Có một người

25/06/201007:55(Xem: 6496)
Có một người
 ngamison_1

Vì không biết sự vận hành nội tại nên hầu hết mọi người trên thế gian không ai nhận ra chính mình và cũng không đồng ý với chính mình. Có người nương vào thể chất như thân thể cao lớn, mạnh khỏe, sắc diện đẹp đẻ, sáng sủa thù thắng …và cho đó là ta. Có vị lấy tri thức như bằng cấp học vị là mình như tiến sĩ, bác sĩ hay kỹ sư v.v. Có vị lấy danh vọng chức tước như tổng thống, thủ tướng, bộ trưởng v.v.làm ta.

Mọi người chúng ta ai ai củng có hai con người, một con người ở bên trong và một con người bên ngoài. Con người bên trong thì lặng lẽ còn con người bên ngoài thì năng động. Con người bên trong không làm nên được, còn con người bên ngoài do thu thập mà có. Tại sao chúng ta đau khổ? 
 
Chúng ta đau khổ vì chúng ta chỉ biết thu thập mà không biết tiêu hóa, giống như chúng ta ăn nhiều thức ăn mà bộ máy tiêu hóa của chúng ta hoạt động không hữu hiệu. Đời sống hằng ngày của chúng ta vì quá phụ thuộc vào con người bên ngoài nên dường như chúng ta quên mất con người thật thụ của chúng ta, dù rằng nó lặng lẻ nhưng luôn luôn hiện hửu. Cũng vậy cùng hiện hữu trên một cái thân nhưng chúng ta chỉ biết chăm chú và săn sóc phía trước chẳng mấy khi ta nghỉ đến phía sau lưng, ngoại trừ khi ta bị mệt mỏi hay đau nhức.

Vì không tiêu hóa những gì chúng ta thu thập được cho nên nó biến thành bệnh thói quen, theo thời gian lâu dần những thói quen mà ta huân tập nó biến thành sự vận hành nội tại, và chính chúng ta phải chịu sự điều khiển và làm nô lệ cho những gì mà cũng chính từ ta tạo nên nó. Con người bên ngoài thì nương vào sự luân chuyển của thời gian mà có, nó không bền chắc, vì nó không căn bổn, không gốc gác, nhờ dòng đời mà có nên nó phải luân chuyển theo dòng đời khi lên khi xuống, khi có khi không.

Thân thể của chúng ta là một bộ máy vô cùng hoàn hảo, được tạo nên bằng sự chọn lựa vô cùng tinh vi từ vật chất nên rất quí giá và vô cùng nhạy bén, nó giống như một tấm gương sáng có thể phản ảnh tất cả những hình ảnh nào xuất hiện trước nó. Chẳng những hình ảnh mà ngay cả tinh thần và tư tưởng cũng không qua khỏi nó. Nói về độ quí giá thì trên thế gian này thì không có vật gì quí giá hơn. Về trí thức của con người thì chỉ nhận biết sự quí giá bậc hạ và bậc trung, còn bậc thượng, bật siêu đẳng thì tri thức không làm sao nhận ra được, giống như người Phi châu khi xưa lấy đá kim cương chọi bò vậy.

Thân thể này ta tập luyện như thế nào thì nó uyển chuyển theo ta thế ấy, vì vậy nó không có thực tánh, nó thanh thoát nhẹ nhàng, khi tâm tư ta hướng thượng như trải lòng thương đến mọi người, đến vạn vật, nó u ám nặng nề khi ta sân si với mọi người, với vạn vật. Khi cảm thấy bị đau nhức thì đó là lúc thân thể báo động cho chúng ta biết đời sống của ta mất quân bình vì nhờ vậy bằng cách này hay cách khác ta nghĩ cách điều chỉnh lại cuộc sống hằng ngày. Vì không nhận ra sự quan trọng tính chất quân bình trong đời sống nên mọi bệnh tật từ đó phát sinh, nhất là vào thời thanh thiếu niên vì thân thể cường tráng và sự hiểu biết còn nông cạn nên hành động hằng ngày dễ đi vào sự quá độ và từ đó nó tập thành thói quen cho quảng đời sau này.

Thân thể này biến diệt từng phút, từng giây, từng sát na tế, nhận được hay không là do chúng ta. Nó đến rồi đi theo chu kỳ nhất định. Thành trụ hoại diệt không có người nào ngăn chận được nó, nó có hình dáng như thế này hay như thế kia là do phước đức tích tụ nhiều hay ít, hay vừa tàn tật, xấu xa, bần cùng vì không tạo phước đức.

Một tinh thần sáng suốt ở trong thân thể khỏe mạnh đó là nói theo thế gian, còn có những vị muốn chứng biết những sự việc cao siêu huyền diệu hơn thì thân thể khỏe mạnh không thôi thì chưa đủ mà phải cần nhẹ nhàng thanh thoát nữa mới được. Những điều cao siêu huyền diệu nó không bao giờ xuất hiện trong một cơ thể nặng nề ô trược, giống như những đồ vật quí giá không ai bỏ vào những đồ đựng xấu dơ.

Có nhiều cách tu hành để làm cho thân này chuyển hóa từ ô trược nặng nề thành nhẹ nhàng thanh thoát, nhưng điều quan trọng là những trạng thái xuất hiện trong giai đoạn chuyển hóa chúng ta có chấp nhận được hay không. Tùy theo căn cơ của mỗi cá nhân mà sự chuyển hóa có vô vàn sự khác biệt không có người nào giống người nào hết. Muốn có sự thấy biết chân thật thì thân tâm phải có sự quân bình với nhau. Khi thân tâm còn nghiêng lệch thì cho dù có nói những điều cao siêu đến đâu mà cái thân vẫn còn ô trược thì đó chỉ là cuồng ngôn loạn ngữ mà thôi.

Thân tâm không thể tách rời vì tâm nhờ cảnh mà biết, cảnh nhờ tâm mà hiện, tương tợ như âm với dương trong đạo dịch hay khí huyết trong thân thể chúng ta không thể tách rời ra được nhưng điều quan trọng là cái nào dẫn đạo mà thôi. Vì không có âm thì không có dương cũng như không có huyết thì không làm sao có khí được. Mọi sự việc xảy ra hằng ngày xung quanh nhờ năm giác quan mà ta nhận biết hầu hết là không trung thực đúng theo sự thật của sự việc đó, mà ta chỉ biết theo sự điều khiển bên trong và phán đoán theo thói quen. 
 
Thói quen nội tại nó giống như ông chủ khó tính, nó chỉ thích ra lệnh và nếu có nhận vào thì nó chỉ thích nhận những gì giống nó hay ít ra cũng tương tợ như nó, còn nếu vì hoàn cảnh bắt buộc mà ta phải nhận những gì mà khác với nó thì nó sẽ gây đau khổ cho ta giống như hình phạt vậy, cũng tùy theo cường độ mà hình phạt củng không tương đồng có thể là khóc liệt hay chỉ tượng trưng thôi.

Tư tưởng bị nô lệ, khống chế áp đặt từ đời này sang đời khác, vì vậy nó làm cho chúng ta cảm thấy mình nhỏ bé, yếu hèn và chỉ còn biết một điều là vâng lời và chấp nhận. Cũng có nhiều vị lờ mờ cảm thấy mình đang bị trói buộc vào một sự vô hình nào đó vô cùng chắc chắn, muốn vùng vẫy thoát ra, nhưng hầu như những vị đó không tìm được con đường khả dĩ để bước ra.

Sự vận hành nội tại hay tư tưởng của chúng ta nó giống như một mê cung hay bát trận đồ trong truyền thuyết của người Trung hoa, đôi khi ta thấy nó mở ra thênh thang nhưng khi ta bước đến thi không còn thấy đường ra nữa. 
 
Ngược lại đôi khi ta thấy nó đóng nhưng khi đi đến thì nó mở ra, nó đóng mở không báo hiệu, không giờ không phút, không trước không sau, không đầu không cuối, không phương không xứ. Vì nó như vậy cho nên nhiều vị muốn tìm hiểu nó đành bỏ cuộc, có những vị vô vọng uất ức nên tư tưởng nổi loạn đâm ra nghi ngờ chống đối tất cả, nhưng làm như vậy cũng không thể giải quyết được gì hết mà vô vọng cũng hoàn vô vọng

Trong Kinh Đại bát niết bàn, Thế tôn ngài có nói một thí dụ về tư tưởng của chúng ta bị trói buộc như thế này: Có một thợ săn dùng keo để bắt khỉ vượn, vì không biết khỉ vượn dùng tay sờ vào liền bị dính, không rút ra được khỉ vượn dùng tay còn lại để gở thì củng bị dính luôn, hai tay bị dính khỉ vượn dùng hai chân thì củng bị dính chặt, cuối cùng dùng miệng để gở thì củng bị keo dính chặt và chỉ chờ vậy thợ săn xuất hiện trói lại quảy đi. Chúng ta củng vậy, được sở hữu một vật vô cùng quí giá mà hầu hết vì không biết sử dụng nên bị nó trói buộc làm khổ. Thay vì ta làm chủ nó, ngược lại để nó làm chủ ta, mặc tình cho nó hành hạ sai kiến đủ điều mà ta chỉ biết cuối đầu vâng dạ phục tùng mà thôi.

Tự tánh của sáu giác quan là thu nhận mà không phân biệt, còn chúng ta nhận bằng cảm tính Nhị nguyên. Đã sống trong thế giới Nhị nguyên thì cho dù anh có thông minh tuyệt đỉnh hay cho dù anh phân tích sự việc tinh tế đến mức nào đi nửa để loại trừ một nửa kia thì củng không làm sao loại trừ nó ra được mà ngược lại nó còn bị dính chặt hơn nữa, vì vậy dân gian có câu ghét của nào trời trao của ấy cũng không sai là mấy.

Về Nhị nguyên tính thì những người bình thường trôi lăn trong đó đã đành mà cho đến những vị tu hành có định lực siêu việt hay những vị giác ngộ cũng không thể nào loại trừ ra được mà chỉ là “ Bất muội nhân quả” còn nếu loại trừ thì mất lòng Từ Bi với chúng sanh và đạo quả cũng không viên thành được.    

Để không bị trôi lăn trong thế giới nhị nguyên, để không còn đau khổ do sự vô thường biến hoại, để không bị sai khiến làm nô lệ cho những gì mình không thích mà vẫn phải làm, để không bị những tâm tư nặng nề ô trược ta không muốn mà nó vẫn đến không làm sao ngăn chận được, để không bị trói buộc bởi những sợ dây vô hình mà ta không biết đầu mối ở đâu và ta bị trói buộc tự bao giờ. Nói chung là sự đau khổ phiền muộn cả thân và tâm trong đời sống thế gian này.

Vậy muốn giải trừ mọi sự khổ đau, muốn thấy thế giới này một cách chân thật thì phải tìm thấy một con người. Con người đó tuy không cùng sanh nhưng chưa bao giờ rời xa chúng ta nữa bước. Khi chúng ta tìm thấy được con người đó thì mọi thắc mắc, mọi nghi ngờ, mọi khổ đau sẽ được giải đáp, tự tiêu tan và sự đó không còn là sự đó nữa.

Mãn Tự
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
16/12/2019(Xem: 9406)
Chùa do Thiền sư Liễu Quán (1667-1742) khai sáng vào đầu thế kỷ XVIII. Thiền sư là đệ tử đắc pháp của Hòa thượng Minh Hoằng - Tử Dung, được Hòa thượng trao tâm ấn năm 1712. Bấy giờ, chùa đã trở thành một đạo tràng lớn, có hàng vạn đệ tử học đạo, nghe pháp. Trong ba năm 1733, 1734 và 1735, Thiền sư đã mở ba Đại giới đàn truyền giới cho hàng vạn người tại chùa. Năm 1740, Thiền sư mở đại giới đàn Long Hoa ở kinh thành; năm 1742 mở Đại giới đàn tại chùa Viên Thông, nơi ngài khai sơn trước chùa Thiền Tôn. Thiền sư viên tịch năm Nhâm Tuất (1742), bảo tháp dựng ở một triền núi phía Đông Nam chùa vào tháng 4 năm Cảnh Hưng thứ 9 (1748), la thành bao quanh đồi tháp được xây vào năm 2001 nhân dịp đại trùng tu ngôi tổ đình.
15/12/2019(Xem: 30759)
INTRODUCTION "WITHIN A TREE, THERE IS A FLOWER WITHIN A ROCK, THERE IS A FLAME" BY SENIOR VENERABLE THICH NGUYEN TANG, QUANG DUC MONASTERY MELBOURNE, AUSTRALIA. "...The gift of the Dhamma excels all gifts; the taste of the Dhamma excels all tastes, and delight in the Dhamma excels all delights. The eradication of craving (i.e., attainment of arahatship) overcomes all ills (samsara dukkha). The gift of the Dhamma is the greatest giving among the all other givings. The one who is well trained in the Dhamma will share his understanding of the Dhamma either by writing a book, by preaching Dhamma, by discussing Dhamma, or by writing an article. Master Thich Nguyen Tang has used all these methods in his contribution to the Dhamma. Giving food or clothes or any other material items to a person makes them happy and they indeed will survive in the world, but they cannot get rid of this terrible circle of birth and death. It can be done only by understanding the noble Dhamma. Thus, the wr
09/12/2019(Xem: 6348)
Hơn một thế kỷ trước, một người quốc tịch Anh đã thất bại trong việc nghiên cứu về Giáo Lý Đạo Phật. Đó là giáo sư Rhys Davids, con của một mục sư Cơ Đốc Giáo. Ông đã bỏ ra nhiều năm học tiếng Pali, kiên nhẫn tìm tòi, nghiên cứu các kinh điển Phật Giáo chỉ để mong đạt mục đích là chứng minh giáo lý Đạo Phật thua xa giáo lý Cơ Đốc. Nhưng Rhys Davids đã thất bại với công việc này!
07/12/2019(Xem: 13611)
Cuối năm, lên núi thăm Chùa Sắc Tứ Kim Sơn, hầu chuyện với Thầy trụ trì Thích Nguyên Minh, tôi được Thầy ban tặng một cuốn lịch để về treo đón năm mới Canh Tý 2020.
05/12/2019(Xem: 6900)
Tiểu Truyện của HT. Thích Huyền-Tôn 玄宗小傳 (Đây là bài Tự Thuật, nên 2 chữ Ht(trong bài) là người viết, {Huyền Tôn} cũng là đạo hiệu. Còn 2 chữ HT lớn, Là để chỉ cho các HT đương thời. ) Đời sống Đạo của HTHuyền-tôn: *Sanh: VL. 4807. Mậu-thìn (1928) *6t, xuất-gia. Quy-Y, Pd Như-Kế. Giáp-tuất (1934). *13t, Thọ Sa-di, PhápTự Giải-Tích. Tân-Tị (1941). *20t, Tỳ-Kheo, HiệuHuyền-Tôn. Mậu-tý (1948). *43, Thượng, Tọa. Chùa Pháp-vân, Tỉnh Gia Định Sai-gòn. *66, Hòa Thượng, Tại Hoa Kỳ.
26/11/2019(Xem: 10884)
Những ngày ở Áo Thích Như Điển Lâu lắm rồi tôi mới trở lại Áo trong mùa Đông như năm nay, từ ngày 22 đến 24 tháng 11 năm 2019. Thầy Viên Duy và một Phật Tử đến phi trường Wien (Vienna) đón tôi vào chiều ngày 22 tháng 11, đưa về chùa Pháp Tạng, nơi Thượng Tọa làm Trụ Trì và Hòa Thượng Thích Trí Minh làm Cố vấn và lãnh đạo tinh thần. Đây chẳng phải là lần đầu tiên tôi đến Áo, mà những lần trước đó, kể từ năm 1978 đến nay chắc cũng hơn 10 lần, nhưng mỗi lần lại mỗi khác, chẳng có lần nào giống lần nào cả
18/11/2019(Xem: 9293)
Đại chúng thương mến, Như thông lệ hàng năm với 4 khóa tu Xuân - Hạ - Thu - Đông, Khóa Tu Mùa Đông năm nay được chùa Sắc Tứ Kim Sơn tổ chức vào các ngày 20,21,22/12/2019 (Nhằm ngày 25,26,27/11 ÂL). Thương mời Đại chúng cùng về chùa thực tập ăn cơm chánh niệm, thiền hành, thiền tọa, tụng kinh, nghe pháp thoại, chia sẻ pháp đàm và hát thiền ca cùng Quý Thầy - Quý Sư Cô giữa không gian xanh mát của núi đồi Kim Sơn. Khóa tu còn là cơ hội để quý vị trở về và tiếp xúc với một nếp sống giản dị - bình an, tập nhìn lại chính mình giữa cuộc sống bận rộn, hối hả.
31/10/2019(Xem: 8772)
Vào ngày 4/6/2018, nhà vẽ kiểu túi xách Kate Spade/ Kate Valentine thành công với tài sản ước lượng 200 triệu Mỹ Kim, bà đã treo cổ tự tử ở trong phòng riêng, để lại một tuyệt mệnh thư cho con gái, trong khi chồng ở một phòng khác. Điều này cho thấy “Thành công và tăm tiếng chưa chắc đã ngăn ngừa được sự buồn nản, chán đời” (Kate Spade's suicide is proof that money and fame can't deter depression).
29/10/2019(Xem: 8334)
Tuần qua tin tức thế giới chấn động khi được nhìn thấy 39 thi thể của những nạn nhân vì mục đích đi tìm hạnh phúc cho gia đình mình, cho mình và người thân theo quan niệm thường có ở thế gian ( của cải, vật chất) đã không màng đến tính mạng rủi ro xảy ra trên đường đến Anh Quốc . Chúng ta thường đã được nghe Đức Đạt Lai Lạt Ma nhận thức như sau khi đã tiếp xúc với nhiều dân tộc, ra nhiều thành phần trong xã hội " TẤT CẢ CHÚNG TA AI CŨNG MUỐN SỐNG CÓ HẠNH PHÚC CHỨ KHÔNG THÍCH KHỔ ĐAU " .
22/10/2019(Xem: 7058)
Quê quán tôi ở tận làng Nguyệt Biều, ngoại ô thành phố Huế, nơi nổi tiếng có những vườn thanh trà xanh um, trái ngọt. Hơn 50 năm trên đất Việt, tôi đã sống hơn 30 năm trên đất Huế, uống nước sông Hương hai mùa mưa nắng, ăn cơm gạo de An Cựu. Mùa hè tắm biển Thuận An, mùa xuân ngắm hoa đào trên chùa Từ Hiếu, mùa đông vẫn dầm mưa qua đò Thừa Phủ; chưa kể tiếng thông reo trên đồi Thiên An, tiếng ve sầu rả rích trên các tàng cây dọc con đường vào Thành Nội. Còn nữa, màu hồng, màu trắng của hoa sen hồ Tịnh Tâm, màu đỏ rực của phượng vĩ mùa hè. Tôi là dân Huế chính cống, Huế chay, “mô - tê - răng - rứa “ tôi nói không sai một chữ. Cũng có thể máu huyết tôi thấm đậm hương vị quýt Hương Cần, thanh trà, nhãn lồng Nguyệt Biều, mít Kim Long, dâu Truồi ngọt lịm...