20. Đế-thích hiện thần biến

04/03/201103:31(Xem: 10866)
20. Đế-thích hiện thần biến

MỘT TRĂM BÀI KINH PHẬT
Đoàn Trung Còn - Nguyễn Minh Tiến dịch và chú giải

PHẨM THỨ HAI: CÚNG DƯỜNG ĐƯỢC THỌ BÁO

ĐẾ-THÍCH HIỆN THẦN BIẾN

Lúc ấy, Phật ở gần thành Vương-xá, cùng với chư tỳ-kheo nơi tinh xá Trúc Lâm.

Bấy giờ, trong thành có một người trưởng giả tên là Cù-sa, giàu có không kể xiết. Người trưởng giả này tin theo tà kiến, phụng sự bọn ngoại đạo, chẳng tin Phật pháp. Ngài Đại Mục-kiền-liên quán sát, biết ông trưởng giả này tin sâu thuyết tà kiến như vậy, tất đọa vào ba nẻo dữ, không thể nào cứu được, liền sinh lòng thương xót, mới nghĩ cách phương tiện mà cứu độ. Ngài liền bảo Đế-thích dùng sức thần mà biến cảnh rừng Trúc Lâm nơi Phật ngự hóa thành cung điện bằng bảy thứ báu giống như cung điện của chư thiên không sai khác, trang hoàng các thứ tràng phan, chuông khánh, rãi hoa trời thơm trên khắp cõi đất, các món ăn thức uống quý lạ tự nhiên đầy đủ mà cúng dường Phật với chúng tỳ-kheo tăng. Lại khiến vua loài rồng cầm lọng báu mà che mát cho Phật, tất cả các vị long vương khác cũng đều cầm lọng mà che cho chư tỳ-kheo. Lại khiến các vị phu nhân cùng các thể nữ thảy đều cầm quạt mà hầu hai bên tả hữu, dùng quạt ấy mà quạt cho Phật. Lại khiến các vị càn-thát-bà trỗi lên nhạc trời, làm vui mà cúng dường Phật.

Bấy giờ, người trưởng giả kia thấy những việc ấy, khen là chưa từng có, liền sanh lòng tin sâu, kính ngưỡng đức Phật. Ông liền đến nơi Phật ngự, bạch rằng: “Nguyện đức Thế Tôn đại bi lân mẫn, nhận cho sự cúng dường của con.” Khi ấy, đức Phật lặng yên mà chấp nhận.

Người trưởng giả được Phật nhận lời, tức thì quay về nhà chuẩn bị các món ăn thức uống. Xong, người liền đến thỉnh Phật. Khi ấy, Phật cùng chư tỳ-kheo liền đến nhà người trưởng giả ấy mà thọ nhận cúng dường. Lễ cúng dường xong, Phật vì người ấy mà thuyết pháp. Nghe pháp xong, trưởng giả được khai mở tâm ý, đắc quả Tu-đà-hoàn.

Bấy giờ, chư tỳ-kheo thấy việc biến hóa thần diệu, cho đến việc trưởng giả phát tâm cúng dường, đều khen là chưa từng có, liền thưa hỏi Phật rằng: “Bạch Thế Tôn! Do nhân duyên gì mà có được báo ứng như ngày hôm nay?”

Phật bảo chư tỳ-kheo: “Các ngươi nên chú ý lắng nghe, ta sẽ vì các ngươi mà phân biệt giảng nói.

“Này chư tỳ-kheo! Về thuở quá khứ, cách nay vô số kiếp, nước Ba-la-nại có Phật ra đời hiệu là Mãn Nguyện, cùng với chư tỳ-kheo đi giáo hóa khắp nơi, đến nước của một vị vua tên là Phạm-ma. Vua ấy nghe tin Phật đến thì cùng với quần thần ra nghinh đón. Lễ bái rồi thỉnh Phật và chư tỳ-kheo tăng vào trong thành cúng dường. Đức Phật nhận lời.

Vua xuống lệnh cho quần thần sắp sửa cúng dường các món ăn thức uống ngon lạ, tinh sạch, đủ trăm mùi vị. Lễ cúng dường xong, Phật liền vì vua mà thuyết pháp. Vua nghe pháp rồi phát tâm Bồ-đề, nguyện thành quả Phật. Khi ấy, đức Phật Mãn Nguyện liền thọ ký cho vua rằng: ‘Ngươi về sau sẽ thành Phật hiệu là Thích-ca Mâu-ni.’”

Phật bảo chư tỳ-kheo rằng: “Vua Phạm-ma thuở ấy chính là ta ngày nay. Nhờ nhân duyên cúng dường, phụng sự đức Phật Mãn Nguyện và chư tăng thuở ấy, nên trải qua bao kiếp lưu chuyển, ta chẳng bao giờ đọa vào các đường địa ngục, súc sanh, ngạ quỷ, thường hưởng những sự khoái lạc trong cõi trời, cõi người, cho đến ngày nay được quả vị vô thượng Bồ-đề. Cũng vì thế mà khắp trong cõi trời người, ai ai cũng muốn đến cúng dường ta.”

Các vị tỳ-kheo nghe Phật thuyết nhân duyên này xong thảy đều vui mừng tin nhận.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22/10/2014(Xem: 7009)
Hai kẻ thù đã lâu đời, hai chàng trai trẻ nhất thuộc hai dòng tộc võ sĩ đạo lâm chiến, đang rình rập nhau trong vùng hẻm núi dưới mé sông trong lúc bà con dòng họ đôi bên đang chém giết lẫn nhau trên phía đồng bằng. Mối hận thù nẩy sinh giữa hai chàng sâu đậm đến độ như muốn lộn mửa, và khi trông thấy nhau, mỗi chàng đều nguyện cầu: “Lạy Trời nếu con phải chết, xin cho con gây ra tử thương cho kẻ oán thù trước khi con lìa đời.”
18/10/2014(Xem: 46714)
Uống trà là một nét đẹp văn hóa truyền thống của Á Đông theo phương châm“Bình minh nhất trản trà". Cách đây hàng ngàn năm, con người đã biết đến trà như một loại nước uống mang lại sự sảng khoái, thanh khiết cho tinh thần, là cách để khai tâm mở trí. Người ta xem chén trà là đầu câu chuyện, là gợi mở tâm linh, là giao thoa văn hóa và kết nối lòng người.
10/10/2014(Xem: 6406)
Từ lâu, người ta tin rằng có một cái “bản ngã” thường hằng, bất biến, tồn tại độc lập trong vạn pháp. Trước sự nhầm lẫn tai hại đó, Phật Thích Ca bèn nói thuyết “Vô ngã” để chúng sinh phá chấp. “Vô ngã” không phải không có gì hết mà là không có tự tánh, không có tự thể riêng biệt. Đây là một trong ba Pháp ấn trong hệ thống giáo lý của Phật giáo (hai pháp ấn kia là Khổ và Vô thường). Gọi là Pháp ấn có nghĩa là trong tám mươi bốn ngàn pháp môn của đạo Phật nếu có pháp môn nào không có một trong ba khái niệm Khổ, Vô thường và Vô ngã thì không phải giáo lý đạo Phật.
03/10/2014(Xem: 6228)
Học sinh thường cho rằng, các thầy cô chỉ nhớ tên học sinh giỏi, học sinh đẹp hoặc hoạt động hiệu đoàn... Cho nên mỗi lần nếu tôi gặp lại một em học sinh không có gì xuất sắc ngày xưa mà tôi còn nhớ tên, thì đó là một niềm vui to lớn của em là được thầy cô còn nhớ mặt và nhớ tên của mình. Sau khi cuộc chiến lan tràn trên quê hương thầy trò phân tán, tôi đi cùng nam cực bắc, đi xa nửa trái địa cầu, rải rác khắp nơi, tôi vẫn gặp lại những em học sinh Đồng Khánh cũ. Và nhờ cố gắng nhớ mặt, nhớ tên các em, nên hầu như ở đâu tôi cũng gieo được chút niềm vui cho những người đang phập phồng chờ được gọi đích danh sau một câu mở đầu công thức: „Cô còn nhớ em không?“. Những con người ấy, những học sinh Đồng Khánh tha phương - xa trường, xa thầy bạn cũ đã xưa rất xưa, mà chính bản thân khi soi gương cũng không còn bắt được hình bóng mình ngày ấy..., bất giác còn được gọi tên, còn được nhớ, còn được nhắc nhở đến bao kỷ niệm của một thời. Ôi! Vui biết bao nhiêu, ấm áp ngọt ngào biết bao nhiêu
02/10/2014(Xem: 5810)
Ra đến bến xe trời hãy còn khuya khoắt, trông cảnh nhộn nhịp ì xèo rộn lên từ những gian hàng ăn uống ở một góc gần bên, và tiếng nói cười lăng xăng của hành khách đi lại lẫn với tiếng những người bán hàng rong mời mọc. Nhìn sang quầy bán vé bây giờ không giống như những ngày tháng sau năm 1975, bề mặt thoáng mát rộng rãi trang trí bởi những bảng quảng cáo, những hoa văn sắc màu, những hàng ghế để khách ngồi chờ trông lịch sự. Khách mua vé rất nhanh khỏe hơn xưa, không còn cảnh chen lấn xếp hàng cả buổi trời như trước đây, lại có thêm nhiều loại xe phục vụ trên các tuyến, việc nầy còn tùy thuộc vào túi tiền của hành khách, ai có tiền nhiều thì đi loại xe chất lượng cao, còn ai ít tiền thì đi loại xe bình dân hơn. Nói vậy chứ còn khá hơn trước Đây, bởi ba chiếc xe car cũ kỹ hoặc xe chạy bằng than đá trên những tuyến Miền Đông, Miền Tây vào những năm 1975 - 1990.
24/09/2014(Xem: 8388)
Xưa có một người quyết tâm học đạo, theo một vị thiền sư sống trong một cái cốc nhỏ, sống đạm bạc, quyết chí tu hành. Một này kia, có công việc, vị thiền sư phải đi xa, dặn đệ tử ở lại phải lo chăm chỉ tu hành, luôn luôn giữ lối sống đạm bạc và tâm hồn thanh tịnh. Người đệ tử này chỉ có một chiếc khố che thân. Đêm tới khi ngủ, máng khố trên vách, thường bị chuột chui ra cắn rách, phải xin bá tánh chút vải thừa thay khố nhiều lần.
03/09/2014(Xem: 6801)
Lúc đó tôi được 13 tuổi. Trước đó một năm gia đình tôi đã chuyển từ Bắc Florida đến miền Nam California. Tôi dễ hận thù khi vừa đến tuổi vị thành niên. Tôi rất nóng nảy và hay cãi lại đối với bất cứ chuyện gì dù nhỏ mà ba mẹ đề cập tới, đặc biệt là nếu nó liên quan đến tôi. Cũng giống như nhiều đứa trẻ lứa tuổi thiếu niên, tôi khó chấp nhận bất cứ điều gì đi ngược lại với quan điểm của mình về thế giới chung quanh. Một đứa bé “thông minh không cần dạy bảo”. Tôi phản đối bất cứ biểu lộ nào của tình thương. Thật sự, tôi dễ giận dữ khi đề cập đến cái từ “thương yêu”.
26/08/2014(Xem: 6049)
Ở ven bờ bể Mễ Tây Cơ, có một làng nhỏ chuyên sống nghề đánh cá, một chiếc thuyền con lướt sóng nhẹ vào bờ, đem về vài con cá khá to. Một ông khách Mỹ đứng trên bờ, khen ngợi nghề đánh cá tài giỏi của anh chàng Mễ Tây Cơ và hỏi anh ta mất bao nhiêu thì giờ mới được chừng đó cá. _ “ Không lâu lắm đâu !” anh Mễ Tây Cơ trả lời.
17/08/2014(Xem: 39055)
Đại Sư tên là Huệ Năng, cha họ Lư, tên húy là Hành Thao. Người mẹ họ Lý, sinh ra ngài nhằm giờ tý, ngày mùng tám tháng hai, năm Mậu Tuất, niên hiệu Trinh Quán thứ 12. Khi ấy, hào quang từ nhà ngài chiếu sáng lên không trung, mùi hương lạ tỏa lan khắp nhà. Đến tảng sáng, có hai vị tăng lạ mặt đến thăm, bảo cha ngài rằng: “Khuya nay ông vừa sinh quý tử, chúng tôi đến đây là để đặt tên cho cháu bé. Ông nên đặt trước là chữ Huệ, sau là chữ Năng.”
17/08/2014(Xem: 33496)
Nhân quả báo ứng là một tập truyện của Trung Quốc, có vẽ tranh minh họa rất sinh động. Tập truyện này trước do ngài Văn Xương Đế Quân đời nhà Tấn sưu tập những truyện nói về nhân quả và sự báo ứng qua nhiều triều đại ở Trung Quốc.