Nhớ về Kim Chi

04/01/201105:49(Xem: 5228)
Nhớ về Kim Chi

lotus_3

 

Kim Chi thương mến,

       

        Mình biết rằng lối xưng hô này chưa được đúng lắm vì Kim Chi là bà Hiệu trưởng của mình nhưng Kim Chi vẫn thường nói hai đứa mình cùng ngang tuổi nhau nên muốn tụi mình xưng hô với nhau như vậy cho thân mật và mình đang làm theo lời yêu cầu của Kim Chi đây.

        Mình có nói với chị Phương Lan là sẽ đi thăm Kim Chi một lần cuối cùng vào tháng 3 này, nhưng tháng 3 chưa tới thì Kim Chi đã ra đi ngày 9-2-2010.

        Sở dĩ mình dùng hai chữ cuối cùng vì Kim Chi đã bịnh nằm triền miên ở Viện Dưỡng lão mấy năm nay rồi, bịnh tình càng ngày càng xấu hơn, ít có hy vọng gặp lại Kim Chi lắm nên mình muốn nhìn Kim Chi một lần cuối !

        Mình biết sự ra đi của Kim Chi là con đường giải thoát tốt nhất nhưng mình cũng như đại gia đình Sương Nguyệt Anh vẫn bàng hoàng xúc động khi hay tin vì sự ra đi nào cũng là một mất mát lớn lao của một đời người.

 

        Nhớ ngày nào mình mới đổi về dạy trường Sương Nguyệt Anh cho gần nhà, khi đến trình diện, hình ảnh một bà Hiệu trưởng quá ư năng động, đã từng tu nghiệp ở Pháp về, đẹp rực rỡ trong bộ áo dài hợp thời trang đã đập vào mắt mình. Kim Chi đã ân cần tiếp đón làm cho mình quên hết những bỡ ngỡ của buổi ban đầu.

        Kim Chi là bà Hiệu trưởng đầu tiên của một trường Nữ Tổng hợp, một trường đã đi tiên phong trên đường lối cải cách của nền giáo dục và từ đó trường chúng ta đã thổi một làn gió mới trong không khí học đường. Kim Chi là bà Hiệu trưởng đã một thời làm bừng sáng cả một ngôi trường trên mọi lãnh vực, trong môi trường sinh hoạt học tập của trường Sương Nguyệt Anh chúng ta trước năm 75 tại Sài gòn. Hình ảnh một bộ áo dài màu hồng, tóc bới cao, mắt sáng tinh anh, tiếng cười sảng khoái, dáng đi mạnh mẽ tự tin đã như một tấm gương đẹp rạng ngời.

 

        Rồi sau biến cố 75, mỗi người trôi dạt mỗi phương trời. Kim Chi đã định cư tại Paris và có điều may mắn là gia đình Sương Nguyệt Anh đều đa số ở đó cả. thời gian vẫn không làm phai lạt được lòng thương nhớ trường cũ thân yêu trong tâm tư của Kim Chi.

 

        Kim Chi đã cùng chị Phương Lan gom góp liên lạc với những cánh chim muôn phương trở lại.

        Từ một bữa ăn thân mật tại nhà Kim Chi và thầy Châm - chồng của Kim Chi - lúc nào cũng quan tâm đến sinh hoạt của gia đình Sương Nguyệt Anh nên đã đề nghị tại sao chúng ta không ra một tờ báo hay một bản tin. Không nhất thiết là một tờ báo văn chương bóng bẩy mà chỉ cần kể lại những vui buồn của từng cá nhân với những kỷ niệm đã qua, những sinh hoạt hội họp sắp tới, ghi lại tin tức của những người bên nhà, của kẻ bên này, những tình cảm về trường xưa bạn cũ.

 

        Thế rồi năm 1988, bản tin Sương Nguyệt Anh đầu tiên có mặt như một sợi dây liên lạc để ràng buộc những mảnh tình tứ xứ. Mối thông tin từ đó bắt được những nhịp cầu để gom tụ các tiểu gia đình ở mọi nơi, chân tình đơm bông lan rộng.

        Và ngày họp mặt đầu tiên của gia đình Sương Nguyệt Anh Âu Châu (8-4-90) đã diễn ra trong một bầu không khí thân mật đầy xúc động vì niềm vui hội ngộ sau một thời gian dài tưởng chừng như  không bao giờ được nhìn lại thấy nhau và lần họp mặt này như ngày đặt viên đá đầu tiên để xây dựng lại một mái ấm gia đình. Mỗi kỳ đại hội là để thắt chặt vòng dây thân ái cho chúng ta muốn giữ gìn kỷ niệm như những báu vật. Tìm về với nhau để trao cho nhau những nỗi niềm lắng đọng, để cùng nhau an ủi, khuyến khích và chia sẻ nỗi niềm hạnh phúc, những thành đạt tốt đẹp trên bước đường xây dựng sự nghiệp ở đất nước người.

 

        Qua lần họp mặt thứ hai, mình mới có hân hạnh được tham dự. Ngày ấy vì chưa có quốc tịch Đức, nên việc đi Pháp cũng gay go vì giấy nhập cảnh, thành ra mình đã đến Paris với một tâm trạng bàng hoàng như người mộng du. Ngày nhỏ, khi nhìn tấm hình của Tour Eiffel, mình thường tự nhủ “ biết đến bao giờ mới được đặt chân đến đây ”, vậy mà không ngờ có một ngày giấc mơ của mình đã thành sự thật. Một niềm xúc động lạ kỳ dâng ngập hồn khi nhìn thấy ngọn tháp và dòng sông Seine hữu tình.

 

        Nói làm sao cho hết nỗi mừng vui gặp gỡ này sau 15 năm trời xa cách ; chao ơi là vui, gặp nhau tay bắt mặt mừng, ôm nhau không rời, nước mắt rưng rưng. Những cái xiết tay nồng ấm, những nụ cười rạng rỡ, niềm vui vỡ òa tràn ngập cả sân nhà của em Mỹ Vân hôm đó.

        Chính trong buổi họp này, chúng ta đã đề nghị và sẽ thực hiện những việc như sau :

-        đóng niên liễm.

-        cấp học bổng cho con em giáo chức, hoặc học trò giỏi nhà nghèo.

-        trợ giúp các Thầy Cô còn khó khăn.

-        học bổng sẽ cấp từng khóa một và sẽ được tái xét vào kỳ họp mặt năm sau.

 

Từ tình trạng mỗi năm gia đình Sương Nguyệt Anh Âu Châu gặp nhau mỗi năm một lần, chúng ta đã muốn mở rộng vòng tay của gia đình Sương Nguyệt Anh thế giới và chuyển sang cứ 2 năm họp một lần.

 

        Kỳ họp mặt thế giới đầu tiên đã diễn ra ở Canada như một ngọn đuốc Thế vận hội để trao lại cho đại hội Sương Nguyệt Anh kỳ 2 tại Nam Cali và chuyển sang kỳ 3 ở phương trời Âu (Paris). Sau mỗi kỳ đại hội tình thương của gia đình Sương Nguyệt Anh như cứ thắt chặt gần lại với nhau. Trong sợi dây thương yêu vô hình đó, Sương Nguyệt Anh Úc châu đã cùng nhau góp sức để hình thành Đại hội thế giới lần thứ 4 tại Sydney.

Lần này Kim Chi không tham dự được vì lý do sức khỏe nên ai cũng buồn vì thiếu vắng con chim đầu đàn ! Tuy nhiên Kim Chi vẫn mong ước những người còn lại phải tiếp nối con đường còn lại chúng ta đã vạch ra, đừng bỏ dở và cứ thế Đại hội Sương Nguyệt Anh thế giới vẫn cứ tiếp tục, khi thì ở Virginia và năm 2010 này ở San José.

 

Điều đáng buồn là càng ngày sức khỏe của Kim Chi càng yếu, năm 2000 đã bắt đầu có triệu chứng của bịnh Parkinson và năm 2003 Kim Chi phải vào viện “Dưỡng Lão của người lớn tuổi” vì ở nhà không có ai săn sóc, một mình thầy Châm không lo nổi.

 

Mình đã qua thăm Kim Chi năm sau đó, khi đến phòng của Kim Chi mà xúc động đến ứa nước mắt ! Vì không thể ngồi dậy được một mình nên Kim Chi chỉ nằm giương đôi mắt ngóng trông đợi chờ ra phía cửa; Kim Chi biết mình từ Đức sẽ qua thăm do các em học sinh đã báo trước. Không ai bảo ai, tất cả đều chạy ào tới bên giường nắm chặt tay Kim Chi mà nước mắt lưng tròng.

 

Người phụ nữ nằm đó trong tư thế bất động, ánh mắt di chuyển chậm chạp trên từng khuôn mặt với vẻ dò hỏi và suy tư. Chắc hẳn người ấy đang tự vấn tâm tư mình nhiều lắm : “Ai đó vậy ? Trông quen quá mà sao mình không nhớ hết”. Và tất cả Thầy Cô cùng học sinh đến thăm chiều hôm ấy, nét lạc lõng vô hồn trong đôi mắt Kim Chi đã làm cho lòng mọi người đau quặn thắt, nước mắt không mời mà tự dưng trào ra đôi mi !

 

Đâu rồi hình ảnh một người bạn đồng nghiệp, một bà Hiệu trưởng như là hiện thân của một nhân vật Hồng Y Nữ Hiệp trong truyện Kim Dung, đẹp đẽ, đài các nhưng bất thần vung chiêu thì các đấng nam tử cũng phải hạ kiếm. Ở Kim Chi có cái ma lực của bậc tài danh, thu hút lôi kéo, cổ động mọi người xung quanh mình làm những chuyện mà người bình thường ít ai nghĩ tới.

 Mình bàng hoàng ngỡ ngàng trước hình ảnh của người nữ hiệp ngày xưa nay còn đâu ? Còn gì đau xót cho bằng khi trí óc cũng chưa đến nỗi u mê nhưng tay chân không thể cử động được, cả ngày cứ nằm dài nhìn bốn bức tường vôi trắng xóa bao quanh để cho thời gian buồn phiền gậm nhấm mỏi mòn thân xác mình cho đến lúc tàn hơi.

 

Sau khi một em học sinh làm vệ sinh sạch sẽ chiếc xe lăn, mình đã bồng Kim Chi dậy đặt vào xe, đẩy qua chiếc bàn, mình ngồi bên cạnh mà Kim Chi cứ nắm chặt tay mình không muốn rời xa. Các em đã soạn xong thức ăn, mình đút cho Kim Chi, trông Kim Chi ngoan ngoãn như đứa trẻ thơ ngồi chờ mẹ chăm bón từng miếng cơm mà mắt mình hai giọt lệ ứa tràn !

 

Mình và các bạn đã hỏi Kim Chi cần gì vì các em Sương Nguyệt Anh khắp nơi trên thế giới đã đóng góp một số tiền biếu Kim Chi, nhưng Kim Chi đã lắc đầu, không cần gì hết mà chỉ cần sự tới lui thăm viếng mà thôi. Mình nghe mà xót xa quá vì thấu hiểu nỗi cô đơn của người bịnh.

Nhất là khi từ ngày này qua tháng nọ cứ phải nằm một chỗ; nhưng mình ở xa quá, làm sao thăm viếng thường xuyên cho được, dù rằng mình có cả một tấm lòng dành cho Kim Chi.

 

Cuộc hội ngộ nào rồi cũng đến lúc phải tàn, Kim Chi ngồi đó tưởng chừng như đang hồn nhiên thanh thản sống lại với kỷ niệm đẹp, với đồng nghiệp, với học trò làm cho tất cả mọi người hiện diện hôm đó không nỡ nói lời từ biệt. Phải khó khăn lắm mới chia tay được với Kim Chi, nghẹn ngào bịn rịn không rời. Khi thấy Kim Chi ngồi đó mà hai tay cứ vờn về phía trước như níu kéo, như người gìn giữ chút yêu thương sắp sửa vụt xa. Trên đường về cả thầy trò đều im lặng, không ai nhích mép nổi. Lòng mình chùng xuống, nét u hoài và nước mắt còn đọng trên mi.

 

Hôm sau mình trở lại thăm Kim Chi một lần nữa trước khi quay về Đức. Lần này một mình lang thang, trên đường vào khu dưỡng bịnh phải qua một công viên vắng lặng. Nắng đã lên và gió nhẹ, tiếng chim hót líu lo mùa xuân hình như đang chuyển mình đâu đấy với những nụ non trên những cành cây khẳng khiu. Một vài chiếc lá vàng cũng chưa được lìa cành, thoi thóp dập dìu theo từng cơn gió như luyến tiếc những giờ phút cuối cùng của cuộc đời. Một cơn gió thoảng qua, vài ba chiếc lá uể oải vật vờ theo chiều gió, lòng mình ngậm ngùi se thắt nghĩ đến Kim Chi đang cô đơn vò võ một mình trong phòng bịnh.

 

Mình nghĩ đến số kiếp của con người, lúc trẻ là cả một trường tranh đấu năng động từ thể xác cho tới tinh thần để đến khi về già, sau khi đã trải qua những thăng trầm vinh nhục, buồn vui của cuộc sống cũng sẽ giống như thân phận những chiếc lá vàng này mà thôi.

 

Rồi mình cũng đành phải chia tay với Kim Chi một lần nữa trong bóng xế hoàng hôn của khu dưỡng bịnh không ngoài lời cầu chúc cho Kim Chi được lần hồi bình phục. Và mình đã từ giã Paris, lòng buồn nhiều hơn vui, mang theo nỗi bâng khuâng ngậm ngùi của một lần gặp gỡ.

Những tấm lòng Sương Nguyệt Anh khắp thế giới lúc nào cũng hướng về bà Hiệu trưởng của mình, cùng nhau đóng góp tiền liên tục để mướn người đồng hương hằng tuần đến chăm sóc và trò chuyện cho Kim Chi đỡ buồn.

 

Bây giờ thì Kim Chi đã viên mãn trong cõi tạm phù du này, chỉ đau lòng cho người ở lại, nước mắt nào đong đủ cho nỗi đau của Thầy Cô và học trò.

Khắp nơi tới tấp gởi tiền về phúng điếu, biểu lộ rõ tinh thần đoàn kết thương yêu rất tình nghĩa của đại gia đình Sương Nguyệt Anh qua email, qua phôn, hổ trợ cho Sương Nguyệt Anh Paris làm trọn vẹn vai trò đại diện cho cả Sương Nguyệt Anh thế giới vinh danh cô Hiệu trưởng Đặng Kim Chi.

 

Tuy gặp ngày trong tuần nhưng đã có cả 100 người tham dự, tiễn đưa với những vòng hoa của hội Gia Long, Gia Long Âu Châu, Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng Hòa, gia đình Sương Nguyệt Anh Âu Châu và thân hữu.

 

Nơi hỏa thiêu rất cảm động với những bài điếu văn của 2 trường Gia Long và Sương Nguyệt Anh; cuối cùng tất cả đều hát bài Tâm Ca Sương Nguyệt Anh với hai hàng nước mắt.

 

Qua email, một em học sinh ở xa đã gửi một câu chia buồn thấm thía :

Tết này là một cái Tết đáng nhớ. Thiên hạ ăn Tết còn gia đình Sương Nguyệt Anh “để tang” cho cô Kim Chi.

       

Vậy Kim Chi hãy mỉm cười nơi chín suối nghe, biết bao tình thương yêu đã dành cho Kim Chi trọn vẹn.

 

        Thôi thế cũng xong một đời phiền muộn; tiễn đưa nào mà không buồn huống chi đây là một cuộc chia xa vĩnh viễn thì còn đau lòng biết mấy !

 

        Chết là bắt đầu cho một cuộc du lịch dài ở thế giới khác, thôi thì cứ tin như vậy đi và cầu mong trên đường Kim Chi đi sẽ có nhiều hoa thơm cỏ lạ !

 

         Em Ngọc Chiêu đã làm tặng cô Hiệu trưởng mấy câu thơ này đây :

 

        Cô - đóa hồng nhung gãy cánh rồi.

        Học trò “nữ hiệp” lệ dòng đôi,

        Tiếc thương với tấm lòng tôn kính.

        Tình này ngày tháng khó phai phôi.

 

Vĩnh biệt Kim Chi !

 

 

Nguyên Hạnh - HTD.

2010

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
24/01/2015(Xem: 6429)
Mỗi sáng sớm khi sương còn mù mịt trên sông, chiếc thuyền con của lão già đã là đà rẽ nước, hướng về bờ – lúc thì bờ đông, lúc thì bờ tây, nơi những ngôi nhà tranh và những chiếc ghe nhỏ tụ tập. Mái chèo khua nhè nhẹ như thể sợ động giấc ngủ của thế nhân. Chẳng ai biết chắc lão có gia đình, nhà cửa ở đâu hay không. Nhưng người ta có thể đoán chiếc thuyền con ấy chính là nhà của lão, vì lão phơi thuốc, xắc thuốc, nấu thuốc ngay trên đó. Trên thuyền không còn ai khác. Ban đêm, thuyền của lão neo ở đâu không ai biết, nhưng sáng sớm thì thấy lù lù xuất hiện trên sông hoặc nơi bờ cát. Lão già đến và đi, một mình. Mỗi ngày xách cái túi nhỏ rời thuyền, thường là đi hái thuốc trên núi, ven rừng, bờ suối, có khi vào làng chữa bệnh cho bá tánh rồi ghé chợ mua vài thứ lĩnh kĩnh.
21/01/2015(Xem: 13403)
1. Chân như đạo Phật rất mầu Tâm trung chữ Hiếu niệm đầu chữ Nhân, Hiếu là độ được song thân Nhân là cứu độ trầm luân muôn loài. 5. Thần thông nghìn mắt nghìn tay Cũng trong một điểm linh đài hóa ra,
16/01/2015(Xem: 5058)
Sau 30-4-75, tất cả giáo chức chúng tôi đều phải đi học tập chính trị trong suốt 3 tháng hè mà họ gọi nôm na là "bồi dưỡng nghiệp vụ". Một buổi chiều sau mấy ngày "bồi dưỡng", tôi đạp xe lang thang qua vùng Trương minh Giảng, tình cờ gặp Báu - một người học trò năm xưa, rất xưa, đang ngơ ngẩn đứng trước cửa nhà. Dừng xe đạp, tôi chào: - Báu hả? Phải em là Trương thị Báu không? Có nhớ ra cô không? Báu giương mắt nhìn tôi, nhìn đi nhìn lại rồi nghiêng đầu lại nhìn...Em không nhớ nổi... Tôi đã thoáng thấy được một tâm thần bất thường qua thần sắc cũng như qua đôi mắt trống rỗng vô hồn!
16/01/2015(Xem: 6276)
Năm 1954 ông Thiện khăn gói đùm đề đưa mẹ, vợ và hai đứa con gái xuống con tàu há mồm vào Nam.Trên bờ, Thụ, người em trai của ông còn đưa tay vẫy vẫy. Đêm hôm qua, ông và người em trai bàn rất nhiều về chuyến ra đi này.Người em nói: - Đất nước đã hòa bình, độc lập, anh nên ở lại, dù gì cũng là nơi chôn nhau cắt rốn.Vào Nam xứ lạ quê người, chân ướt chân ráo trăm bề khổ sở... Ông Thiện đã trả lời em:
15/01/2015(Xem: 6330)
Trong cả thành phố này, anh chị chỉ có tôi là chỗ thân nhất, vừa là thầy vừa là bạn. Buổi sáng anh gọi phone bảo trưa nay đến đón tôi về nhà dùng cơm cho vui. Hôm nay là sinh nhật của thằng Alexander con một của anh chị.
14/01/2015(Xem: 14211)
Tiếng Hồng chung Phật Học Viện Hải Đức Nha Trang nói riêng và các chùa trong thành phố Nha trang nói chung, sớm khuya ai cũng có thể nghe được, nhưng nghe để “Trí tuệ lớn” và “Bồ-đề sinh” thì tùy theo “phiền não” của đối tượng nghe có vơi nhẹ hay không? Riêng với nhà văn Võ Hồng, qua tác phẩm “Tiếng chuông triêu mộ” cho thấy Trí tuệ và Bồ đề của ông sanh trưởng tốt. Nhưng nhân duyên như thế cũng chưa đủ, ông là giáo sư của PHV, của trường Bồ Đề, là thiện tri thức của các bậc cao Tăng ở đồi Đông và đồi Tây non Trại Thủy. Có thế mới có truyện ngắn “Cây khế lưng đồi”, có tùy bút “Con đường thanh tịnh”. Thưa thầy Võ Hồng, chừng ấy đủ rồi, đủ cho PHV đi vào lịch sử văn học, đủ cho 100 năm sau, 1000 năm sau hay nhiều hơn thế nữa, nhìn thấy PHV uy nghi như một Linh Thứu thời Phật và cũng cho thấy các bậc cao Tăng Miền Trung nói riêng xứng đáng là những Sứ giả Như Lai đầy trách nhiệm đối với sự trường tồn của Phật giáo Việt Nam.
09/01/2015(Xem: 5909)
Tháng 10 năm 1962, TT Chủ Tịch Ủy Ban Liên Phái… nhờ Tôi đi công tác Vũng Tàu, Tôi đi chuyến xe đò lúc 8g30 sáng, xe chạy vừa khỏi hãng xi-man Hà Tiên, thì có 3 người đón xe. Anh tài xế nói với tôi : “Thầy vui lòng xuống hàng ghế phía dưới để cho “mấy cha”ngồi, vui nghen Thầy”! Tôi lách mình qua khoản trống thì có 2 vị đưa tay đón và đở nhường chỗ ngồi còn nói lớn: “Ngộ ha, cha quí hơn Thầy “! Tôi sợ gây chuyện không vui, nên đưa tay và lắc đầu xin yên lặng. Vì đương thời bấy giờ bóng dáng của các áo đen có nhiều sát khí thế lực! Nhưng, Mộc dục tịnh, nhi phong bất đình 木欲淨而風不亭.Xe chạy êm ả, gió lùa mát rượi.
26/12/2014(Xem: 19191)
Phât tử Chơn Huy ở Hoa Kỳ về có đem theo tập tự truyện dày của Tỳ Kheo Yogavacara Rahula. Cô nói truyện rất hay, khuyên tôi đọc và nhờ tôi dịch ra Việt ngữ để phổ biến trong giới Phật tử Việt Nam. Câu chuyện rất lý thú, nói về đời của một chàng trai Mỹ đi từ chỗ lang bạt giang hồ đến thiền môn. Truyện tựa đề "ONE NIGHT'S SHELTER (From Home to Homelessness)--The Autobiography of an American Buddhist Monk". Tôi đọc đi rồi muốn đọc lại để thấu đáo chi tiết trung thực của một đoạn đời, đời Thầy Yogavacara Rahula. Nhưng thay vì đọc lại, tôi quyết định dịch vì biết rằng dịch thuật là phương pháp hay nhứt để hiểu tác giả một cách trọn vẹn. Vả lại, nếu dịch được ra tiếng Việt, nhiều Phật tử Việt Nam sẽ có cơ duyên chia sẻ kinh nghiệm quý báu của Thầy Rahula hơn.
06/12/2014(Xem: 4810)
T huở nhỏ tôi mồ côi bố sớm, ở vào cái tuổi con nít vừa mới chập chững biết đi chưa nói được câu gọi bố lần đầu, bố tôi đã đi về miền cát bụi. Sự ra đi của ông đột ngột quá, còn trẻ quá mới 27 tuổi đầu làm sao không để lại bao luyến tiếc cho người ở lại. Dĩ nhiên mẹ tôi là người chịu nhiều đau đớn nhất, mới lấy chồng được hai năm cộng thêm đời chiến binh nên chỉ ở gần chồng vỏn vẹn có một tháng là nhiều. Con thơ còn bế ngửa trên tay, đầu quấn khăn tang người chồng yêu quí, đã phải xách tay nải leo lên chiếc thuyền viễn xứ nhổ neo lên đường như một bài hát nào đó.
01/12/2014(Xem: 17430)
Nguyên gốc tác phẩm này là của Genro, một Thiền sư thuộc tông Tào động Nhật Bản, viết và xuất bản năm 1783. Mỗi câu chuyện là một công án mà tác giả đã có lời bình và kệ đi kèm. Fugai, người thừa kế Genro, thêm nhận xét của sư, câu đối câu, vào sách của thầy. Tôi sẽ dịch các câu chyện hay tắc, gồm cả lời bình của Genro và nhận xét của Fugai trong hầu hết các câu chuyện để tham khảo. Có khi gặp bài kệ cũng dịch để khuyến khích học tập.