Đổ nghiệp

17/07/201021:13(Xem: 6648)
Đổ nghiệp

 Đêm qua con nghe bài pháp “Vượt qua oan gia trái chủ”của thầy Thích Tâm Đại, cảm thấy bàng hoàng, sửng sốt, mồ hôi ướt lạnh. Hóa ra, trong quá khứ, con đã tạo vô lượng tội, gieo vô lượng oán thù, oan gia trái chủ.


anh bai do nghiep.jpg
Có tu mới thấy đâu là tội, đâu là phước - Ảnh minh họa

Cái thuở bị người đời hắt hủi, đường hoạn lộ bít lối, con bỏ tất cả, về quê, suốt ngày say mê thú điền liệt, xách súng bắn giết vô tội vạ, thượng cầm hạ thú, dường như để trả thù đời. Lúc ấy con uống rượu dữ lắm. Đám bạn nhậu 19 thằng, nhậu với con chết hết 15, sắp chết 1 người nữa, đang bị ung thư hành tá tràng nằm rên la suốt ngày, không ăn uống gì cả. Con có luyện khí công thiền pháp, uống say bí tỉ, đêm ngồi thở 2 giờ là cơ thể như được tái tạo lại, nhậu với con không chết sao được! Bây giờ không ai dám nhậu với con cả và con cũng không nhậu với ai cả vì con đã tu rồi.

Có tu mới thấy đâu là tội, đâu là phước. Đêm kia con có tâm sự với thầy, sau khi nghe giảng về oan gia trái chủ, con ân hận lắm, quyết sám hối trả nợ lỗi lầm đã gây ra. Dường như các oan hồn của 15 góa phụ kia nghe được làn sóng điện qua mail con gởi cho thầy, họ nhảy xổ vào ra tay liền, ngày hôm ấy đã xảy ra một chuyện khiến con suýt mất mạng.

Con nghe pháp suốt một tháng ròng, đêm chỉ ngủ 1-2 tiếng, thần kinh có điều bất ổn, tay trái bị sưng mất cảm giác. Đi bệnh viện khám, bác sĩ chuyên thần kinh lại cho luôn thuốc viêm cơ mà cho quá liều. Uống đến ngày thứ 2 thì hang vị bị phù nề xung huyết, nó gây ra một cơn uất hơi mất thở suốt 3 giờ liền. Bụng thì trương cứng, cuống họng nghẹt ngang, chỉ thở bằng miệng, mắt mờ lồi ra, tay chân bủn rủn. Nằm không được, ngồi, đi, đứng không yên, chỉ muốn chết tới. Lúc này con mới thấm thía lời thầy dạy mạng người trong một hơi thở.

Con đã chạy sảng ra nhà mồ ông già móc cổ ói, hy vọng ói được một ít sẽ thở được, nhưng chỉ kêu như bò rống, mất thở càng thêm mất thở. Con vào nhà nằm vật xuống giường giãy giụa, hấp hối. Không thở được, trời ơi có cảnh khổ nào bằng! Con chỉ mong được chết liền tức khắc nhưng lại nghĩ, chết rồi ai nuôi dạy hai đứa con. Càng nghĩ, nước mắt con trào ra giàn giụa. Trời ơi! Kiếp con người sao mà khổ não thế này!

Càng nghĩ đến hai đứa con, con càng quyết tâm không thể chết, phải sống, quyết sống cho bằng được! Lúc ấy con chợt nhớ đến chương trình Phật pháp mầu nhiệm kỳ thứ 14, Phật tử Chúc Giác bị tê liệt nửa đầu, đã cầu Quan Âm Bồ-tát cứu khổ cứu nạn, nguyện sẽ trì 12 ngàn biến chú Đại bi, sau 1 đêm bệnh khỏi hẳn; con liền cầu Quan Âm, nếu được sống, từ đây con sẽ là người hộ pháp chí thành, chí nguyện, từ sáng cho đến tối sẽ không có một niệm gian tham, sẽ trì 10 ngàn biến (bớt 2 ngàn, vì lúc ấy con thật thà nghĩ 12 ngàn chắc làm không nổi).

Nguyện rồi, con mở máy lên, trì theo thầy Thích Trí Thoát, trong tiếng chuông mõ vang vang. Con vừa thở bằng miệng vừa trì chú, hai chân vất vả, vặn vẹo. Rồi dần dần sự nhiệm mầu đã hiện ra, con đã chịu nằm im và đọc chú thành tiếng: Nam-mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam-mô a rị da bà lô yết đế thước bát ra da, bồ-đề tát đỏa bà da… Con thiếp đi một giấc, thức dậy thấy đói bụng, ăn cơm xong liền ra rẫy. Quả là vừa chết đó liền sống đó, Bồ-tát ơi! Từ đây con sẽ gieo mình dưới chân Ngài suốt đời. Đêm đó con trì chú cho đến sáng, càng trì giọng càng vang vang thanh thoát, ngực như nở ra, các cơ bắp săn cuộn, tâm định như núi, dường như bài chú thay luôn cho việc luyện công, hành thiền.

Trong một ngày đêm mà con tưởng chừng đã trả được muôn trùng kiếp nghiệp chướng. Rõ ràng cái kinh nghiệm cận tử mất thở sắp chết ấy dễ có mấy ai đã trải qua mà còn được ngồi gõ bàn phím tâm sự với thầy. Chết một lần để được sống muôn thuở. Đây là những lời lẽ chân thành nhất, chuyện này do nghiệp lực vận hành, con không hề xen vào một tí gì, thầy có tin không?

Từ bữa ấy đến nay, con không còn thấy có mình nữa, nhìn đâu cũng thấy an vui. Thị đáo thủ hành, mắt nhìn tay động, con chỉ muốn lao động suốt ngày để dâng mình cúng Phật, chuyện gì chưa làm đều được làm xong. Bao nhiêu ân oán, nợ nần, xóa hết.

Tản văn Dương Minh Tâm

Source: giacngo.vn

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/10/2011(Xem: 29994)
Bùi Giáng, Người viết sách với tốc độ kinh hồn
12/10/2011(Xem: 25164)
Truyện thơ Tôn giả La Hầu La - Tác giả: Tâm Minh Ngô Tằng Giao
01/10/2011(Xem: 9728)
Hàng ngũ phật tử thường được chia là phật tử tại gia và phật tử xuất gia. Các phật tử tại gia thường được gọi là cư sĩ. Trong lịch sử đạo Phật có ghi lại chuyện một số các vị cư sĩ nổi tiếng, tuy các vị ấy không xuất gia nhưng về phương diện tu hành, thấu hiểu đạo lý thì không thua kém gì các vị đã xuất gia. Có nhiều vị cư sĩ nổi tiếng nhưng bài này chỉ xin nhắc đến ông Duy Ma Cật, bà hoàng hậu Thắng Man, cư sĩ Huệ Năng lúc chưa xuất gia và sau đó đến gia đình ông Bàng Uẩn.
25/09/2011(Xem: 5833)
Lời hát ru nhẹ nhàng mà trầm buồn da diết ấy đi vào trong cả giấc mơ của Hiền. Bao lần chị giựt mình thảng thốt ngồi bật dậy… ngơ ngác nhìn quanh. Chẳng có gì khác ngoài bóng đêm lạnh giá bao trùm hai dãy xà lim hun hút. Chốc chốc vẳng lại tiếng thạch sùng chặc lưỡi, tiếng chí chóe của mấy chú tí ưa khuấy rối trong xó tối. Và cả tiếng thở dài của ai đó dội qua mấy bức tường xanh rêu im ỉm…
24/09/2011(Xem: 3989)
Ngày xưa có một chàng trai tên là Na Á. Anh mồ côi cha từ sớm, ở với mẹ già. Nhà Na Á nghèo, anh phải làm nghề đánh cá để nuôi thân, nuôi mẹ.
24/09/2011(Xem: 4742)
Một hôm em bé ngồi trong bóng cây trú nắng, gió cũng thổi mát quá, em ngủ quên, đến lúc thức dậy, thì đàn trâu đã đi mất. Em tìm khắp cánh đồng mà chẳng thấy.
21/09/2011(Xem: 4242)
Tờ Chú (có nghĩa là anh đen) nghèo nhất làng. Họ nghèo lắm, nghèo đến nỗi không có một con dao mẻ để phát nương, một cái thuổng để đào củ mài.
21/09/2011(Xem: 3932)
Ngày xưa, ở xã Đại An gần cù lao Huân tỉnh Khánh Hòa có một đôi vợ chồng già không có con cái. Ông bà ở trong một căn nhà lá dựng bên vách núi, làm nghề trồng dưa.
16/09/2011(Xem: 14972)
Tôi cảm động, vì sống trong đạo giải thoát tôi đã tiếp nhận được một thứ tình thiêng liêng, trong sáng; một thứ tình êm nhẹ thanh thoát đượm ngát hương vị lý tưởng...
12/09/2011(Xem: 5322)
Hồ Biểu Chánh (1884–1958), tên thật là Hồ Văn Trung, tự Biểu Chánh, hiệu Thứ Tiên; là một nhà văn tiên phong của miền Nam Việt Nam ở đầu thế kỷ 20. Ông sinh năm 1885 (trong giấy khai sinh ghi ngày 1 tháng 10 năm 1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Ông vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ.