Miếng khoai khô

16/01/201513:45(Xem: 5173)
Miếng khoai khô

khoai lang

 

      Sau 30-4-75, tất cả giáo chức chúng tôi đều phải đi học tập chính trị trong suốt 3 tháng hè mà họ gọi nôm na là "bồi dưỡng nghiệp vụ".

      Một buổi chiều sau mấy ngày "bồi dưỡng", tôi đạp xe lang thang qua vùng Trương minh Giảng, tình cờ gặp Báu - một người học trò năm xưa, rất xưa, đang ngơ ngẩn đứng trước cửa nhà. Dừng xe đạp, tôi chào:

    - Báu hả? Phải em là Trương thị Báu không? Có nhớ ra cô không?

      Báu giương mắt nhìn tôi, nhìn đi nhìn lại rồi nghiêng đầu lại nhìn...Em không nhớ nổi... Tôi đã thoáng thấy được một tâm thần bất thường qua thần sắc cũng như qua đôi mắt trống rỗng vô hồn!

      Tôi nhắc lại:

    - Nhớ cô D. không? Cô D. dạy toán em hồi Đệ Tứ. Nhớ ra không? Em học cùng lớp với bọn con Hiếu, con Tịnh An ở Cầu Đất đó, nhớ ra chưa?

      Em thụt lùi vài bước, lại nhìn sâu vào mắt tôi, vẫn đôi mắt lạc thần, ngập ngừng lập lại từng hai tiếng một:

    - Cô D....Dạy Toán....Đệ Tứ... Vẫn chưa nhớ, tôi nối thêm:

    - Đồng Khánh! Nhớ chưa?

      Mắt em bỗng sáng hơn:

    - Đồng Khánh...Đồng Khánh...Trường Đồng Khánh Huế ! Phải không cô?

      Em bước mấy bước lại gần tôi hơn, nghiêng đầu xuống, nhìn vào bên trong chiếc nón lá tôi đang đội để nhìn gần sát mặt tôi. Mắt em bây giờ đã có thần hơn một chút, em lại lẩm bẩm:

     - Cô D. Dạy Toán. Trường Đồng Khánh. Thiệt mà! Trường Đồng Khánh của tôi mà! Phải rồi, tui có học trường Đồng Khánh mà!

      Bỗng em tiến sát tới tôi hơn, quều quào đưa hai tay ôm chầm lấy vai tôi; mắt long lanh mà khô sủng như đôi mắt của những kẻ vẫn hằng khóc không nước mắt, miệng cứ lặp lại mấy lần những tiếng không tròn ý:

    - Em có học Đồng Khánh. Phải không Cô? Em cũng là một nữ sinh Đồng Khánh. Phải không cô? Cô nói cô có dạy em đó! Phải không cô?

      Vừa hỏi em vừa day đôi vai tôi, giọng van lơn cầu khẩn, liên tiếp hỏi mà không cần câu trả lời. Báu vuốt dọc hai cánh tay tôi từ vai xuống, rồi nắm lấy hai bàn tay tôi đưa qua lắc lại như hai đứa bé đang chơi trò dung dăng dung dẻ, lại tiếp tục: "Phải không cô" mà không cần nhìn thấy cái đầu tôi liên tiếp gật và miệng thì "ừ phải, ừ phải" biểu đồng tình.

      Qua một lúc xúc động quá bất ngờ, em dần dần bình tĩnh đôi chút; cũng biết mời cô vào nhà, cũng biết mời ngồi, mời uống nước như những động tác căn bản của một người con gái Huế đàng hoàng không mất trí. Em cũng biết mời cô "thời" nước bằng một ly nước lạnh không có dĩa, vào nhà trong bưng ra bằng cả hai tay một cách lóng cóng. ( Ở Huế, đối với người lớn tuổi, không dùng chữ ăn và uống để mời).

       Ly nước được đặt lên một cái bàn gỗ cũ kỹ bên cạnh một dĩa khoai lang luộc gồm một củ đã cắt làm hai miếng.

    - Mời Cô "thời"!

      Một cháu bé gái chồm lên bàn, với lấy miếng khoai. Báu đưa tay gạt con:

    - Con không được hổn. Rồi lại mời Cô.

      Cháu bé trạc độ 6 tuổi, có vẻ bịnh, lại chụp đòi và khóc. Báu lại gạt, lại quay qua mời tôi:

    - Cô "thời" với em một miếng đi Cô. Cô "thời" cho em vui. Mấy thuở mà! Cô đừng sợ em thiếu. Nhà em lao động, được mua đủ phần độn, em không đói mà. Cô "thời" một chút đi Cô, một miếng cũng được.

 

 

      Báu mời dẻo dai tha thiết, lời lẽ trôi chảy bình thường khiến tôi quá ngạc nhiên. Hình như cái phần gọi là lịch sự, sự che đậy, cách giữ bề ngoài tối thiểu của một phụ nữ Huế thì vẫn nguyên vẹn, không hề bị phai mờ trong một trí tuệ hầu như đã mất hết chức năng. Nhưng tôi làm sao mà“ thời“ cho nổi những miếng khoai lang của "thời đại nhu yếu phẩm" vào cuối năm 78 mà tôi là người thấm thía trong cuộc.

      Khẩu phần lương thực hằng tháng của người lao động trí óc được 9 kg, lao động chân tay được 12 kg trong đó có 3 kg gạo, còn lại là bo bo, bột mì, mì sợi, khoai lang nửa sùng nửa úng. Nhà nào cũng "khoái ăn sang"; tới sở, tới trường Tào Tháo rượt chạy té khói!

      Trong khi đó bé gái cứ cố thò tay bốc khoai không được với mẹ, khóc ầm lên. Tôi lấy nửa củ đưa cho cháu trước vẻ mặt không vui của Báu.

      Chợt Báu chùng giọng xuống, quay lại chuyện cũ với vẻ mặt van lơn:

    - Cô, có phải em học trường Đồng Khánh không Cô? Giọng em càng tha thiết hơn.

    - Có mà, Cô có nói đó. Cô có dạy em môn Toán đó. Nói đi Cô!  Cô nói cho họ nghe đi Cô. Nói cho họ nghe em cũng có Cô, có Thầy, có trường, em cũng có bạn...

       Báu hướng đôi mắt đỏ hoe nhìn về phía những người mà em gọi là "họ". Họ đây là một nhóm thanh niên đang làm sáo bằng cây hóp, trong đó có các con trai của Báu và chồng em - Nguyên là giáo sư một trường tư thục ở Huế; có lẽ là tổ trưởng của tổ hợp mành trúc.

      Lúc này giọng Báu bình tĩnh dần. Ánh mắt em chứa những tia nhìn van lơn như mong níu được cái phao cho một bằng chứng nào đó.

    - Cô nói đi Cô. Em có học với Cô mà, em có bạn mà!

    - Ừ, em có bạn chứ. Mấy con bạn xóm cột cờ, Cầu Đất, Tây Lộc, con Quý Hương, con Nhạn, con Hứa, Tịnh An, Thúy Hồng, Như Ngân v..v..Em còn nhớ không?

    - Dạ nhớ!

      Báu ngập ngừng nói cho lấy có, cố gắng mở đôi mắt không hồn nhìn khờ dại vào mắt tôi như cầu cứu ký ức mà tôi nghĩ đã bị tẩy xóa hầu như trọn vẹn của một kẻ tâm thần. Và Báu nhỏ giọng xuống:

     - Dạ em nhớ rồi. Em có bạn.

      Rồi bỗng la to:

     - Em là học sinh trường Đồng Khánh! Cô là Cô giáo Đồng Khánh! Báu đưa mắt về nhóm thanh niên đang nhìn, lặp lại: " em là một nữ sinh Đồng Khánh. Cô là giáo sư Đồng Khánh, Cô đến thăm em!”

      Niềm hãnh diện lớn lao vỡ oà trong tâm khảm, Báu khóc nấc lên, gục nghiêng mặt vào lưng tôi, nức nở từng tiếng đứt quãng, cũng không ngoài mấy từ "nữ sinh Đồng Khánh". Tôi nghẹn ngào cảm động, nước mắt rưng rưng, hết sức lúng túng mở miệng không ra nổi vài lời dù chỉ để phân chứng cho một kẻ mất hết trí nhớ nhưng vẫn còn nguyên vẹn niềm tự hào đã là một nữ sinh Đồng Khánh. Niềm tự hào đã được ấp ủ trong niềm sâu kín của tâm hồn từ lâu không được khơi dậy, không hề được chứng minh trong suốt cuộc sống hoàn toàn cách ly với khung trời tươi mát màu hoa Phượng sân trường ngày nào! Huống hồ một kẻ mất trí đầy mặc cảm, sống trong giai đoạn tối tăm của đất nước mà thức ăn vật chất đã quá gay go, nói chi đến những khiá cạnh tinh thần như những vuốt ve của lòng tự trọng.

 

      Ngồi thêm một lúc cũng chỉ để nghe Báu lặp đi lặp lại không chán mấy câu trên, tôi buồn bã ra về sau khi moi trong giỏ xách tặng Báu một số tiền của tháng lương vừa mới lãnh cùng với phần nhu yếu phẩm vừa mua được từ buổi học chính trị nghiệp vụ. Một gói bột ngọt nhỏ, một cái ruột xe đạp nhờ bốc thăm trúng nhưng lại là ruột xe Mini, trong khi xe tôi là loại 650.  

       Báu cầm mấy tờ giấy bạc lật qua lật lại, mở to đôi mắt ngơ ngẩn:

    - Răng Cô cho em ri?

      Ý hẵn em muốn tìm hiểu cái "lý do" của một tình thương, điều mà em ít nhận được trong cuộc sống của một kẻ đã mất phần trí nhớ.

 

      Cháu bé lại vói tay lên bàn, mon men lại gần dĩa khoai. Tôi cầm nửa củ khoai còn lại đưa cho cháu thì Báu giựt lại. Em cố nhét miếng khoai vào cái giỏ nylon tôi đang xách lên chào về.

      Giỏ nylon được dùng thay cho cái cặp xách đi dạy hằng ngày, để đựng cả nhu yếu phẩm phân phối từ trường học và tiện để móc vào ghi đông xe đạp. Tôi luồng tay vào giỏ lấy miếng khoai lang trả lại. Báu cũng biết tiễn tôi ra đường, lưu luyến vịn một tay lên ghi đông xe. Khi tôi buông tay treo giỏ để cầm ghi đông, Báu lẹ làng banh miệng giỏ thả lọt miếng khoai vào. Đến nước này thì tôi không thể từ chối được nữa, chỉ thay bằng một lời cám ơn. Một nụ cười sung sướng như nụ cười trẻ thơ khi chiến thắng nở xoè trên gương mặt mà trước đây còn tăm tối dại khờ!

      Vừa đạp xe chầm chậm, tôi vừa quay lại nhìn. Báu đang vẫy theo rất bình thường, đang cười vui vẻ cũng rất bình thường nhưng ai biết đâu trong cái vẻ bình thường đó lại ẩn chứa một cái gì không được bình thường!

      Quên đường xa với chiếc xe đạp cũ kỹ, cọc cạch; tôi miên man vui, xen lẫn chút bâng khuâng khi nghĩ đến một điều đơn giản có chăng mình đang đem lại cho người học trò cũ của mình vào những khoảnh khắc ít ỏi trong đời sống tinh thần dành cho một kẻ đã mất quá khứ!  

      Cùng lúc, tôi mang theo tâm trạng ra về với nỗi băn khoăn, thắc mắc nguyên nhân nào đã biến em thành con người mất trí. Phải chăng qua biến cố tháng 4-75 em đã chứng kiến cảnh đau lòng tử biệt lớn lao nào đó của thân nhân, hoặc kinh hoàng trong khi chạy giặc trước cảnh máu đổ, thịt rơi, hoặc... Tất cả chỉ là nghi vấn mà tôi không dám hỏi sợ khơi dậy trong em một ký ức đau buồn. Nó như một bài toán đầy ẩn khúc mà tôi, là một người dạy toán lại không thể nào lý giải ra cái đáp số ấy!

      Nửa củ khoai vẫn nằm im trong giỏ xách, tôi mang đi dạy hằng ngày, chen chúc cùng sách vở và những nhu yếu phẩm tạp loại cho đến khi khô héo!

     Hình ảnh"nửa củ khoai" đối với tôi là những ngọt ngào đắng chát thỉnh thoảng cứ dập dềnh trong ký ức, ray rức nhức nhối mỗi khi phải đổ bỏ thức ăn dư thừa ở xứ người.

     Dù hương vị ngọt ngào phải tìm ra trong đắng chát nhưng cái đắng chát của một thời gian khổ là cái sẽ hết, hình như đang hết và phải hết, trong khi cái ngọt ngào thì vẫn còn đâu đó.

 

      Đó là những kỷ niệm ấm áp, những phần thưởng nhỏ bé dễ thương; cái còn lại của cuộc đời nhà giáo mà tôi vẫn muốn nâng niu gìn giữ để làm hành trang cho cuộc đời về chiều của mình, trên lối đi và lối về.

 


Mùa 30- 4- 2013

Nguyên Hạnh HTD

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16/12/2019(Xem: 9512)
Chùa do Thiền sư Liễu Quán (1667-1742) khai sáng vào đầu thế kỷ XVIII. Thiền sư là đệ tử đắc pháp của Hòa thượng Minh Hoằng - Tử Dung, được Hòa thượng trao tâm ấn năm 1712. Bấy giờ, chùa đã trở thành một đạo tràng lớn, có hàng vạn đệ tử học đạo, nghe pháp. Trong ba năm 1733, 1734 và 1735, Thiền sư đã mở ba Đại giới đàn truyền giới cho hàng vạn người tại chùa. Năm 1740, Thiền sư mở đại giới đàn Long Hoa ở kinh thành; năm 1742 mở Đại giới đàn tại chùa Viên Thông, nơi ngài khai sơn trước chùa Thiền Tôn. Thiền sư viên tịch năm Nhâm Tuất (1742), bảo tháp dựng ở một triền núi phía Đông Nam chùa vào tháng 4 năm Cảnh Hưng thứ 9 (1748), la thành bao quanh đồi tháp được xây vào năm 2001 nhân dịp đại trùng tu ngôi tổ đình.
15/12/2019(Xem: 30866)
INTRODUCTION "WITHIN A TREE, THERE IS A FLOWER WITHIN A ROCK, THERE IS A FLAME" BY SENIOR VENERABLE THICH NGUYEN TANG, QUANG DUC MONASTERY MELBOURNE, AUSTRALIA. "...The gift of the Dhamma excels all gifts; the taste of the Dhamma excels all tastes, and delight in the Dhamma excels all delights. The eradication of craving (i.e., attainment of arahatship) overcomes all ills (samsara dukkha). The gift of the Dhamma is the greatest giving among the all other givings. The one who is well trained in the Dhamma will share his understanding of the Dhamma either by writing a book, by preaching Dhamma, by discussing Dhamma, or by writing an article. Master Thich Nguyen Tang has used all these methods in his contribution to the Dhamma. Giving food or clothes or any other material items to a person makes them happy and they indeed will survive in the world, but they cannot get rid of this terrible circle of birth and death. It can be done only by understanding the noble Dhamma. Thus, the wr
09/12/2019(Xem: 6419)
Hơn một thế kỷ trước, một người quốc tịch Anh đã thất bại trong việc nghiên cứu về Giáo Lý Đạo Phật. Đó là giáo sư Rhys Davids, con của một mục sư Cơ Đốc Giáo. Ông đã bỏ ra nhiều năm học tiếng Pali, kiên nhẫn tìm tòi, nghiên cứu các kinh điển Phật Giáo chỉ để mong đạt mục đích là chứng minh giáo lý Đạo Phật thua xa giáo lý Cơ Đốc. Nhưng Rhys Davids đã thất bại với công việc này!
07/12/2019(Xem: 13977)
Cuối năm, lên núi thăm Chùa Sắc Tứ Kim Sơn, hầu chuyện với Thầy trụ trì Thích Nguyên Minh, tôi được Thầy ban tặng một cuốn lịch để về treo đón năm mới Canh Tý 2020.
05/12/2019(Xem: 7018)
Tiểu Truyện của HT. Thích Huyền-Tôn 玄宗小傳 (Đây là bài Tự Thuật, nên 2 chữ Ht(trong bài) là người viết, {Huyền Tôn} cũng là đạo hiệu. Còn 2 chữ HT lớn, Là để chỉ cho các HT đương thời. ) Đời sống Đạo của HTHuyền-tôn: *Sanh: VL. 4807. Mậu-thìn (1928) *6t, xuất-gia. Quy-Y, Pd Như-Kế. Giáp-tuất (1934). *13t, Thọ Sa-di, PhápTự Giải-Tích. Tân-Tị (1941). *20t, Tỳ-Kheo, HiệuHuyền-Tôn. Mậu-tý (1948). *43, Thượng, Tọa. Chùa Pháp-vân, Tỉnh Gia Định Sai-gòn. *66, Hòa Thượng, Tại Hoa Kỳ.
26/11/2019(Xem: 10927)
Những ngày ở Áo Thích Như Điển Lâu lắm rồi tôi mới trở lại Áo trong mùa Đông như năm nay, từ ngày 22 đến 24 tháng 11 năm 2019. Thầy Viên Duy và một Phật Tử đến phi trường Wien (Vienna) đón tôi vào chiều ngày 22 tháng 11, đưa về chùa Pháp Tạng, nơi Thượng Tọa làm Trụ Trì và Hòa Thượng Thích Trí Minh làm Cố vấn và lãnh đạo tinh thần. Đây chẳng phải là lần đầu tiên tôi đến Áo, mà những lần trước đó, kể từ năm 1978 đến nay chắc cũng hơn 10 lần, nhưng mỗi lần lại mỗi khác, chẳng có lần nào giống lần nào cả
18/11/2019(Xem: 9344)
Đại chúng thương mến, Như thông lệ hàng năm với 4 khóa tu Xuân - Hạ - Thu - Đông, Khóa Tu Mùa Đông năm nay được chùa Sắc Tứ Kim Sơn tổ chức vào các ngày 20,21,22/12/2019 (Nhằm ngày 25,26,27/11 ÂL). Thương mời Đại chúng cùng về chùa thực tập ăn cơm chánh niệm, thiền hành, thiền tọa, tụng kinh, nghe pháp thoại, chia sẻ pháp đàm và hát thiền ca cùng Quý Thầy - Quý Sư Cô giữa không gian xanh mát của núi đồi Kim Sơn. Khóa tu còn là cơ hội để quý vị trở về và tiếp xúc với một nếp sống giản dị - bình an, tập nhìn lại chính mình giữa cuộc sống bận rộn, hối hả.
31/10/2019(Xem: 8931)
Vào ngày 4/6/2018, nhà vẽ kiểu túi xách Kate Spade/ Kate Valentine thành công với tài sản ước lượng 200 triệu Mỹ Kim, bà đã treo cổ tự tử ở trong phòng riêng, để lại một tuyệt mệnh thư cho con gái, trong khi chồng ở một phòng khác. Điều này cho thấy “Thành công và tăm tiếng chưa chắc đã ngăn ngừa được sự buồn nản, chán đời” (Kate Spade's suicide is proof that money and fame can't deter depression).
29/10/2019(Xem: 8377)
Tuần qua tin tức thế giới chấn động khi được nhìn thấy 39 thi thể của những nạn nhân vì mục đích đi tìm hạnh phúc cho gia đình mình, cho mình và người thân theo quan niệm thường có ở thế gian ( của cải, vật chất) đã không màng đến tính mạng rủi ro xảy ra trên đường đến Anh Quốc . Chúng ta thường đã được nghe Đức Đạt Lai Lạt Ma nhận thức như sau khi đã tiếp xúc với nhiều dân tộc, ra nhiều thành phần trong xã hội " TẤT CẢ CHÚNG TA AI CŨNG MUỐN SỐNG CÓ HẠNH PHÚC CHỨ KHÔNG THÍCH KHỔ ĐAU " .
22/10/2019(Xem: 7077)
Quê quán tôi ở tận làng Nguyệt Biều, ngoại ô thành phố Huế, nơi nổi tiếng có những vườn thanh trà xanh um, trái ngọt. Hơn 50 năm trên đất Việt, tôi đã sống hơn 30 năm trên đất Huế, uống nước sông Hương hai mùa mưa nắng, ăn cơm gạo de An Cựu. Mùa hè tắm biển Thuận An, mùa xuân ngắm hoa đào trên chùa Từ Hiếu, mùa đông vẫn dầm mưa qua đò Thừa Phủ; chưa kể tiếng thông reo trên đồi Thiên An, tiếng ve sầu rả rích trên các tàng cây dọc con đường vào Thành Nội. Còn nữa, màu hồng, màu trắng của hoa sen hồ Tịnh Tâm, màu đỏ rực của phượng vĩ mùa hè. Tôi là dân Huế chính cống, Huế chay, “mô - tê - răng - rứa “ tôi nói không sai một chữ. Cũng có thể máu huyết tôi thấm đậm hương vị quýt Hương Cần, thanh trà, nhãn lồng Nguyệt Biều, mít Kim Long, dâu Truồi ngọt lịm...