Lược truyện tiền thân Đức Phật

29/08/201105:02(Xem: 17665)
Lược truyện tiền thân Đức Phật

LƯỢC TRUYỆNTIỀN THÂN ĐỨC PHẬT
Hòa thượng Thích Đức Niệm
Phật Học Viện Quốc Tế, California, 1998

Mục Lục

Thaylời tựa
01Thái Tử Nhẫn-Nhục-Khải
02Xá-Lợi-Phất Niết Bàn Trước Phật
03Cắt Thịt Nuôi Cha Mẹ
04Thiện Hữu và Ác Hữu
05Hai Nhà Vua Hiền Đức
06Chuyển Luân Thánh Vương
07Vua Chuyển Luân Đảnh-Sanh
08Vì Hiếu Quên Thù
09Kẻ Ngu Hay Cãi
10Chồn Cưới Công Chúa
11Chim Phượng Hoàng
12Nai Cứu Người
13Quốc Vương Hữu-Đức
14Tể Tướng Đại-Điển-Tôn
15Nhẫn Nhục Tiên Nhân
16Người Đệ Tử Cuối Cùng

ThayLời Tựa

Nhân-quả, Luân-hồi,Nghiệp báo là đạo lý căn bản của Phật giáo. Sông biển có thể cạn khô. Mặt trờimặt trăng có thể rơi rụng. Nhưng đạo lý nầy muôn đời không sai. Dù thế pháp hayđạo pháp, tăng hay tục, bất luận hạng người nào, hễ còn vào ra trong sanh tử,trôi lăn trong sáu đường, đắm chìm trong ngũ dục, lặn hụp trong lợi danh dụctình, thì nhất định không cách nào thoát khỏi mãnh lực của luật nhân quả, luânhồi, nghiệp báo chi phối.

Không tin nhân quả,luần hồi, nghiệp báo là tự mình đào sâu hố thẳm thối hóa, tự mình mở cửa tộilỗi, đi vào bóng đêm tăm tối thăm thẳm. Không tin nhân quả, luân hồi, nghiệpbáo là đi ngược luật tiến hóa thiên nhiên, là tự nghiền nát khả nang phát triểnthánh thiện của mình. Ngày xưa, khi đức Phật đanh tĩnh tọa dưới gốc cây, có vịthiên thần đến hỏi Phật: "Bạch đức Thế-Tôn! Trên đời nầy cái gì tăm tốinhất? Cái gì tội lỗi nhất?"

Đức Phật trả lời:"Lòng dạ ngu si không biết phân định chánh tà là tăm tối nhất. Không tinnhân quả, luân hồi, nghiệp báo là nguồn gốc sanh ra tội lỗi nhất".

Có tin nhân quả, luânhồi, nghiệp báo mới thấy được cội nguồn tội phước, mới chuyển bước hướng thiện,mới tìm thấy ánh sáng chân lý cuộc đời, mới giải tỏa được bao nỗi ưu tư thắcmắc của tâm thức, và mới thực sự liễu giải mọi hiện tượng sanh diệt chuyển biếnthịnh suy của thế nhân.

Nhân quả, luân hồi,nghiệp báo bao trùm và chi phối muôn loài vạn vật. Thế nên tất cả những hiệntượng nhân sanh vũ trụ thăng trầm sanh diệt không ngoài luật nhân quả. Tin hiểunhân quả, luân hồi, nghiệp báo là chìa khóa khai mở kho tàng bí ẩn thầm kínthâm sâu của kiếp người, là đài gương quán chiếu giải tích mọi hiện tượng nhânsanh vũ trụ. Một khi đã hiểu rõ và tin sâu đạo lý nhân quả, luân hồi, nghiệpbáo, con người không còn thắc mắc về thân phận mình và hoàn cảnh tha nhân.

Nhân quả, luân hồi,nghiệp báo là quỹ đạo, là mấu chốt cho những hệ quả hiện tượng dây chuyền thiênchuyển biến dịch của các pháp, là hiện trạng hiển hóa sanh sanh diệt diệt thăngtrầm chuyển kiếp của hữu tình chúng sanh đời này sang đời khác. Mọi hiện tượngcủa kiếp người trong vũ trụ thăng trầm tan hợp chỉ là sự thay hình đổi lớp hệlụy theo nghiệp nhân quả báo, chứ bản chất cốt tủy của nó không bao giờ mất.Như sóng biển lặn nơi nầy nổi nơi khác. Nhà bác học Lavoisier (1743-1794) đãnói: "Mọi hiện tượng trên đời không có gì còn mãi, cũng không có gì vĩnhviễn mất".

Đức Phật đã thấu suốtdiệu lý chơn thường của vạn pháp, nên trên đường giáo hóa độ sanh, Ngài đã baolần giải đáp thắc mắc cho thính chúng đệ tử. Ngài thường dẫn chứng đạo lýnghiệp quả, luân hồi, nhân duyên, tiền kiếp. Nhờ đó mà thính chúng thấu rõ mọihiện tượng sinh sinh hóa hóa, giải tỏa nghi hoặc, tiến tu, thể nhập diệu lýĐại-thừa.

Do công đức tu hành màđức Phật có được trí huệ giác ngộ, thấu suốt chân lý vũ trụ nhân sanh. Nhờ giớithể thanh tịnh mà đức Phật có huệ nhãn suốt thấy các kiếp chúng sanh biếnchuyển đổi dời từ thời quá khứ sang thời hiện tại và tiếp diễn đến đời vị lai.Ngài là người bộ hành đã lên đến đỉnh núi giác ngộ, ngồi thưởng thức trăngthanh gió mát với quãng trời giải thoát bao la, rồi nhìn lại quãng đời đầy sôngnúi suối đèo ghềnh thác chông gai mà mình đã trải qua. Ngài thấu suốt tất cảngọn ngành uẩn khúc của kiếp chúng sanh trong sáu nẻo luân hồi. Trong lúc đó,chúng sanh nghiệp chướng sâu dày, sống trong vô minh vọng thức, tội lỗi chấtchồng. Do tà tâm vọng tưởng, nên phiền não dày vò, phàm tánh cuốn lôi, lạc lốitrong rừng núi thâm u đầy bất trắc. Kiếp người như thuyền nan trong biển cả đầyhiểm nguy không địa bàn để tìm ra định hướng.

Tuy đức Phật đời đờithương xót gọi kêu chúng sanh thức tỉnh, tiếng pháp âm không ngừng vang vọng,nhưng chúng sanh không thúc liễm thân tâm, cứ mải mê say đắm trong ngũ dục lạctrần gian mông huyễn. Kinh Thủ-Lăng-Nghiêm, đức Phật nói: "Mười phương cácđức Như-Lai đời đời thương xót chúng sanh như mẹ hiền thương con nhỏ, lúc nàocũng muốn giúp đỡ cho con nên người sáng suốt an vui. Nhưng con cứ tìm cáchtrốn tránh mẹ, thì cho dù mẹ có thương con đến mấy đi nữa, cũng không cách nàogiúp đỡ con được. Mẹ tìm con mà con cứ mãi trốn mẹ, thì mẹ con đời đời xacách!" Chư Phật Bồ-Tát luôn luôn mang từ bi trí huệ an lành hướng về chúngsanh, như mặt trời lúc nào cũng trải nguồn sáng ấm cho vạn vật. Nhưng có nhữngvõ cây sanh trong kẹt đá, những sinh vật sống trong rừng thẳm biển sâu thìkhông thể nào tiếp nhận được nguồn sáng ấm của mặt trời.

Kiếp người diễn biếntừ đời này sang đời khác vô cùng tận, như lượn sóng trên đại dương, chỉ có tríhuệ giác ngộ của Phật mới kiểm chứng được số lượng kiếp kiếp. Và chỉ khi nàođạt quả Vô-thượng Bồ-đề mới chấm dứt kiếp luân lưu sanh tử từ thời quá khứ sangthời hiện tại.

Bàng bạc khắp trongtam tạng kinh điển, hằng hà sa số mẩu truyện, đức Phật thường nhắc đến sự liênhệ giữa Ngài và các đệ tử, giữa chúng sanh và Ngài trong những kiếp quá khứ.

Trong tâm nguyện đềnơn giáo hóa muôn một của đức từ phụ Thế-Tôn và cũng để giúp tư liệu cho nhữngai muốn biết phần nào về những kiếp quá khứ của đức Phật, do vậy, tỳ kheo QuêMùa tôi không ngài tài hèn đức bạc, mạo muội soạn dịch một ít truyện trong muônngàn truyện tiền thân của đức Phật, để cống hiến quý hiền giả.

Nơi đây, tôi chânthành tán thán công đức Phật tử Trần-Hải-Hùng - Pháp danh Chơn Lạc, vàVương-Mỹ-Linh - Pháp danh Diệu Tâm, đã phát tâm Bồ-đề hiến cúng tịnh tài để chotậpLược Truyện Tiền Thân Đức Phật nầy đủ duyên tái bản hầu kết thiện duyênBồ-đề cùng bạn lành bốn phương.

Nguyện đem công đứcnầy cầu nguyện Phật tử Chơn Lạc và Diệu Tâm cùng gia đình thường được bình an,đồng thời hồi hướng đến tứ trọng ân và pháp giới chúng sanh đều được an lành,sớm phát tâm Bồ-đề quy-y Tam-Bảo, liễu ngộ chánh pháp Đại-thừa, đạt thành đạoquả giải thoát.

Hoa-Kỳ, Vu-Lan Mậu Dần- 1998
Thích Đức Niệm

Source: thuvienhoasen

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16/12/2019(Xem: 9406)
Chùa do Thiền sư Liễu Quán (1667-1742) khai sáng vào đầu thế kỷ XVIII. Thiền sư là đệ tử đắc pháp của Hòa thượng Minh Hoằng - Tử Dung, được Hòa thượng trao tâm ấn năm 1712. Bấy giờ, chùa đã trở thành một đạo tràng lớn, có hàng vạn đệ tử học đạo, nghe pháp. Trong ba năm 1733, 1734 và 1735, Thiền sư đã mở ba Đại giới đàn truyền giới cho hàng vạn người tại chùa. Năm 1740, Thiền sư mở đại giới đàn Long Hoa ở kinh thành; năm 1742 mở Đại giới đàn tại chùa Viên Thông, nơi ngài khai sơn trước chùa Thiền Tôn. Thiền sư viên tịch năm Nhâm Tuất (1742), bảo tháp dựng ở một triền núi phía Đông Nam chùa vào tháng 4 năm Cảnh Hưng thứ 9 (1748), la thành bao quanh đồi tháp được xây vào năm 2001 nhân dịp đại trùng tu ngôi tổ đình.
15/12/2019(Xem: 30759)
INTRODUCTION "WITHIN A TREE, THERE IS A FLOWER WITHIN A ROCK, THERE IS A FLAME" BY SENIOR VENERABLE THICH NGUYEN TANG, QUANG DUC MONASTERY MELBOURNE, AUSTRALIA. "...The gift of the Dhamma excels all gifts; the taste of the Dhamma excels all tastes, and delight in the Dhamma excels all delights. The eradication of craving (i.e., attainment of arahatship) overcomes all ills (samsara dukkha). The gift of the Dhamma is the greatest giving among the all other givings. The one who is well trained in the Dhamma will share his understanding of the Dhamma either by writing a book, by preaching Dhamma, by discussing Dhamma, or by writing an article. Master Thich Nguyen Tang has used all these methods in his contribution to the Dhamma. Giving food or clothes or any other material items to a person makes them happy and they indeed will survive in the world, but they cannot get rid of this terrible circle of birth and death. It can be done only by understanding the noble Dhamma. Thus, the wr
09/12/2019(Xem: 6348)
Hơn một thế kỷ trước, một người quốc tịch Anh đã thất bại trong việc nghiên cứu về Giáo Lý Đạo Phật. Đó là giáo sư Rhys Davids, con của một mục sư Cơ Đốc Giáo. Ông đã bỏ ra nhiều năm học tiếng Pali, kiên nhẫn tìm tòi, nghiên cứu các kinh điển Phật Giáo chỉ để mong đạt mục đích là chứng minh giáo lý Đạo Phật thua xa giáo lý Cơ Đốc. Nhưng Rhys Davids đã thất bại với công việc này!
07/12/2019(Xem: 13611)
Cuối năm, lên núi thăm Chùa Sắc Tứ Kim Sơn, hầu chuyện với Thầy trụ trì Thích Nguyên Minh, tôi được Thầy ban tặng một cuốn lịch để về treo đón năm mới Canh Tý 2020.
05/12/2019(Xem: 6900)
Tiểu Truyện của HT. Thích Huyền-Tôn 玄宗小傳 (Đây là bài Tự Thuật, nên 2 chữ Ht(trong bài) là người viết, {Huyền Tôn} cũng là đạo hiệu. Còn 2 chữ HT lớn, Là để chỉ cho các HT đương thời. ) Đời sống Đạo của HTHuyền-tôn: *Sanh: VL. 4807. Mậu-thìn (1928) *6t, xuất-gia. Quy-Y, Pd Như-Kế. Giáp-tuất (1934). *13t, Thọ Sa-di, PhápTự Giải-Tích. Tân-Tị (1941). *20t, Tỳ-Kheo, HiệuHuyền-Tôn. Mậu-tý (1948). *43, Thượng, Tọa. Chùa Pháp-vân, Tỉnh Gia Định Sai-gòn. *66, Hòa Thượng, Tại Hoa Kỳ.
26/11/2019(Xem: 10884)
Những ngày ở Áo Thích Như Điển Lâu lắm rồi tôi mới trở lại Áo trong mùa Đông như năm nay, từ ngày 22 đến 24 tháng 11 năm 2019. Thầy Viên Duy và một Phật Tử đến phi trường Wien (Vienna) đón tôi vào chiều ngày 22 tháng 11, đưa về chùa Pháp Tạng, nơi Thượng Tọa làm Trụ Trì và Hòa Thượng Thích Trí Minh làm Cố vấn và lãnh đạo tinh thần. Đây chẳng phải là lần đầu tiên tôi đến Áo, mà những lần trước đó, kể từ năm 1978 đến nay chắc cũng hơn 10 lần, nhưng mỗi lần lại mỗi khác, chẳng có lần nào giống lần nào cả
18/11/2019(Xem: 9293)
Đại chúng thương mến, Như thông lệ hàng năm với 4 khóa tu Xuân - Hạ - Thu - Đông, Khóa Tu Mùa Đông năm nay được chùa Sắc Tứ Kim Sơn tổ chức vào các ngày 20,21,22/12/2019 (Nhằm ngày 25,26,27/11 ÂL). Thương mời Đại chúng cùng về chùa thực tập ăn cơm chánh niệm, thiền hành, thiền tọa, tụng kinh, nghe pháp thoại, chia sẻ pháp đàm và hát thiền ca cùng Quý Thầy - Quý Sư Cô giữa không gian xanh mát của núi đồi Kim Sơn. Khóa tu còn là cơ hội để quý vị trở về và tiếp xúc với một nếp sống giản dị - bình an, tập nhìn lại chính mình giữa cuộc sống bận rộn, hối hả.
31/10/2019(Xem: 8772)
Vào ngày 4/6/2018, nhà vẽ kiểu túi xách Kate Spade/ Kate Valentine thành công với tài sản ước lượng 200 triệu Mỹ Kim, bà đã treo cổ tự tử ở trong phòng riêng, để lại một tuyệt mệnh thư cho con gái, trong khi chồng ở một phòng khác. Điều này cho thấy “Thành công và tăm tiếng chưa chắc đã ngăn ngừa được sự buồn nản, chán đời” (Kate Spade's suicide is proof that money and fame can't deter depression).
29/10/2019(Xem: 8334)
Tuần qua tin tức thế giới chấn động khi được nhìn thấy 39 thi thể của những nạn nhân vì mục đích đi tìm hạnh phúc cho gia đình mình, cho mình và người thân theo quan niệm thường có ở thế gian ( của cải, vật chất) đã không màng đến tính mạng rủi ro xảy ra trên đường đến Anh Quốc . Chúng ta thường đã được nghe Đức Đạt Lai Lạt Ma nhận thức như sau khi đã tiếp xúc với nhiều dân tộc, ra nhiều thành phần trong xã hội " TẤT CẢ CHÚNG TA AI CŨNG MUỐN SỐNG CÓ HẠNH PHÚC CHỨ KHÔNG THÍCH KHỔ ĐAU " .
22/10/2019(Xem: 7058)
Quê quán tôi ở tận làng Nguyệt Biều, ngoại ô thành phố Huế, nơi nổi tiếng có những vườn thanh trà xanh um, trái ngọt. Hơn 50 năm trên đất Việt, tôi đã sống hơn 30 năm trên đất Huế, uống nước sông Hương hai mùa mưa nắng, ăn cơm gạo de An Cựu. Mùa hè tắm biển Thuận An, mùa xuân ngắm hoa đào trên chùa Từ Hiếu, mùa đông vẫn dầm mưa qua đò Thừa Phủ; chưa kể tiếng thông reo trên đồi Thiên An, tiếng ve sầu rả rích trên các tàng cây dọc con đường vào Thành Nội. Còn nữa, màu hồng, màu trắng của hoa sen hồ Tịnh Tâm, màu đỏ rực của phượng vĩ mùa hè. Tôi là dân Huế chính cống, Huế chay, “mô - tê - răng - rứa “ tôi nói không sai một chữ. Cũng có thể máu huyết tôi thấm đậm hương vị quýt Hương Cần, thanh trà, nhãn lồng Nguyệt Biều, mít Kim Long, dâu Truồi ngọt lịm...