59. Đôi bạn đồng tu

04/03/201103:31(Xem: 9764)
59. Đôi bạn đồng tu

MỘT TRĂM BÀI KINH PHẬT
Đoàn Trung Còn - Nguyễn Minh Tiến dịch và chú giải

PHẨM THỨ SÁU: CHƯ THIÊN CÚNG DƯỜNG

ĐÔI BẠN ĐỒNG TU

Lúc ấy, Phật ở gần thành Xá-vệ, trong vườn Kỳ thọ Cấp Cô Độc. Vào khoảng đầu hôm, có năm trăm vị thiên tử hiện thân trang nghiêm đẹp đẽ, mang theo những hương hoa, trân bảo từ cõi trời, đến lễ bái cúng dường Phật. Lễ bái cúng dường xong, liền ngồi sang một bên nghe pháp. Phật thuyết pháp Tứ diệu đế cho nghe rồi, tâm ý liền khai mở, đắc quả Tu-đà-hoàn, liền lễ Phật rồi quay về cõi trời.

Sáng hôm sau, chư tỳ-kheo thưa hỏi Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Đêm qua có hào quang chiếu sáng ở nơi tinh xá, chẳng hay đó là các vị Thích phạm, tứ thiên vương, hay hai mươi tám bộ quỷ thần đến nghe pháp?”

Phật nói: “Chẳng phải Thích phạm, thiên thần, tứ thiên vương đến nghe pháp. Ấy là năm trăm vị thiên tử từ cõi trời Đao-lỵ hiện đến cúng dường ta. Các ngươi muốn biết nhân duyên nghiệp quả của những vị ấy, hãy chú tâm lắng nghe, ta sẽ vì các ngươi mà giảng giải.

“Về thuở quá khứ cách đây đã vô số kiếp, vào thời của đức Phật Ca-diếp tại thế, có hai người bà-la-môn sắp đi theo vua đến chỗ Phật mà lễ bái cúng dường. Trong thành có một cư sĩ đến khuyên hai người bà-la-môn ấy rằng: ‘Nay các ông được theo vua đến gặp Phật, nhân đó nên thọ lấy phép Bát quan trai.’

“Hai người bà-la-môn hỏi: ‘Thọ phép trai giới ấy có lợi ích gì?’ Cư sĩ ấy đáp: ‘Thọ phép trai giới ấy, tùy theo chỗ sở nguyện của mình, hết thảy đều được thành tựu.’

“Hai người bà-la-môn liền nghe lời cư sĩ ấy, khi đến lễ Phật cùng nhau thọ phép Bát quan trai. Một người cầu được sinh lên cõi trời, còn người kia cầu được làm vua ở cõi người. Sau khi thọ trai giới rồi, liền cùng nhau quay về chỗ tụ họp của những người bà-la-môn.

“Những người bà-la-môn khác bảo hai người rằng: ‘Các ông đang đói khát, có thể đến đây cùng ăn uống.’ Hai người đáp: ‘Chúng tôi thọ trai giới của Phật, đã quá giờ thì không ăn.’

“Những người kia nói: ‘Bà-la-môn chúng ta cũng tự có đủ phép tắc, quy luật, sao hai người lại đi thọ trai giới của mấy ông sa-môn?’ Nói vậy rồi lại ân cần mời thỉnh nhiều lần, ép buộc hai người phải ăn uống với họ.

“Người bà-la-môn cầu sinh lên cõi trời, khi ấy không giữ được, liền ngồi xuống cùng ăn uống. Do không giữ trọn giới đã thọ nên không thành sở nguyện, mạng chung sinh vào loài rồng.

“Người bà-la-môn cầu được làm vua, kiên trì giữ giới, tuyệt không chịu ăn uống với họ. Nhờ vậy, được thành sở nguyện, đời sau được làm một vị quốc vương.

“Do hai người cùng thọ phép Bát quan trai với nhau, nên lại sinh ra cùng một chỗ với nhau. Người phải sinh vào loài rồng, khi ấy ở trong cái hồ lớn giữa vườn của nhà vua.

“Người giữ vườn mỗi ngày đều hái các loại hoa quả trong vườn dâng lên cho vua. Ngày kia, nơi cái ao lớn giữa vườn bỗng nảy sinh một thứ quả lạ, to lớn mà có mùi thơm ngon kỳ tuyệt.

“Người giữ vườn hái được quả ấy, tiếc không nỡ ăn, suy nghĩ rằng: ‘Ta làm công việc này, ngày ngày ra vào đều phải qua chỗ quan giữ cửa. Nay được quả thơm ngọt này, nên mang biếu ông ta.’ Nghĩ rồi liền mang biếu quan giữ cửa.

“Quan giữ cửa nhận được, cũng không nỡ ăn, suy nghĩ rằng: ‘Ta mỗi ngày ra vào đều qua chỗ quan Hoàng môn. Nay được quả lạ này, nên mang biếu ông ta.’ Nghĩ vậy rồi, liền mang quả đi biếu.

“Quan Hoàng môn nhận được, cũng không nỡ ăn mất, suy nghĩ rằng: ‘Hoàng hậu thời vì ta mà khéo nói với vua, khen ta có tài có đức. Nhờ vậy mà ta mới được vua tin dùng. Nay được quả lạ này, nên mang biếu hoàng hậu mới phải.’ Nghĩ rồi liền mang đi biếu cho hoàng hậu.

“Hoàng hậu được quả ấy rồi, liền dâng lên cho vua. Vua được quả ấy liền bổ ra ăn, thấy hương vị ngon ngọt lạ thường xưa nay chưa từng được biết, mới hỏi hoàng hậu rằng: ‘Do đâu mà hoàng hậu có được thứ quả ngon lạ này?’ Hoàng hậu liền chỉ đến quan Hoàng môn. Vua truyền hỏi quan Hoàng môn, lại chỉ đến quan Môn giám. Vua truyền hỏi quan Môn giám, liền chỉ đến người giữ vườn.

“Vua liền gọi người giữ vườn đến, quở trách rằng: ‘Trong vườn có thứ quả ngon lạ đến thế, tại sao không dâng lên ta mà mang cho người khác?’ Nói rồi muốn bắt tội. Người giữ vườn hết lời phân trần, rằng trong vườn chẳng hề có thứ quả ấy, chỉ là tự nhiên hóa sinh một quả nơi hồ lớn mà thôi. Vua không nghe, truyền rằng: ‘Tạm tha chết cho ngươi, nhưng từ nay về sau phải thường dâng loại quả ấy. Nhược bằng không có tất phải tội chết.’

“Người giữ vườn trở về, vào trong vườn đến bên bờ hồ mà than khóc thảm thiết. Loại quả ấy chẳng trồng trong vườn này, nay biết tìm ở đâu mà có được? Nếu không có, tất phải tội chết không tránh khỏi.

“Bấy giờ, long vương trong hồ lớn nghe tiếng than khóc liền hiện lên, hóa thân làm một người từ xa đi lại, hỏi rằng: ‘Có việc chi mà người khóc lóc sầu thảm như vậy?’

“Người giữ vườn nói: ‘Ngày hôm qua tôi được một quả cây ngon lạ nổi lên từ hồ này, mang cho quan giữ cửa. Ông này lại mang cho quan Hoàng môn, quan Hoàng môn dâng cho hoàng hậu, hoàng hậu lại dâng cho vua. Vua ăn quả ấy thấy ngon ngọt, bây giờ buộc tôi phải từ nay về sau phải thường dâng cho vua quả ấy, nếu không thì bắt tội chết. Nhưng quả ấy không trồng mà được, nay tôi biết tìm ở đâu ra? Vì vậy mà đến đây than khóc.’

“Hóa thân của long vương nghe vậy rồi, liền trở về thủy phủ dưới lòng hồ sâu, lấy loại quả ngon lạ ấy lên, đặt trong một cái khay bằng vàng, trao cho người giữ vườn và nói rằng: ‘Nay ngươi mang quả này mà dâng cho vua, ta nhờ ngươi nói với vua điều này: Ta với vua vào thời Phật còn tại thế, vốn là bạn thân với nhau, cùng tu tập Bát quan trai giới. Vua giữ giới trọn vẹn, cầu làm vua thì nay được làm vua. Còn ta do không giữ giới trọn vẹn, nên sinh vào loài rồng. Vì vậy, ta muốn thọ phép Bát quan trai mà tu tập một lần nữa, cầu xả bỏ thân này. Ngươi hãy nói với vua tìm cho ta một bản kinh văn để ta theo đó tu tập. Nếu không giúp ta, ta sẽ biến cả nước của vua thành biển lớn.’

“Người làm vườn đến dâng quả cho vua, rồi trình bày lại những lời rồng nói. Vua nghe việc ấy rồi thì trong lòng lo lắng, không vui. Bởi vì thời ấy không có Phật ra đời, đến tên gọi còn chẳng ai biết đến, huống là tìm được kinh văn? Mà nếu không tìm được, cả nước phải nguy hại. Nghĩ như vậy rồi chẳng biết làm sao được.

“Bấy giờ, có một vị đại thần được vua kính trọng lắm. Vua sai triệu đến bảo rằng: ‘Long thần nhờ ta tìm bản văn Bát quan trai. Nay khanh nên vì ta sớm tìm cho được bản văn ấy.’ Đại thần đáp: ‘Thời nay không có pháp Phật, làm sao tìm được kinh văn? Vua nói: ‘Nếu không tìm được, phải bắt tội chết.’

“Đại thần nhận lệnh vua rồi, trong lòng lo âu, mặt mày biến sắc. Khi trở về nhà bồn chồn lo lắng không yên. Người cha của ông là một vị kỳ lão đã rất cao niên, nhìn thấy vậy thì đoán biết có chuyện nghiêm trọng, liền hỏi: ‘Con có việc gì lo lắng lắm hay sao?’ Đại thần thuật chuyện vua buộc phải tìm văn kinh Bát quan trai.

“Người cha liền nói: ‘Cha thường nhìn thấy cây cột nhà ta có ánh hào quang tỏa ra. Nay con nên đập phá ra mà xem thử. Cha nghĩ là có vật lạ trong đó.’

“Đại thần nghe lời cha, đập cây cột nhà, liền thấy trong đó có hai quyển kinh. Một là văn kinh Thập nhị nhân duyên, hai là văn kinh Bát quan trai giới.

“Đại thần mang văn kinh Bát quan trai dâng lên vua. Vua mừng rỡ liền mang đưa cho long vương. Long vương được văn kinh rồi, vui mừng khôn xiết, liền mang rất nhiều báu vật quý giá ở chốn thủy cung mà tặng cho vua.

“Long vương trở về cùng với số rồng con, cộng cả thảy 500 người, đồng thọ phép Bát quan trai. Chuyên cần tu tập, không một mảy may sai sót, hủy phạm. Đến khi mạng chung, tất cả đều được sinh lên cảnh trời Đao-lỵ.”

Phật bảo chư tỳ-kheo: “Này các tỳ-kheo! Năm trăm vị thiên tử đêm qua đến cúng dường ta, chính là 500 con rồng ngày trước. Nhờ tinh cần tu tập Bát quan trai giới nên được phước báo sinh lên cõi trời.”

Phật thuyết nhân duyên đôi bạn đồng tu Bát quan trai giới rồi, chư tỳ-kheo trong chúng hội có người đắc quả Tu-đà-hoàn, có người đắc quả Tư-đà-hàm, có người đắc quả A-na-hàm, có người đắc quả A-La-hán, lại có nhiều người phát tâm cầu quả Phật Bích-chi, cũng có người phát tâm cầu quả vô thượng Bồ-đề.

Các vị tỳ-kheo nghe Phật thuyết nhân duyên này xong thảy đều vui mừng tin nhận.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
05/10/2010(Xem: 5199)
Năm Tiết Đào lên tám, một hôm vào mùa thu, Tiết Đào đứng chơi bên cạnh cha, gần một cây ngô đồng. Cây đã già, cành lá sum sê đứng sừng sững trước nhà...
05/10/2010(Xem: 5229)
Kiều bào hơn 30 quốc gia trên thế giới đã về Thủ đô nhân mùa lễ hội kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long – Hà nội. Ngày 30/9, tất cả đã có mặt, và được đón về khách sạn Kim Liên. Ngày mồng 1 và mồng 2 tháng 10, tất cả các đoàn Kiều bào được tập dợt tại đường Bắc Sơn, sơ duyệt diễu hành tại Quảng trường Ba Đình. Và những ngày sau đó được Ban Tổ chức đưa đi thăm viếng thắng cảnh, các khu di tích có liên quan đến triều đại Thánh Vương Lý Thái Tổ.
04/10/2010(Xem: 5103)
Thôi Hộ, một danh sĩ đời nhà Đường (618-907), nhân dự hội Đạp Thanh đến Đào Hoa Trang, gõ cửa một nhà xin được giải khát. Một thiếu nữ đứng thập thò bên cửa...
02/10/2010(Xem: 4918)
Một đêm nọ, sư cụ nằm mộng thấy một người đàn bà dắt năm đứa con nhỏ đến trước mặt mình rồi vái lấy vái để, miệng nói: "Xin cứu mạng! Xin cứu mạng!". Sư hỏi người đàn bà...
30/09/2010(Xem: 15188)
Chúng sanh bị đọa địa ngục, đó là chúng sanh tâm bị đọa lạc vào địa ngục tham, sân, si phiền não. Muốn giải phóng chúng sanh tâm, phải dùng tự tánh Địa Tạng của chính mình.
27/09/2010(Xem: 9356)
Đức Địa Tạng là một vị đã chứng bực Đẳng Giác trải đến vô lượng A Tăng Kỳ kiếp rồi. Ngài có lời đại nguyện rằng: Nếu Ngài chưa độ hết chúng sanh, thì Ngài không chứng quả Bồ Đề, và nếu sự thọ khổ trong địa ngục hãy còn, thì Ngài thề không chịu thành Phật. Do cái bổn nguyện ấy, nên Ngài phân thân nhiều phen, đặng độ thoát hằng hà sa số chúng sanh đương tội khổ, trải đã không biết bao nhiêu kiếp rồi, mà Ngài cũng còn làm một vị Bồ Tát như vậy. Còn như nói đến tiền thân của Ngài từ khi chưa chứng quả vị, có kiếp Ngài làm con gái, có kiếp thì Ngài làm con trai, và cũng có kiếp Ngài làm vua nữa.
25/09/2010(Xem: 14946)
Nan-In, một thiền sư Nhật vào thời Minh - Trị (1868- 1912), tiếp một vị giáo sư đại học đến tham vấn về Thiền. Nan-In đãi trà. Ngài chế một cốc đầy và vẫn tiếp tục rót.
10/09/2010(Xem: 83184)
Một cuộc đời một vầng nhật nguyệt (quyển 3) Vào thời không có đức Phật Chánh Đẳng Giác ra đời, tại vùng Allakappa bị dịch bệnh hoành hành, lây lan từ người này sang người khác, nhà này sang nhà khác làm cho rất nhiều người chết, đói kém xảy ra khắp nơi. Những người còn mạnh khỏe, chưa bị lây nhiễm
02/09/2010(Xem: 10813)
Sơ lược về Thiền Sư Nguyễn Minh Không, Ông tên là Nguyễn Chí Thành sinh ngày 14/8 năm Bính Thìn (1076) tại Điềm Xá, Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Thiếu thời ngài chuyên làm nghề chài lưới của ông cha. Năm 29 tuổi ngài xuất gia đầu Phật. Ngài đã cùng Thiền sư Giác Hải và Thiền sư Từ Đạo Hạnh làm bạn thân sang Thiên Trúc học đạo với thầy Samôn được phép: Lục Trí Thần.