Hai Ngài, Hàn-Sơn và Thập-Đắc, Hỏi Đáp với nhau.

04/03/201101:20(Xem: 10128)
Hai Ngài, Hàn-Sơn và Thập-Đắc, Hỏi Đáp với nhau.


Han Son Thap Dac

Câu chuyện thuở xưa của
Hai Ngài, Hàn-Sơn và Thập-Đắc, Hỏi Đáp với nhau.


HT. Thích Huyền Tôn dịch

Ngài Hàn-Sơn : Trong thế gian mà bị người phỉ báng, khi dễ , nhục mạ, cười chê, khinh khi , chà đạp,  ghen ghét , đè bẹp, đố kị ta. Như thế, ta phải xử trị cách nào ?

Ngài Thập-Đắc trả lời : Thản nhiên vì họ mà nhẫn, mà nhường,  mà cung kính, là trọng tự do của họ,  mà tránh đi, cuối cùng đừng để ý tới họ nữa. Chờ vài năm sau sẽ gặp họ.

Hàn-Sơn lại hỏi : Họ vẫn giữ quyết liệt như vậy ! Có thể trốn núp được chăng ?

Ngài Thập-Đắc nói : " Tôi đã từng thuộc Bài Kệ của Bồ-Tát Di-Lặc. Bạn lắng nghe ! Tôi vì Bạn mà niệm bài kệ :


  Hán ngữ    

Việt ngữ

Lão chuyết xuyên nạp áo

Lão mặc chiếc áo nạp.

Đạm phạn phúc trung bảo

 Cơm lạt một bụng no,

Bổ phá hảo giá hàn

 Áo rách che giá lạnh,

Vạn sự tùy duyên liễu

 Muôn việc tự theo duyên.

Hữu nhơn mạ lão chuyết

Có người mắng đuổi lão,

Lão chuyết chỉ thuyết "Hảo"

 Chạy ù lão nói "Tốt",

Hữu nhơn đả lão chuyết

 Có người ví đánh lão,

Lão chuyết tự thùy đảo

Lão té, ngủ giấc dài.

Thế thóa tại diện thượng

 Chê bai khạt trước mặt,

Tùy tha tự càn liễu

Cứ để tự nó khô,

Ngã dã tỉnh lực khí

 Ta đầy đủ năng lực,

Tha nhơn vô não phiền

 Người khác không não phiền,

Giá dạng Ba-La-Mật

 Đó là đến-Bờ-Giác,

Tiện thị diệu trung bảo

 Của báu trong nhiệm mầu,

Nhược tri giá tiêu tức

Nếu biết tiêu tức nầy,

Hà sầu đạo bất liễu

 Buồn chi đạo lâu mau.

Nhơn nhược tâm bất nhược

 Người yếu, tâm không yếu,

Nhơn bần đạo bất bần

 Người nghèo, đạo chẳng nghèo,

Nhất tâm yếu tu hành

 Một lòng gắng tu hành,

Thường tại đạo trung biện

 Thường xử theo trung đạo,

Thế nhơn ái vinh hoa

 Người đời chuộng vinh hoa,

Ngã khước bất đãi kiến

 Ta bỏ, không chờ nó,

Danh lợi, tổng thị không

 Lợi danh đều là không.

Ngã tâm vô yểm túc

 Tâm ta không chán, thích

Đôi kim tích như sơn

 Vàng khối chất như núi,

Nan mãi vô thường hận

Chẳng đổi được vô-thường.

Tử-Cống, tha năng ngôn

 Tử-cống ông ấy nói,

Châu-Công hữu thần toán

 Châu-Công giỏi thần toán,

Khổng-Minh đại-trí mưu

 Khổng-Minh trí mưu lớn,

Phàn Khoái cứu chủ nan

Phàn-Khoái cứu chủ khó,

Hàn-Tín công lao đại

 Hàn-Tín công lao to,

Lâm tử chỉ nhút kiếm

 Chỉ một kiếm là chết,

Cổ kim đa thiểu nhơn

 Xưa nay bao nhiêu người,

Na cá hoạt kỷ thiên

 Mấy ai sống ngàn tuổi,

Giá cá trình anh hùng

 Ai đã làm anh hùng,

Giá cá tố hảo hớn

Ai đã làm hảo hớn,

Khán khán lưỡng tẫn bạch

Cứ xem tóc râu trắng,

Niên niên dung nhan biến

 Hằng năm dung mạo đổi,

Nhựt nguyệt xuyên thoan chức

 Ngày tháng đi như thoi,

Quan âm như tạ tiễn

Sáng tối dường tên bắn,

Bất cửu bịnh lai xăm

 Chốc chốc bịnh lại đến,

Đê đầu ám ta thán

Cúi đầu thầm than thở,

Tự tưởng niên thiếu thời

 Những tưởng trẻ trung hoài,

Bất bả tu hành biện

 Khi khỏe chẳng chịu tu,

Đắt bịnh tưởng hồi đầu

 Bịnh rồi quay lai tiếc,

Diêm vương vô chuyển hạn

 Diêm vương không đợi chờ,

Tam thốn khí đoạn liễu

 Thở ra, không trở lại, !

Nã chỉ na cá biện

 Đã cùng đường giải quyết.

Dã bất luận thị phi

Phải quấy cũng hết rồi,

Giả bất bả gia biện

Việc nhà đành buông trôi,

Giả bất tranh nhơn ngã

 Chẳng còn đua nhân ngã,

Giả bất tố hảo hớn

Chẳng thèm làm hảo hớn,

Mạ trước giả bất ngôn

 Bị mắng vẫn nín thinh,

Vấn trước như á hớn

 Ai hỏi, như câm điếc,

Đã trước giả bất lý

 Ai đánh cũng mặc kệ,

Suy trước hổn thân chuyển

 Thân về chốn minh mông,

Giả bất phạ nhơn tiếu

 Sợ chi ai đàm tiếu,

Giả bất tố kiểm diện

 Đâu còn cơn mặt đỏ,

Nhi nữ khốc đề đề

 Con cái khóc hu hu,

Tái giả bất đắt kiến

 Mắt đó, đâu nhìn thấy,

Hiếu cá tranh lợi danh

 Những lợi danh giành được,

Tu bả hoang dã bạn

 Là bạn với đồng hoang,

Ngã khán thế thượng nhơn

 Ta xem người nhân thế,

Đô thị tinh chỉ đạm

 Đều như giọt sương rơi,

Khuyến quân tức hồi đầu

Mong ai bừng tỉnh lại,

Đơn bả tu hành cáng

 Giử lấy đạo tu hành,

Tố cá đại trượng phu

 Xứng đáng bậc trượng phu,

Nhứt đao triệt lưỡng đoạn

 Đao tuệ chém lợi danh,

Khiêu xuất hồng hỏa khanh

 Vượt khỏi hầm lửa đỏ,

Tố cá thanh lương hớn

 Làm con người trong sạch,

Ngộ đắt trường sanh lý

Ngộ lý lẽ chơn thường,

Nhật nguyệt vi lân lữ

 Nhật nguyệt là bạn hữu.

 


Mùa Vu-Lan 2.544. Việt-Lịch 4.879 Canh-Thìn.

                                          

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/04/2013(Xem: 6229)
Làng Mã Châu của tôi là một ngôi làng nổi tiếng về nghề nuôi tằm, ươm tơ và dệt lụa. Những ngày còn nhỏ, tôi thích đứng xem người lớn nuôi tằm. Nhìn những con tằm nhỏ li ti, bám vào những chiếc lá dâu xanh, nhả những sợi tơ trắng mong manh, cho đến khi trở thành những con nhộng cuộn tròn trong cái kén. Qua đó, tôi cảm nhận sự kỳ diệu của một quá trình sinh diệt không cùng của vạn vật.
10/04/2013(Xem: 23255)
Quý vị đang cầm trên tay quyển "Đại Đường Tây Vức Ký" được chuyển dịch từ chữ Hán sang tiếng Việt là do kết quả của sự miệt mài dịch thuật của chúng tôi từ ngày 24 tháng 10 năm 2003 đến ngày 10 tháng 12 năm 2003 tại Tu Viện Đa Bảo, Úc Đại Lợi nhân mùa nhập thất lần đầu tại đây.
10/04/2013(Xem: 4719)
Đúng vào hôm tôi vừa ở Phật Học Đường Báo Quốc về thì Vĩnh đến thăm. Anh đến mang cho tôi một chồng sách Phật viết bằng tiếng Pháp mà anh mới gởi mua ở tận xứ xa. Anh cũng không quên mang tặng chú Tâm Mãn một cuốn tự điển Pháp Việt mới xuất bản, bởi vì anh biết chú Mãn đang cần cuốn này để học thêm Pháp văn.
10/04/2013(Xem: 18411)
Tập truyện Phật giáo này, gồm trên 70 câu truyện, rút từ các kinh, luật và luận, hoặc những chuyện mắt thấy tai nghe, có liên quan đến Phật giáo, cũng đem vào. Tập truyện này viết theo ký ức, nên không nhớ nhân danh, địa danh và thời gian. Mong chự vị độc giả thông cảm cho.
10/04/2013(Xem: 21729)
Tác phẩm “ Life and Teaching of the Masters of the Far East » (1935) ”, hồi ký của Dr. Blair T. Spalding (1857 – 1953) Một phần của hồi ký đã được Nguyên Phong chuyển ngữ với tựa đề “Hành Trình Về Phương Đông”
10/04/2013(Xem: 17120)
Ngôi chùa Sắc Tứ Hưng Phước Tự nằm trên một triền đồi thoai thoải, mặt chùa quay ra hướng đông nam hướng về phía biển đông. Lưng chùa tựa sát vào vách núi. Chung quanh là những điện đường ngang dọc, xây theo lối cổ tự ngày xưa. Đây là một chùa bề thế được bao đời chúa Nguyễn sắc phong cho các vị trụ trì tiền nhiệm tại đó. Nên trong lòng ai cũng cung kính nể vì. Lý do là chùa xây dựng rất đúng với thuật phong thuỷ.
10/04/2013(Xem: 5765)
Trong mùa xuân của thời thơ dại Anselm thường thơ thẩn chạy khắp khu vườn xanh lá cây. Cậu bé yêu đặc biệt một loài hoa trong các hoa của mẹ : Hoa Huệ Kiếm
10/04/2013(Xem: 15412)
Ngay từ khi tôi còn thơ ấu, Ba vẫn thường kể câu chuyện về Kim Các Tự cho tôi nghe. Tôi ra đời trên một mũi biển hiu quạnh nhô ra ra biển Nhật Bản ở phía đông bắc Maizuru. Tuy nhiên, nguyên quán của Ba không ở đây mà ở Shiraku, miền ngoại ô phía đông thành phố Maizuru. Ba được thúc đẩy gia nhập giáo hội và trở nên tu sĩ trụ trì một ngôi chùa tên một mỏm đất xa xôi. Ba lập gia đình ở nơi này và sinh ra một đứa con trai, ấy chính là tôi vậy.
10/04/2013(Xem: 21219)
Ðạo vốn vô ngôn; do ngôn mà hiển đạo, thế nên có mạn lục, có bảo huấn, có bút ngữ, có võ khố. Nay đây, có Hòa thượng Văn Thủ, tự Nhất Ty (1607 – 1648) người nước Nhật Bản, lúc đầu ở ẩn nơi Tây Cương thuộc đất Lạc Tây, về sau Ngài về núi Ðan mai danh ẩn tích. Nhưng các hàng xuất gia khắp chốn hải hồ tìm đến bên Ngài kết am tranh tu học số đông không kể xiết.
10/04/2013(Xem: 8260)
Trước vòm cung hình bán nguyệt có những cột trụ đôi chống đỡ, lối vào tu viện Thánh Ân, một cây giẻ - đứa con độc nhất của miền Nam mà ngày xưa một thầy dòng từ La-Mã mang đến - vươn lên ngay bên vệ đường, thân mình cường tráng. Tàng cây tròn trải ra trùm trên mặt đường trong một dáng điệu trìu mến và thở nhẹ trong gió như một lồng ngực đang phập phồng. Về mùa Xuân, trong khi vạn vật quanh nó đã xanh rờn và những cây phỉ của tu viện cũng đã khoác lại bộ lá non màu hung, mùa trổ lá cây giẻ này vẫn còn phải đợi rất lâu.