45. Năm trăm ngạ quỷ

04/03/201103:31(Xem: 10092)
45. Năm trăm ngạ quỷ

MỘT TRĂM BÀI KINH PHẬT
Đoàn Trung Còn - Nguyễn Minh Tiến dịch và chú giải

PHẨM THỨ NĂM: LÀM ÁC ĐỌA NGẠ QUỶ

NĂM TRĂM NGẠ QUỈ

Lúc ấy, Phật ở gần thành Vương-xá, trong tinh xá Trúc Lâm. Đại đức Mục-kiền-liên một hôm mang bát vào thành khất thực, vừa đến cửa thành thì gặp 500 ngạ quỷ cũng từ ngoài đi vào thành.

Đám ngạ quỷ ấy gặp tôn giả Mục-kiền-liên thì mừng rỡ, bạch với ngài rằng: “Xin tôn giả mở lòng từ bi thương xót nhớ lấy tên chúng tôi, đến nói với những thân quyến của chúng tôi rằng: Vì chúng tôi chẳng làm việc thiện, chẳng hay bố thí, nên nay phải đọa làm thân ngạ quỷ đói khát. Xin tôn giả lại vì chúng tôi nhận lấy tiền bạc nơi những thân quyến ấy mà thiết lễ cúng dường Phật với chư tăng. Nếu như tiền bạc chẳng đủ, xin tôn giả mở lòng quyên góp thêm của bá tánh cho đầy đủ lễ cúng, chú nguyện cho chúng tôi được thoát khỏi thân ngạ quỷ này.”

Tôn giả Mục-kiền-liên thương xót những ngạ quỷ khốn khổ ấy, liền nhận lời cầu thỉnh. Ngài lại hỏi: “Các ngươi ngày trước đã tạo những ác nghiệp gì mà chịu khổ báo như thế này?”

Các ngạ quỷ đồng thanh đáp rằng: “Chúng tôi ngày trước đều là con nhà trưởng giả trong thành Vương-xá. Vì kiêu căng, ngã mạn, sống phóng túng buông thả, chẳng tin nơi Tam bảo, chẳng thích việc bố thí, làm phước thiện. Mỗi khi thấy có các thầy sa-môn đi khất thực trong thành, đã không thí cúng, còn ngăn cản những người khác không cho thí cúng, khiến các vị chẳng còn đường sống. Thường nói với bá tánh trong thành rằng: “Nếu thí cho các ông ấy, ngày sau các ông ấy lại đến nữa, chẳng biết bao giờ mới đủ.” Do những nghiệp duyên như vậy, nên khi mạng chung thảy đều đọa sinh làm loài ngạ quỷ, thọ khổ não không cùng.’

Ngài Mục-kiền-liên liền bảo chư ngạ quỷ rằng: “Ta sẽ vì các ngươi mà lo việc thiết lễ cúng dường. Đến lúc đó, các ngươi nên tự đến dự lễ.”

Đám ngạ quỷ thưa rằng: “Chúng tôi do tội nghiệp nặng nề, dẫu nay mang thân hình ngạ quỷ, nhưng thân thể như cây đuốc cháy, bụng như hòn núi lớn, cổ họng nhỏ như cây kim, tóc dài che phủ khắp mình, cả người lúc nào cũng bị lửa dữ thiêu đốt, bốn phương cầu tìm đồ ăn thức uống rốt cùng đều chẳng bao giờ tìm được, dẫu có các món ngon vật lạ bày ra trước mắt, tự nhiên cũng hóa thành máu huyết nhơ nhớp chẳng thể ăn được. Như vậy làm sao mà có thể đến dự hội được?”

Khi ấy, ngài Mục-kiền-liên vì các ngạ quỷ ấy đến nói với những người quyến thuộc. Những người này nghe vậy đều buồn thương áo não, cùng nhau hợp sức lo việc thiết lễ cúng dường.

Ngài Mục-kiền-liên sau đó mới nhập định, muốn tìm xem các ngạ quỷ hiện nay đang ở nơi đâu. Ngài quán sát khắp cùng thế giới, lại quán sát cả đến những cõi miền trên, miền dưới, chẳng nơi nào tìm thấy.

Thấy việc lạ kỳ, ngài Mục-kiền-liên liền tìm đến chỗ Phật thưa hỏi: “Bạch Thế Tôn! Con nay vì một nhóm 500 ngạ quỷ, quyên góp của người thân thuộc cùng bá tánh để lo việc thiết hội cúng dường tạo phước, cầu cho họ thoát thân ngạ quỷ. Giờ đây nhập định quán sát khắp cùng thế giới chẳng nơi nào nhìn thấy các ngạ quỷ ấy, chẳng biết giờ đây họ đọa lạc đến chốn nào?”

Phật nói: “Những ngạ quỷ ấy trôi dạt theo gió nghiệp lực, không phải sức của hàng thanh văn các ngươi nhìn thấy được. Tuy nhiên, những ngạ quỷ ấy mong nhờ việc thiết hội cúng dường, tội cũ tất nhiên trừ diệt. Khi ấy ta có thể khiến họ đến chỗ hội cúng.”

Ngài Mục-kiền-liên vì các ngạ quỷ thiết hội cúng dường Phật và chư tăng. Phật dùng thần lực khiến cho chư ngạ quỷ hiện đến nơi thiết hội, lại khiến cho hết thảy nhân dân trong thành đều nhìn thấy rõ hình trạng xấu xí, ghê tởm của các ngạ quỷ ấy. Nhìn thấy như vậy rồi, rất nhiều người lìa bỏ lòng tham lam, sân hận, lánh sợ đường sinh tử, có người đắc quả Tu-đà-hoàn, có người đắc quả Tư-đà-hàm, có người đắc quả A-na-hàm, có người đắc quả A-La-hán, lại có nhiều người phát tâm cầu quả Phật Bích-chi, cũng có người phát tâm cầu quả vô thượng Bồ-đề.

Đức Thế Tôn lại vì các ngạ quỷ ấy mà thuyết pháp, trong tâm họ liền tự lìa bỏ hết tham lam, sân hận, khởi lòng tin tưởng sâu vững nơi Tam bảo. Ngay trong đêm đó tất cả đều mạng chung, sinh lên cõi trời Đao-lỵ.

Các vị thiên tử mới thác sinh này liền tự suy nghĩ rằng: “Không biết chúng ta đã tạo nghiệp lành gì mà được sinh lên cõi trời này?” Liền tự quán sát, nhớ biết nhân duyên nhờ có tôn giả Mục-kiền-liên thiết hội cúng dường Phật và chư tăng nên các vị được sinh lên cõi trời. Khi ấy, tất cả đều nghĩ rằng: “Nay chúng ta nên đến tạ ơn ngài.”

Nghĩ như vậy rồi liền từ cõi trời hiện xuống, hào quang quanh thân, mang theo các thứ anh lạc, hương hoa cõi trời, cùng đến cúng dường Phật và tôn giả Mục-kiền-liên. Cúng dường xong, cùng ngồi nơi chỗ Phật mà nghe thuyết pháp, tâm ý khai mở rồi thảy đều có chỗ đắc hoạch đạo quả, cùng lễ Phật rồi quay về cõi trời.

Phật bảo tôn giả Mục-kiền-liên: “Năm trăm vị thiên tử này chính là năm trăm ngạ quỷ ngày trước đó.”

Các vị tỳ-kheo nghe Phật thuyết nhân duyên này xong thảy đều vui mừng tin nhận.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
30/06/2011(Xem: 4294)
Mặt trời ló dạng trải những ánh vàng óng ả trên mặt biển khơi, chiếu sáng rực rỡ một góc trời. Ngoài xa, từng cơn sóng nô đùa nối đuôi nhau cặp bờ.
12/06/2011(Xem: 3975)
Ngày xưa có một anh chàng sinh viên nghèo, thật thà, ngay thẳng, sống trong một căn gác xép, chẳng có lấy một tí gì.
12/06/2011(Xem: 4069)
Một sáng tháng năm ta ở phía tây thổi về (vẫn lời của gió), rong ruổi trên bờ bể, qua các khu rừng và đồng bằng, vượt qua sông Ben.
12/06/2011(Xem: 4141)
Em nhổm dậy và nhìn qua cửa buồng vẫn đang hé mở. Em lắng tai và hình như nghe tiếng đàn dương cầm vẳng ra từ phòng bên...
12/06/2011(Xem: 5671)
Cha nó đang ốm thập tử nhất sinh. Nó rất buồn. Trong túp lều nhỏ chỉ có hai cha con. Cha nó bảo: "Giăng ơi! con thật hiếu thảo!
04/06/2011(Xem: 9720)
Trời đổ mưa, muối Bé, bây giờ là hạt mưa, gặp lại muối To mừng rỡ, ngạc nhiên: “Ôi chị muối To của em, sao chị lại nằm trơ trốc một mình ở chốn này!”. Muối To sụt sùi kể: “Số kiếp của chị khổ lắm, tủi nhục lắm… hu, hu… còn em sống thế nào?”. “Tuyệt lắm chị ơi! – muối Bé hí hửng – khi em hòa tan trong nước biển, em được bay lên trời, thỏa thích ngắm Trái đất trên cao, đẹp lắm. Sau đó em thành mưa tưới mát cho Trái đất thêm xanh tươi. Chưa hết, em còn đi chu du nhiều nơi trên Trái đất trước khi về biển, chuẩn bị một hành trình tuyệt vời khác… Thôi em chào chị, em phải đi để sớm về với cội nguồn”. Nhìn muối Bé hòa mình với dòng chảy, xa dần… bỗng dưng muối To thèm khát cuộc sống như muối Bé, muốn hòa tan, hòa tan… Nhưng… chao ôi, quá muộn rồi? Nó đã trở thành sỏi đá, mãi sống trong cô đơn, mãi bị người ta chà đạp!
03/06/2011(Xem: 16643)
Tập 5 Thích Minh Chiếu Sưu tập ---o0o--- Mục lục Tập 5 Phần 01 Chuyện con ngỗng trời vàng Ðường lầy Ô Sào thiền sư Năm con lừa Hành động bất khả tư nghì của một bậc đã tu chứng Phần 02 Cụ già tu mướn Lạy Phật cầu chồng Khang Hy tìm Phổ Hiền Phật ở đâu? Ðức Phật và Chiến Già
31/05/2011(Xem: 30211)
Trước khi thành Thiền sư, Trúc Lâm đại sĩ đã từng làm vua nước Đại Việt. Đó là vua Trần Nhân Tông, người đã từng đẩy lui cuộc xâm lăng của quân Mông Cổ.
24/05/2011(Xem: 7895)
Lịch sử đã chứng minh cho chúng ta thấy có không ít những vị Thiền sư Việt Nam đã thể hiện trọn vẹn tinh thần vì dân vì nước. Các Thiền sư này xuất hiện dưới nhiều dạng khác nhau, khi thì đóng vai Thái sư Khuông Việt, hay người chèo đò Đỗ Thuận, lúc lại là người thầy thuốc Tuệ Tĩnh hay thợ đúc đồng Nguyễn Minh Không, thậm chí có lúc tự tại ở ngôi vị đế vương xông pha trước mũi tên lằn đạn để chống đỡ cho muôn dân thoát khỏi nạn dày xéo của ngoại bang. Đối với các Ngài, hình thức cư sĩ, xuất gia, làm vua, làm quan, làm người chèo đò, làm thầy thuốc, làm thợ mộc hay thợ đúc đồng hoặc bất cứ ngành nghề gì chẳng qua chỉ là lớp áo đổi thay không dừng trên sân khấu cuộc đời, trong tâm niệm các Ngài luôn mong mỏi đem lại ấm no hạnh phúc cho dân tộc. Vì vậy, các ngài đi vào cuộc đời mà không bị lợi danh quyền thế làm hoen ố vẩn đục; tâm hồn luôn thanh thoát như những đóa hoa sen thơm ngát giữa bùn lầy mà không bị bùn nhơ làm ô nhiễm. Vì vậy, bất cứ người Việt nào, khi đọc lại những trang sử
22/05/2011(Xem: 6155)
Tít ngoài biển khơi kia, nước xanh hơn cánh đồng hoa mua biếc nhất, trong vắt như pha lê, nhưng sâu thăm thẳm, sâu đến nỗi neo buông không tới đáy...