Nợ như chúa Chổm

05/12/201007:40(Xem: 4005)
Nợ như chúa Chổm

Nước Việt, năm Đinh Hợi (1527), Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê lên làm vua. Vua Lê Chiêu Tông bị họ Mạc bắt nhốt định giết chết.
Trong ngục lạnh tại Đông Hà, nhà vua nhờ người đàn bà bán cơm hàng ngày được phép mang cơm đến cho ăn. Dù mỗi ngày một gầy gò héo hắt vì bị giam cầm nhưng nhà vua cũng cảm thấy lòng mình đỡ u buồn tẻ lạnh bên cạnh một người đàn bà có một ít sắc đẹp nẩy nở về chiều, ngoan ngoãn chăm nom, săn sóc. Rồi cả hai lại nồng nhiệt yêu nhau.
Một hôm, nàng cho nhà vua biết là nàng đã có thai, đồng thời lại báo tin là họ Mạc định bức tử nhà vua. Vua vẫn bình thản trao cho nàng một ngọc ấn mà từ lâu đã giấu kín trong đai áo, đoạn buồn bã dặn:
- Nếu đứa con của chúng ta sau này là trai thì đây là một chứng vật, không ai chối cãi được nó là dòng dõi đế vương. Còn nếu nó là gái thì nàng hãy liệng ngọc ấn giữa dòng, đừng để cho một kẻ nào lợi dụng!
Chiêu Tông bị giết chết. Người đàn bà bán cơm may mắn sinh được một trai đặt tên là Duy Ninh. Sợ tung tích bại lộ, nàng bỏ nghề cũ, đem Duy Ninh trốn về thôn quê, kiếm củi đổi gạo nuôi thân.
Ninh lớn lên, vẻ người tuấn tú khác thường. Ai cũng tấm tắc khen. Nhưng Ninh mắc phải cái tật ăn chơi ngông nghênh, nợ nần nhiều, mẹ con thiếu thốn vất vả. Có lắm khi phải nhịn đói, uống nước lã cầm hơi. Tương truyền người nào được Ninh mua mở hàng cho thì bán rất đắt. Người bán hàng gặp Ninh thì đổ nhau mời bảo mua cho kỳ được. Ninh bảo không tiền và hẹn chừng nào Ninh làm ăn khá giả sẽ trả. Họ rất đồng ý. Do đó, Ninh thiếu nợ càng nhiều.
Khi Mạc cướp ngôi nhà Lê, các bề tôi nhà Lê kẻ chạy theo tân triều, kẻ tuẫn tiết, kẻ nổi lên chống Mạc. Trong số những bực trung thần có ông Nguyễn Kim trốn sang Sầm Châu, nơi biên giới Việt Lào, nhờ quốc vương Lào giúp đỡ để gây thanh thế chống Mạc.
Muốn nắm được chính nghĩa, Nguyễn Kim quyết định phải tìm cho được một người dòng dõi nhà Lê. Nhưng đã lâu ngày, vì sự đàn áp thẳng tay của họ Mạc, dòng Lê đâu mất cả, Kim không tìm thấy một ai.
Năm Quí tị (1532), thế lực của Nguyễn Kim khá mạnh, mà dòng Lê vẫn chưa tìm được, ông rất nóng lòng khôi phục cơ đồ, mới nhờ một bốc sư suy đoán việc tiền trình. Bốc sư trịnh trọng tuyên bố:
- Dòng Lê nào đã hết đâu! Hiện nay Chiêu Tông vẫn còn một hoàng tử cuối cùng và vẫn sống lang thang khắp xứ. Nếu có ý muốn tìm, thật chẳng khó. Cứ thấy một thanh niên có tiếng tốt, đầu đội mũ sắt, mình ngồi kiệu cối xay thì hẳn là đúng đó. Người ấy sẽ đem nhà Lê và non sông trở về với phong thái cũ.
Nguyễn Kim mừng lắm, hạ lịnh cho nha lại đi tìm.
Bấy giờ Nguyễn Kim đóng binh ở biên giới Việt Lào để chống với Mạc Đăng Dung, cũng là lúc Duy Ninh đương lang bạt ở đấy. Một hôm, Ninh vừa trong một quán rượu đi ra bỗng gặp một trận mưa rào đổ xuống. Ninh không dù không nón, nhân tìm thấy một cái chảo bỏ không, liền chụp ngay đội lên đầu che mưa. Tiếng náo động của trận mưa làm con chó đương ngủ bên đường thức dậy. Nó lại thấy Ninh lạ kỳ quá nên sủa vang lên và đuổi theo cắn. Ninh đâm hoảng, chạy bổ vào nhà người, nhảy ngay lên một cái cối xay lúa ở hàng ba mà tránh.
Quân sĩ của Nguyễn Kim vừa từ trên đường đi tập trận về, xa xa trông thấy dáng Ninh thì la lớn:
- Vị hoàng tử mà tướng công ta tìm kiếm, chắc là người đội chảo sắt và ngồi kiệu cối xay kia!
Duy Ninh nghe được, tưởng là quân Mạc đuổi bắt mình nên hoảng hốt, ù té chạy. Từ đấy, mẹ con Ninh thấp thỏm lo âu, đem nhau sang đất Lào, tạm sống bằng nghề thợ nhuộm Tuy cuộc sống không sung túc gì, nhưng ở đây xa lạ, không ai biết được tông tích nên mẹ con Ninh tự thấy đỡ khổ đôi phần.
Một hôm, nhân bại trận, Nguyễn Kim rút binh sang Lào. Ông rất ngạc nhiên khi đi ngang qua một căn nhà nhỏ, vách đất cột tre, trước cửa có dán một câu đối bằng chữ Hán:
Thiên hạ thanh hoàng giai ngã thủ,
Triều đình chu tử tận ngô môn (*)
Đọc sơ qua, ý nghĩ tuy biểu lộ được chủ nhân làm nghề thợ nhuộm, nhưng suy ngẫm kỹ thì bên trong còn hàm súc một khí phách phi thường làm cho Nguyễn Kim chú ý. Ông liền ghé vào nhà ân cần gạn hỏi và nói thật nguyện vọng của mình.
Quả thật Nguyễn Kim không lầm. Người mà ông mơ ước từ lâu bỗng nhiên xuất hiện. Mẹ con Duy Ninh kể lại đoạn đời đau khổ vừa qua và trao ngọc ấn làm tin.
Nguyễn Kim rước Duy Ninh về Thanh Hóa, cử đại binh đánh Mạc. Duy Ninh được suy tôn đế vị, tức là Lê Trang Tông.
Tương truyền lúc Duy Ninh được Nguyễn Kim xe giá rước về Thanh Hóa, khi ngang qua làng cũ, chỗ mẹ con Duy Ninh lánh nạn, một số người bán chịu cho Ninh ngày xưa đổ lại đòi tiền. Họ không biết Duy Ninh làm ông gì nhưng thấy được đi xe giá, quân lính hộ vệ thì chắc là Ninh đã thành đạt, nên họ nhắc lại lời hứa của Ninh. Có nhiều người không phải là chủ nợ nhưng thừa nước đục thả câu, cũng đổ xô lại yêu cầu, đòi hỏi. Người người tấp nập đầy đường.
Nhà vua không biết ai và cũng không biết làm sao mà trả cho hết nên truyền miễn thuế một năm cho dân cả làng để trừ.
"Nợ như chúa Chổm" trở thành một thành ngữ chỉ những người thiếu nợ quá nhiều.
*:
Xanh vàng thiên hạ đều tay tớ
Đỏ tía triều đình tự cửa ta


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/10/2011(Xem: 30088)
Bùi Giáng, Người viết sách với tốc độ kinh hồn
12/10/2011(Xem: 25203)
Truyện thơ Tôn giả La Hầu La - Tác giả: Tâm Minh Ngô Tằng Giao
01/10/2011(Xem: 9744)
Hàng ngũ phật tử thường được chia là phật tử tại gia và phật tử xuất gia. Các phật tử tại gia thường được gọi là cư sĩ. Trong lịch sử đạo Phật có ghi lại chuyện một số các vị cư sĩ nổi tiếng, tuy các vị ấy không xuất gia nhưng về phương diện tu hành, thấu hiểu đạo lý thì không thua kém gì các vị đã xuất gia. Có nhiều vị cư sĩ nổi tiếng nhưng bài này chỉ xin nhắc đến ông Duy Ma Cật, bà hoàng hậu Thắng Man, cư sĩ Huệ Năng lúc chưa xuất gia và sau đó đến gia đình ông Bàng Uẩn.
25/09/2011(Xem: 5978)
Lời hát ru nhẹ nhàng mà trầm buồn da diết ấy đi vào trong cả giấc mơ của Hiền. Bao lần chị giựt mình thảng thốt ngồi bật dậy… ngơ ngác nhìn quanh. Chẳng có gì khác ngoài bóng đêm lạnh giá bao trùm hai dãy xà lim hun hút. Chốc chốc vẳng lại tiếng thạch sùng chặc lưỡi, tiếng chí chóe của mấy chú tí ưa khuấy rối trong xó tối. Và cả tiếng thở dài của ai đó dội qua mấy bức tường xanh rêu im ỉm…
24/09/2011(Xem: 4092)
Ngày xưa có một chàng trai tên là Na Á. Anh mồ côi cha từ sớm, ở với mẹ già. Nhà Na Á nghèo, anh phải làm nghề đánh cá để nuôi thân, nuôi mẹ.
24/09/2011(Xem: 4863)
Một hôm em bé ngồi trong bóng cây trú nắng, gió cũng thổi mát quá, em ngủ quên, đến lúc thức dậy, thì đàn trâu đã đi mất. Em tìm khắp cánh đồng mà chẳng thấy.
21/09/2011(Xem: 4305)
Tờ Chú (có nghĩa là anh đen) nghèo nhất làng. Họ nghèo lắm, nghèo đến nỗi không có một con dao mẻ để phát nương, một cái thuổng để đào củ mài.
21/09/2011(Xem: 4078)
Ngày xưa, ở xã Đại An gần cù lao Huân tỉnh Khánh Hòa có một đôi vợ chồng già không có con cái. Ông bà ở trong một căn nhà lá dựng bên vách núi, làm nghề trồng dưa.
16/09/2011(Xem: 15246)
Tôi cảm động, vì sống trong đạo giải thoát tôi đã tiếp nhận được một thứ tình thiêng liêng, trong sáng; một thứ tình êm nhẹ thanh thoát đượm ngát hương vị lý tưởng...
12/09/2011(Xem: 5339)
Hồ Biểu Chánh (1884–1958), tên thật là Hồ Văn Trung, tự Biểu Chánh, hiệu Thứ Tiên; là một nhà văn tiên phong của miền Nam Việt Nam ở đầu thế kỷ 20. Ông sinh năm 1885 (trong giấy khai sinh ghi ngày 1 tháng 10 năm 1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Ông vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ.