Chiều tà

23/05/201209:52(Xem: 6022)
Chiều tà

                          hoang hon4                   

Cách chùa khoảng một trăm mét, xéo về phía tây, dòng sông chảy hiền hòa uốn quanh thôn làng, bao bọc gần hết chu vi ba mặt của xóm nhỏ, chừa mặt tây trông ra ngọn núi hình dáng như người nằm ngủ nghiêng mà ở khúc đuôi của nó như một bàn chân đang chỉa năm ngón lên trời.

Ba người ngồi trên bãi cát hẹp của bờ sông. Phía trên đầu, gió chiều đang luồn qua lùm tre tạo ra những âm thanh xào xạc dễ chịu.

Ông thầy chùa bận áo màu nâu đậm, quần màu lam, ngồi xếp bằng trên mặt cát, đang lắng nghe Phụng nói.

Giọng nàng thanh thoát, trong như tiếng chuông ngân. “Cho nên người ta thường nói nghe thấy, xem thấy…Bản nhạc mà ban nảy chúng ta đã nghe trong liêu của thầy nếu nghe bằng đôi tai biết thưởng thức âm nhạc, thầy sẽ  thấy bản nhạc đang diễn tả một lễ hội dân gian nào đó bằng những âm điệu vui tươi, náo hoạt và những tiết tấu rộn ràng. Chúng ta nghe thấy bản nhạc đó, nghĩa là chúng ta đã cảm thụ được cái hồn của nhạc phẩm, chúng ta cảm nhận được niềm hân hoan hiện rõ trong những nốt nhạc thánh thót một cách tưng bừng…” Phụng ngưng nói, đưa mắt nhìn ông thầy chùa.

Khuôn mặt vuông và hàm râu quai nón đã cạo được vài ngày lúc này nổi lên thành một cái quai tua tủa quanh mặt khiến ông thầy nhác trông như hòa thượng Lỗ Trí Thâm trong truyện Thủy Hử.

“Cô Phụng nói tiếp đi. Tôi đang nghe đây mà,” ông thầy chùa mỉm cười hiền từ nói, ‘Anh Sơn cũng đang nghe cô nói đấy, phải không anh Sơn?” ông quay qua người đàn ông đang ngồi ôm chai rượu giấu bên dưới hai đầu gối.

“Vâng,” người đàn ông gục gặc đầu nói, “Phụng nói chuyện lôi cuốn và hấp dẫn lắm đấy. Thảo nào học trò chẳng mê cô giáo dạy Văn. Hãy nói tiếp cho thầy Hải và anh nghe đi chứ. Ừ, cái chuyện thấy biết…

Mặt trời buổi hoàng hôn đang gom vạt nắng cuối cùng đỏ ối trên cỏ cây và bờ sông, rải đều các tia nắng nhảy chấp chới trên mặt nước.

“Người ta nghe thấy bản nhạc này diễn tả điều gì,” Phụng nói tiếp, “cũng như người ta xem thấy bức tranh này vẽ cái gì, hay đọc thấy bài thơ này nói lên điều gì. Có thấy là có ngộ, phải không thầy?” nàng bật cười, khẽ đập bàn tay nhỏ nhắn, thanh tao vào bờ vai vuông vức của ông thầy chùa. “Cũng hay, tiếng Anh nói tôi hiểu là I see, mà see là thấy. I see…tôi hiểu. Vậy thì thấy là ngộ phải không thầy?”

”Có thấy có ngộ,” ông thầy chùa lẩm bẩm, mỉm cười.

Sơn bỗng nói, “Ngày mai ba người chúng ta sẽ chia tay nhau, chẳng biết lúc nào còn hội ngộ vui vẻ như vầy. Phụng ra nước  ngoài, tôi xuôi xuống miền nam, mỗi người đều có công việc riêng để làm, không biết trong bao lâu, nhưng có lẽ là lâu…lâu lắm đấy…Thầy thì vẫn trụ lại với ngôi chùa và dòng sông yên bình này. Mong rằng thầy vẫn an trụ…”

“An trụ như nhiên,” ông thầy chùa cười nói, “Tôi sẽ còn gặp lại ông Sơn và cô Phụng mà. Đường đời dày đặc đầy bất trắc, ai biết được sẽ như thế nào mà chúng ta phải luận bàn lôi thôi nhỉ? Nhưng tôi hy vọng ba người chúng ta sẽ luôn gặp lại nhau dù ở trong một tâm thức nào đi nữa.”

“Ừ phải, tâm thức đôi khi nhảy múa loạn xạ không cùng,” Sơn nói với giọng trầm hẳn xuống, “Đôi khi nó nằm yên như dòng sông hiền hòa kia, đôi khi nó nhảy lồng lên như trận gió ban nảy vừa tấp vào chúng ta…”

“Ừm, đó là do tâm cảnh,” ông thầy chùa chậm rãi nói, “Cảnh nảy sinh thức. Thức sẽ tùy duyên biến hóa. Bức tranh vân cẩu của đời người mà chúng ta nên sống tương thuận theo nó chứ không phải tương sinh tương diệt để mà…”

“Mà chết tức thì ngay bây giờ hả thầy?” Phụng bật cười.

“Chết ngay đứ đừ,” ông thầy cười ha hả.

Nắng hoàng hôn đã được gom về ở tận chân trời. Không gian mờ tối và lắng đọng quanh bờ sông đang êm đềm trôi vào giấc ngủ.

Ba người lục tục đứng dậy, đi ngược lên dốc, về phía ngôi chùa còn thấy được những cái mái cong vút chọc lên trời giữa những tàng cây bồ đề sum suê. Bản trường ca của dế đang bắt đầu hòa vang và lẩn khuất đâu đó bên dưới chân họ.

Phụng níu tay ông thầy nói, “Kìa, thầy bị rụng mất mấy cái răng cửa vậy?”

Ông thầy cười, đưa tay lên miệng rờ rẩm rồi nói khẽ, “Ừ, mấy cái răng cửa bị luật vô thường chi phối đó mà!”


    Vĩnh Hiền 69 Nguyễn Thái Học, Nha Trang. ĐT: (058) 3874153

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
12/10/2011(Xem: 25165)
Truyện thơ Tôn giả La Hầu La - Tác giả: Tâm Minh Ngô Tằng Giao
01/10/2011(Xem: 9728)
Hàng ngũ phật tử thường được chia là phật tử tại gia và phật tử xuất gia. Các phật tử tại gia thường được gọi là cư sĩ. Trong lịch sử đạo Phật có ghi lại chuyện một số các vị cư sĩ nổi tiếng, tuy các vị ấy không xuất gia nhưng về phương diện tu hành, thấu hiểu đạo lý thì không thua kém gì các vị đã xuất gia. Có nhiều vị cư sĩ nổi tiếng nhưng bài này chỉ xin nhắc đến ông Duy Ma Cật, bà hoàng hậu Thắng Man, cư sĩ Huệ Năng lúc chưa xuất gia và sau đó đến gia đình ông Bàng Uẩn.
25/09/2011(Xem: 5833)
Lời hát ru nhẹ nhàng mà trầm buồn da diết ấy đi vào trong cả giấc mơ của Hiền. Bao lần chị giựt mình thảng thốt ngồi bật dậy… ngơ ngác nhìn quanh. Chẳng có gì khác ngoài bóng đêm lạnh giá bao trùm hai dãy xà lim hun hút. Chốc chốc vẳng lại tiếng thạch sùng chặc lưỡi, tiếng chí chóe của mấy chú tí ưa khuấy rối trong xó tối. Và cả tiếng thở dài của ai đó dội qua mấy bức tường xanh rêu im ỉm…
24/09/2011(Xem: 4007)
Ngày xưa có một chàng trai tên là Na Á. Anh mồ côi cha từ sớm, ở với mẹ già. Nhà Na Á nghèo, anh phải làm nghề đánh cá để nuôi thân, nuôi mẹ.
24/09/2011(Xem: 4756)
Một hôm em bé ngồi trong bóng cây trú nắng, gió cũng thổi mát quá, em ngủ quên, đến lúc thức dậy, thì đàn trâu đã đi mất. Em tìm khắp cánh đồng mà chẳng thấy.
21/09/2011(Xem: 4242)
Tờ Chú (có nghĩa là anh đen) nghèo nhất làng. Họ nghèo lắm, nghèo đến nỗi không có một con dao mẻ để phát nương, một cái thuổng để đào củ mài.
21/09/2011(Xem: 3951)
Ngày xưa, ở xã Đại An gần cù lao Huân tỉnh Khánh Hòa có một đôi vợ chồng già không có con cái. Ông bà ở trong một căn nhà lá dựng bên vách núi, làm nghề trồng dưa.
16/09/2011(Xem: 15014)
Tôi cảm động, vì sống trong đạo giải thoát tôi đã tiếp nhận được một thứ tình thiêng liêng, trong sáng; một thứ tình êm nhẹ thanh thoát đượm ngát hương vị lý tưởng...
12/09/2011(Xem: 5325)
Hồ Biểu Chánh (1884–1958), tên thật là Hồ Văn Trung, tự Biểu Chánh, hiệu Thứ Tiên; là một nhà văn tiên phong của miền Nam Việt Nam ở đầu thế kỷ 20. Ông sinh năm 1885 (trong giấy khai sinh ghi ngày 1 tháng 10 năm 1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Ông vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ.
11/09/2011(Xem: 15485)
Tôi thức dậy trong một sự yên tĩnh như thế ấy ở Pomona. Tiếng chim hót vang rừng những không thể nói là tiếng ồn. Nó lại càng làm cho sự yên lặng thêm sâu hơn về bề sâu là khác.