chỗ ở?”

Nói như vậy rồi, liền đi nói với mọi người rằng các vị tỳ-kheo ni ở chùa ấy có rất nhiều lỗi lầm, tà ác, chẳng chịu tự làm lấy mà ăn chỉ biết nhờ vào bá tánh. Cô lại thề độc là từ nay về sau dẫu thọ thân nơi nào cũng không thấy mặt các vị tỳ-kheo ni ấy nữa.

Phát lời thề độc như vậy rồi, sau đó mạng chung đọa làm thân ngạ quỷ, lại phải bị mù lòa.”

Phật bảo A-nan: “Người con gái nhà trưởng giả xuất gia phạm giới luật bị trục xuất khỏi chùa, lại sanh ác tâm mạ lỵ, báng bổ chư tỳ-kheo ni, nay chính là ngạ quỷ mù lòa mà ngươi vừa gặp đó.”

Phật thuyết nhân duyên ngạ quỷ mù lòa này xong, chư tỳ-kheo thảy đều tự biết phòng hộ các nghiệp thân, miệng, ý, lánh sợ đường sinh tử, có người đắc quả Tu-đà-hoàn, có người đắc quả Tư-đà-hàm, có người đắc quả A-na-hàm, có người đắc quả A-La-hán, lại có nhiều người phát tâm cầu quả Phật Bích-chi, cũng có người phát tâm cầu quả vô thượng Bồ-đề.

Các vị tỳ-kheo nghe Phật thuyết nhân duyên này xong thảy đều vui mừng tin nhận.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16/10/2010(Xem: 5775)
Trong đời, tôi đã thấy mặt trăng lần nào chưa? Nhìn trăng, tôi nhìn cả đời. Nhưng thấy trăng, tôi không dám nói chắc. Khi tôi nhìn trăng trước mắt, tôi nghĩ đến trăng nửa khuya loáng thoáng trên tàu lá chuối sau vườn cũ. Tôi nghĩ đến đèn trung thu lúc nhỏ. Tôi nghĩ đến cái chõng tre giữa sân trên đó, ngày xưa, tôi nằm nhìn mây bay. Nhìn trăng, tôi không thấy trăng. Chỉ thấy lá chuối, chõng tre. Thấy cả tôi với trẻ con hàng xóm nô đùa. Có lần tôi trốn tìm với chúng nó, bị lộ, tôi nhảy bừa vào bụi tre, bất ngờ có đứa con gái đã ngồi sẵn trong đó. Tôi sợ hoảng, toan vọt ra thì nó kéo tay tôi lại, ấn vai tôi xuống, cười đồng lõa. Trong loáng thoáng của cây lá, tôi thấy hai cái răng cửa của nó sáng ngời ánh trăng. Bây giờ, nhìn trăng non, tôi thấy cái miệng và hai cái răng. Tựa như hai cái răng của nó phát ánh sáng và in hình miệng nó lên bầu trời.
16/10/2010(Xem: 5746)
Ngày xưa, một nhà quan lang họ Cao có hai người con trai hơn nhau một tuổi và giống nhau như in, đến nỗi người ngoài không phân biệt được ai là anh, ai là em
16/10/2010(Xem: 4788)
Ngày xưa, vào hồi Tây Sơn khởi nghĩa, có một chàng trai người vùng Đồng Nai, có tài cả văn lẫn võ, đã vung gươm hưởng ứng sự bất bình của thiên hạ.
16/10/2010(Xem: 4640)
Ngày xửa... Ngày xưa... Có một cô bé rất giàu lòng yêu thương. Cô yêu bố mẹ mình, chị mình đã đành, cô còn yêu cả bà con quanh xóm...
15/10/2010(Xem: 4633)
Một danh tướng về già muốn tặng thanh kiếm báu của mình cho một tướng quân ở xa. Ông giao trọng trách đó cho một gia nhân, cũng là một tay kiếm xuất chúng. Cẩn thận như vậy, ông vẫn không yên lòng, nghĩ rằng kiếm sĩ này chưa chắc đã đủ chín chắn để giữ kiếm không bị cướp dọc đường. Thanh kiếm không những quý về chất thép mà còn quý vì chuôi kiếm có nạm vàng và ngọc vua ban.
13/10/2010(Xem: 4793)
Có hai vợ chồng một ông già tên là Dã Tràng. Trong vườn họ có một hang rắn. Thường ngày làm cỏ gần đấy, ông già vẫn thấy có một cặp vợ chồng rắn...
13/10/2010(Xem: 6667)
Vào Thứ Sáu, ngày 8 tháng 10 năm 2010, Ủy Ban Giải Nobel Hòa Bình Na Uy đã công bố giải Nobel Hòa Bình năm 2010 được trao cho Lưu Hiểu Ba. Lưu Hiểu Ba, sinh năm 1955 tại thủ phủ Trường Xuân của tỉnh Cát Lâm ở đông bắc Trung Quốc, là nhà tranh đấu bất bạo động cho tự do, dân chủ và nhân quyền tại Trung Quốc. Ông đã từng tham gia phong trào sinh viên đấu tranh trong biến cố Thiên An Môn năm 1989 và sau đó liên tục bị sách nhiễu, quản chế tại gia và tù tội. Ngày 8 tháng 12 năm 2008, ông đã bị bắt vì cùng một số nhà tranh đấu dân chủ và nhân quyền Trung Quốc công bố Hiến Chương 2008 đòi xóa bỏ chế độ cai trị độc đảng để tiến tới một xã hội dân chủ cho Trung Quốc. Hiến Chương 2008 cho đến nay đã có hơn 8,500 người tham gia ký tên. Vì Hiến Chương 2008, Lưu Hiểu Ba đã bị chính quyền cộng sản Trung Quốc kết án 11 năm tù. Hiện ông vẫn còn ngồi tù ở Liễu Ninh, Trung Quốc.
11/10/2010(Xem: 5089)
Không ngờ tôi lại có được duyên lành đi chung với Thầy Trụ Trì Chùa Tâm Giác một đoạn đường khá xa. Tôi vẫn thường hay đến chùa, vãn hay gặp Thầy nhưng lúc nào Thầy cũng „Phật sự đa đoan“ nên tôi có rất ít thì giờ gần gũi và tiếp xúc với Thầy nhiều. Chuyến đi này thật hữu ích cho tôi vô cùng, tôi đã nghe và thấm nhuần được rất nhiều điều về Giáo lý Phật Đà - một niềm tin mà tôi luôn luôn tôn thờ và say mê khi vừa mới lớn cho đến tận bây giờ và cũng nhờ Thầy mà đoạn đường đi về 260 km không còn xa vời vợi nữa.
07/10/2010(Xem: 5323)
Hiện nay, truyền thuyết Lương Sơn Bá-Chúc Anh Đài được lưu truyền dưới nhiều hình thức nghệ thuật khác như kể chuyện, ca dao, truyền kỳ, kịch, khúc nghệ, âm nhạc, v.v