Thằng Súc Sanh

01/01/201301:23(Xem: 7370)
Thằng Súc Sanh
 
suc sanh

 
Theo đạo Phật, mục đích giữ mười giới là để đem lại cuộc sống an vui cho mình và cho người.
1) Không sát sanh; 2) Không trộm cướp; 3) Không tà dâm; 4) Không nói dối;
5) Không nói lưỡi hai chiều 6) Không nói lời hung ác; 7) Không nói lời hoa mỹ để lừa gạt;
8) Không Tham dục; 9) Không sân hận; và 10) Không tà kiến.
o O o
Ngày tôi còn học Y Khoa, ở khu Sản khoa thời đó ở miền Nam Việt Nam chỉ cho phép làm “abortion therapeutique”, với chữ ký cuả 3 vị Thầy đồng ý phải bỏ thai nhi để cứu mạng sản phụ.
Và đây là chuyện rắc rối mà tôi đã gặp phải sau 1975
Anh chị M., đối với tôi là một cặp vợ chồng có tư cách rất đáng qúy, tôi luôn xem hai người như anh chị ruột của mình.
Anh M., một Phật tử thuần thành, lớn hơn tôi 10 tuổi, tốt nghiệp đại học bên Pháp, là một người sống nhiệt thành vì lý tưởng, lập gia đình trễ, từng giữ chức vụ khá lớn thời Việt Nam Cộng Hoà.
Năm 1980, khi mới ở tù cộng sản ra, tôi là người đưa chị M. đến nhà thương sanh con gái đầu lòng – cháu Phương Thanh (tên đã được thay đổi, không phải tên thật)
Từ đó cháu luôn gọi tôi là “bố nuôi”, vì sau khi ra đời, anh M., bố ruột của cháu bị Việt cộng kết án 8 năm tù, do viết những tài liệu “phản cách mạng”. Anh được phóng thích năm 1988 và chết vì bệnh một năm sau đó (1989)
Câu chuyện chẳng có gì đáng nói, nếu năm 1985, sau một lần đi thăm nuôi chồng, chị M. đã đến nhờ tôi dẫn đi bệnh viện để phá thai, hậu quả cuả một vụ ‘cưỡng hiếp tập thể’ cuả bọn bộ đội Việt cộng đóng trong khu rừng ở vòng đai trại giam chồng mình.
Tôi thật sự bối rối trước quyết định có nên ‘giúp đỡ’ (?) chị hay không. Dù việc phá thai thời đó chẳng khó khăn gì, tất cả các bệnh viện phụ sản: Từ Dũ, Hùng Vương, An Bình (BV Triều Châu cũ)… đều làm rất nhanh chóng và miễn phí, chỉ khoảng nửa giờ là xong, vì đó là “chính sách lớn” của nhà nước cộng sản, chẳng ai mất thì giờ tìm hỏi lý do.
Trong thâm tâm, tôi vẫn nghĩ quyết định phá thai cuả chị là đúng, vì hiểu hoàn cảnh khó khăn của một người phụ nữ mang thai lúc chồng đang ở tù (!). Và lại mang dòng máu cuả một thằng “súc sinh” nào đó!
Sự việc khá giản dị nếu lúc đó tôi đưa chị tới bệnh viện, giới thiệu cho một bác sĩ mà tôi rất thân.
Nhưng, một phần vì trung thành với tâm nguyện “không sát sinh” (dù chỉ là gián tiếp giúp người). Một phần vì muốn biết quyết định cuả “người trong cuộc” để khỏi mang trách nhiệm về sau, nên tôi đã đi cùng chị M. lên tận trại giam, hỏi ý kiến ông chồng.
Và quyết định của anh M., tuy giúp tôi trút được gánh nặng, vì không muốn trực tiếp hay gián tiếp dính dấp tới việc phá thai, dù có hơi ngạc nhiên xen lẫn với một chút thán phục, khi nghe anh nói với vợ: “Anh sẽ bỏ qua mọi chuyện. Và dù thế nào vợ chồng mình vẫn nên giữ đứa nhỏ”
Năm 1988, sau khi anh được phóng thích, thỉnh thoảng tôi cũng có ghé thăm anh chị. Chỉ ‘thỉnh thoảng’ thôi, vì không dễ chấp nhận thái độ có vẻ nhỏ nhen cuả mình, chẳng vui vẻ gì mỗi khi nhìn thấy “thằng con hoang”, dù thằng bé phát triển bình thường và vẫn nhận được sự đối xử tốt cuả cha (?) mẹ. Ít nhất là qua thái độ cuả anh.
Riêng với cháu Phương Thanh, tôi vẫn luôn xem cháu như con gái mình, còn với thằng bé này, tôi không hề muốn biết tên và cũng chưa một lần nhìn kỹ nó, chứ đừng nói là vuốt tóc hoặc cho quà.
Sau khi anh M. qua đời vài tháng, cuối năm 1990, trước khi sang Mỹ, tôi có ghé chào chị. Cháu Phương Thanh đã hơn 10 tuổi còn thằng nhóc khoảng 4 tuổi.
Việc liên lạc thưa dần cho tới năm 2001, qua người quen còn ở Sài gòn, tôi nhận được tin chị M. đã mất ở tuổi 56, không rõ lý do. Cháu Phương Thanh đang học Sư Phạm Saigòn, sắp trở thành cô giáo.
Những tưởng mọi việc rồi sẽ qua đi.
Nhưng đến năm 2003, lần đầu ở Mỹ tôi nhận được thư từ cháu Phương Thanh, đại ý:
“Cháu đã tự tử nhiều lần nhưng không chết vì còn nặng nợ. Cháu viết thư này cho chú, để bày tỏ sự oán hận cuộc đời vì quyết định dựa trên niềm tin sai lầm cuả chú ngày trước, đã không giúp mẹ cháu phá thai, để thằng… X, em cháu sinh ra đời, đã làm tan nát gia đình cháu. Từ năm 15 tuổi, nó sa đà nghiện ngập, phá tan hết của cải, nhiều lần đánh đập mẹ cháu làm mẹ cháu phải chết trong đau buồn.
Sau khi mẹ cháu chết, không còn ai cản được nó, nên một lần trong cơn say thuốc, nó đã “làm hỗn” với cháu” …
(Chữ “làm hỗn” là chữ tôi viết cho nhẹ bớt câu chuyện đi, vì chữ dùng trong thư nghe “kinh hãi” quá!)
Tôi tự biết mình không bao giờ đủ chữ nghiã để biện minh hay an ủi cháu nên đành giữ im lặng.
Nhưng qua bức thư đó, mới thấy là trong cuộc đời, việc gì cũng có ngoại lệ:
Không nhất thiết “Giữ mười giới để đem lại cuộc sống an vui cho mình và cho người”. Trong câu chuyện này, những người trong cuộc đã giữ giới “không sát sanh” để ai được an vui?
Giá ngày đó, mọi người đều đồng ý quyết định phá thai (sát sanh?) thì có lẽ cuộc sống gia đình anh chị M. tốt đẹp hơn nhiều.
o O o
Nhân chuyến về Việt Nam năm 2010, tôi đã thu hết can đảm tìm thăm cháu Phương Thanh tại một ngôi chuà bên Gia Định.
Thật may mắn, “ni cô” Phương Thanh đã tiếp chuyện tôi với vẻ khoan hoà cuả một người tu hành. Phương Thanh cho biết, cô đã an tâm tha thứ và quên hết chuyện cũ kể từ khi biết tin thằng em bị công an bắn chết tại Vũng Tàu vì tội ăn cướp.
Có lẽ cho tới ngày hôm nay, tôi chưa từng tự tay giết một sinh vật nào dù nhỏ bé đến đâu. Tôi là một Phật tử …nhưng không hiểu sao khi nghe tin “thằng súc sinh “ bị bắn chết mà lòng tôi lại vui đến thế?


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/10/2014(Xem: 6167)
Từ lâu, người ta tin rằng có một cái “bản ngã” thường hằng, bất biến, tồn tại độc lập trong vạn pháp. Trước sự nhầm lẫn tai hại đó, Phật Thích Ca bèn nói thuyết “Vô ngã” để chúng sinh phá chấp. “Vô ngã” không phải không có gì hết mà là không có tự tánh, không có tự thể riêng biệt. Đây là một trong ba Pháp ấn trong hệ thống giáo lý của Phật giáo (hai pháp ấn kia là Khổ và Vô thường). Gọi là Pháp ấn có nghĩa là trong tám mươi bốn ngàn pháp môn của đạo Phật nếu có pháp môn nào không có một trong ba khái niệm Khổ, Vô thường và Vô ngã thì không phải giáo lý đạo Phật.
03/10/2014(Xem: 5342)
Học sinh thường cho rằng, các thầy cô chỉ nhớ tên học sinh giỏi, học sinh đẹp hoặc hoạt động hiệu đoàn... Cho nên mỗi lần nếu tôi gặp lại một em học sinh không có gì xuất sắc ngày xưa mà tôi còn nhớ tên, thì đó là một niềm vui to lớn của em là được thầy cô còn nhớ mặt và nhớ tên của mình. Sau khi cuộc chiến lan tràn trên quê hương thầy trò phân tán, tôi đi cùng nam cực bắc, đi xa nửa trái địa cầu, rải rác khắp nơi, tôi vẫn gặp lại những em học sinh Đồng Khánh cũ. Và nhờ cố gắng nhớ mặt, nhớ tên các em, nên hầu như ở đâu tôi cũng gieo được chút niềm vui cho những người đang phập phồng chờ được gọi đích danh sau một câu mở đầu công thức: „Cô còn nhớ em không?“. Những con người ấy, những học sinh Đồng Khánh tha phương - xa trường, xa thầy bạn cũ đã xưa rất xưa, mà chính bản thân khi soi gương cũng không còn bắt được hình bóng mình ngày ấy..., bất giác còn được gọi tên, còn được nhớ, còn được nhắc nhở đến bao kỷ niệm của một thời. Ôi! Vui biết bao nhiêu, ấm áp ngọt ngào biết bao nhiêu
02/10/2014(Xem: 5521)
Ra đến bến xe trời hãy còn khuya khoắt, trông cảnh nhộn nhịp ì xèo rộn lên từ những gian hàng ăn uống ở một góc gần bên, và tiếng nói cười lăng xăng của hành khách đi lại lẫn với tiếng những người bán hàng rong mời mọc. Nhìn sang quầy bán vé bây giờ không giống như những ngày tháng sau năm 1975, bề mặt thoáng mát rộng rãi trang trí bởi những bảng quảng cáo, những hoa văn sắc màu, những hàng ghế để khách ngồi chờ trông lịch sự. Khách mua vé rất nhanh khỏe hơn xưa, không còn cảnh chen lấn xếp hàng cả buổi trời như trước đây, lại có thêm nhiều loại xe phục vụ trên các tuyến, việc nầy còn tùy thuộc vào túi tiền của hành khách, ai có tiền nhiều thì đi loại xe chất lượng cao, còn ai ít tiền thì đi loại xe bình dân hơn. Nói vậy chứ còn khá hơn trước Đây, bởi ba chiếc xe car cũ kỹ hoặc xe chạy bằng than đá trên những tuyến Miền Đông, Miền Tây vào những năm 1975 - 1990.
24/09/2014(Xem: 7736)
Xưa có một người quyết tâm học đạo, theo một vị thiền sư sống trong một cái cốc nhỏ, sống đạm bạc, quyết chí tu hành. Một này kia, có công việc, vị thiền sư phải đi xa, dặn đệ tử ở lại phải lo chăm chỉ tu hành, luôn luôn giữ lối sống đạm bạc và tâm hồn thanh tịnh. Người đệ tử này chỉ có một chiếc khố che thân. Đêm tới khi ngủ, máng khố trên vách, thường bị chuột chui ra cắn rách, phải xin bá tánh chút vải thừa thay khố nhiều lần.
03/09/2014(Xem: 6621)
Lúc đó tôi được 13 tuổi. Trước đó một năm gia đình tôi đã chuyển từ Bắc Florida đến miền Nam California. Tôi dễ hận thù khi vừa đến tuổi vị thành niên. Tôi rất nóng nảy và hay cãi lại đối với bất cứ chuyện gì dù nhỏ mà ba mẹ đề cập tới, đặc biệt là nếu nó liên quan đến tôi. Cũng giống như nhiều đứa trẻ lứa tuổi thiếu niên, tôi khó chấp nhận bất cứ điều gì đi ngược lại với quan điểm của mình về thế giới chung quanh. Một đứa bé “thông minh không cần dạy bảo”. Tôi phản đối bất cứ biểu lộ nào của tình thương. Thật sự, tôi dễ giận dữ khi đề cập đến cái từ “thương yêu”.
26/08/2014(Xem: 5709)
Ở ven bờ bể Mễ Tây Cơ, có một làng nhỏ chuyên sống nghề đánh cá, một chiếc thuyền con lướt sóng nhẹ vào bờ, đem về vài con cá khá to. Một ông khách Mỹ đứng trên bờ, khen ngợi nghề đánh cá tài giỏi của anh chàng Mễ Tây Cơ và hỏi anh ta mất bao nhiêu thì giờ mới được chừng đó cá. _ “ Không lâu lắm đâu !” anh Mễ Tây Cơ trả lời.
17/08/2014(Xem: 38103)
Đại Sư tên là Huệ Năng, cha họ Lư, tên húy là Hành Thao. Người mẹ họ Lý, sinh ra ngài nhằm giờ tý, ngày mùng tám tháng hai, năm Mậu Tuất, niên hiệu Trinh Quán thứ 12. Khi ấy, hào quang từ nhà ngài chiếu sáng lên không trung, mùi hương lạ tỏa lan khắp nhà. Đến tảng sáng, có hai vị tăng lạ mặt đến thăm, bảo cha ngài rằng: “Khuya nay ông vừa sinh quý tử, chúng tôi đến đây là để đặt tên cho cháu bé. Ông nên đặt trước là chữ Huệ, sau là chữ Năng.”
17/08/2014(Xem: 32755)
Nhân quả báo ứng là một tập truyện của Trung Quốc, có vẽ tranh minh họa rất sinh động. Tập truyện này trước do ngài Văn Xương Đế Quân đời nhà Tấn sưu tập những truyện nói về nhân quả và sự báo ứng qua nhiều triều đại ở Trung Quốc.
17/08/2014(Xem: 29588)
Nhân quả là định luật căn bản xuyên suốt quá trình thành trụ hoại diệt của tất cả chúng sinh từ đời này sang đời khác, cho đến vũ trụ, vạn vật cũng không phải tuần hành, biến dịch một cách ngẫu nhiên, vô lí, mà luôn tuân theo định luật nhân quả. Định luật này không do một đấng thần linh nào, xã hội nào đặt ra cả, mà là luật tự nhiên, âm thầm, lặng lẽ, nhưng luôn đúng đắn, chính xác, hiệu quả vô cùng.
17/08/2014(Xem: 35308)
Ngài Nam Tuyền nói: “Tâm bình thường là đạo.” Chư vị Tổ sư dùng đến vô số phương tiện cũng không ngoài việc dẫn dắt người học đạt đến tâm bình thường này. Vì thế, thiền không phải là một lãnh vực siêu nhiên vượt ngoài phạm trù ý thức thông thường như nhiều người lầm tưởng, mà trái lại chính là sự soi rọi, chiếu sáng những trạng thái tâm thức hết sức bình thường mà mỗi người chúng ta đều đã và đang trải qua trong cuộc sống thường ngày.