Chương 17: Lãnh Hội Chỗ Tâm Yếu

24/06/201318:37(Xem: 11868)
Chương 17: Lãnh Hội Chỗ Tâm Yếu

Kho báu nhà Thiền

Chương 17: Lãnh hội chỗ tâm yếu

Ðịnh Huệ

Nguồn: Thiền sư Văn Thủ, Dịch giả: Ðịnh Huệ

Lâm Tế ba lần hỏi Hoàng Bá về đại ý Phật pháp, ba lần bị đánh.
Lâm Tế bèn đến Ðại Ngu hỏi:
- Có lỗi hay không lỗi ?
Ðại Ngu nói:
- Hoàng Bá lòng từ bi thống thiết, vì muốn ông được triệt ngộ, mà ông còn đến
hỏi có lỗi hay không lỗi.
Ngay lời nói này, sư liền đại ngộ nói:
- Té ra Phật pháp của Hoàng Bá chẳng có gì đặc biệt.
*
Hưng Hóa đến Ðại Giác làm Viện chủ. Một hôm, Ðại Giác gọi:
- Viện chủ! Ta nghe nói ông đi hành cước về phương nam một lần, đầu gậy
chưa từng đánh trúng một người hội Phật pháp. Ông dựa vào đạo lý nào mà nói như thế?
Sư liền hét. Ðại Giác liền đánh. Sư lại hét. Ðại Giác lại đánh.
Hôm sau, Sư từ pháp đường đi ra. Ðại Giác mời Viện chủ lại, hỏi:
- Ta nghi hai cái hét của ông ngày hôm qua.
Sư lại hét. Ðại Giác lại đánh. Sư hét nữa. Ðại Giác đánh nữa.
Sư nói:
- Tôi ở chỗ Sư huynh Tam Thánh học được câu khách chủ, hết thảy đều bị sư
huynh đốn ngã. Xin Hòa thượng cho tôi pháp môn an lạc.
Ðại Giác nói:
- Tên mù này đến đây bị thua rồi, hãy cởi áo nạp ra ta đánh cho một trận.
Ngay lời này, Sư liền hội được đạo lý của Tiên sư Lâm Tế bị Hoàng Bá cho ăn
đòn.
Thiền sư Quy Tỉnh lúc mới đến tham Tây Viện, bèn hỏi:
- Lúc toan hỏi mà chẳng hỏi thì sao?
Tây Viện liền đánh Sư im lặng giây lâu. Tây Viện nói:
- Nếu gọi là đánh thì mày râu đều rụng.
Ngay lời này, Sư liền đại ngộ.
*
Tăng thưa Triệu Châu:
- Học nhân vừa nhập tòng lâm, xin Thầy chỉ dạy.
Triệu Châu bảo:
- Ăn cháo rồi.
- Rửa bát đi !
Vị tăng này hoát nhiên đại ngộ.
Về sau, Ðại sư Vân Môn làm lời niêm rằng: “Hãy nói xem là có chỉ dạy hay
không chỉ dạy? Nếu nói có, thì Triệu Châu dạy cái gì cho ông Tăng kia? Nếu nói không, thì ông Tăng kia làm sao ngộ?”
*
Thiền sư Ðiểu Sào Ðạo Lâm, nhân thị giả Hội Thông đến lạy từ giã thưa:
- Con vì pháp mà xuất gia, Hòa thượng chẳng xót thương chỉ dạy. Nay con xin
đi nơi khác học Phật pháp.
Sư bảo:
- Nếu là Phật pháp thì ở đây ta cũng có chút ít.
- Thế nào là Phật pháp ở đây của Hòa thượng?
Sư bứt cái lông của vải áo giơ lên thổi ngay mặt, thị giả liền đại ngộ.
*
Thiền sư Long Ðàm Tín một hôm thưa với Thiên Hoàng:
- Con từ khi đến ở đây tới nay không được thầy chỉ dạy tâm yếu.
Thiên Hoàng bảo:
- Từ khi ông đến đây tới nay, ta chưa từng không chỉ dạy tâm yếu.
- Thầy chỉ dạy chỗ nào?
- Ông đem trà đến thì ta tiếp nhận. Ông đem cơm đến, ta vì ông mà ăn. Lúc ông
lễ bái ta gật đầu. Có chỗ nào chẳng chỉ dạy tâm yếu đâu?
Sư cúi đầu im lặng giây lâu.
Thiên Hoàng bảo:
- Thấy thì liền thấy, suy nghĩ tức là trật.
Sư liền ngộ và hỏi:
- Làm sao bảo nhậm?
- Nhậm tánh tiêu dao, tùy duyên phóng khoáng, chỉ cần dứt hết tâm phàm tục
chứ không có thánh giải nào khác.
*
Tăng hỏi Triệu Châu:
- Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Ðộ sang?
Triệu Châu đáp:
- Cây bách trước sân.
- Hòa thượng chớ đem cảnh lừa người.
- Ta chẳng đem cảnh lừa người.
- Hòa thượng chẳng đem cảnh lừa người thì con xin hỏi lại: Thế nào là ý Tổ sư
từ Ấn Ðộ sang?
- Cây bách trước sân.
Ngay lời này, vị Tăng liền đại ngộ.
*
Hòa thượng Diệp Huyện Tỉnh, nhân Tăng thỉnh ích về câu thoại đầu “Cây bách
trước sân” của Triệu Châu, Ngài nói:
- Ta chẳng chối từ nói cho ông, nhưng ông có tin ta chăng?
- Lời Hòa thượng rất quý trọng, lẽ nào con dám không tin.
- Ông có nghe tiếng giọt mưa rơi trước thềm chăng?
Ông Tăng thoạt nhiên bất giác thất thanh la: A!
Sư hỏi:
- Ông thấy cái đạo lý gì?
Vị Tăng làm bài tụng đáp:
Giọt nước đầu thềm
Rõ ràng từng giọt
Ðập vỡ càn khôn
Ngay đó tâm tuyệt.
*
Hòa thượng Ðộng Sơn Sơ lúc mới tham vấn Vân Môn.
Vân Môn hỏi:
- Vừa từ đâu đến?
Sư thưa:
- Từ Tra Ðộ đến.
- Mùa hạ rồi ông ở đâu?
- Chùa Báo Từ ở Hồ Nam.
- Rời chỗ ấy vào lúc nào?
- Ngày 25 tháng 8.
- Tha ông ba gậy.
Ngày hôm sau, Sư đến thưa hỏi:
- Hôm qua nhờ Hòa thượng tha cho ba gậy, mà con chẳng biết lổi ở chỗ nào?
- Cái túi cơm! Giang Tây, Hồ Nam thế ấy hử!
Ngay lời này, Sư liền đại ngộ và nói:
- Về sau, con sẽ đến chỗ không người, chẳng chứa một hạt gạo, chẳng trồng
một cọng rau, tiếp đãi người mười phương tới lui để tháo đinh mở chốt, lột cái khăn thịt mỡ, cởi cái áo sương thúi cho họ và dạy họ thênh thang phóng khoáng làm nạp tăng vô sự, há chẳng khoái sao?
Vân Môn nói:
- Thân ông lớn bằng trái dừa mà mở miệng to như thế.
Sư liền lễ bái.
*
Tôn giả Nghiêm Dương lúc mới đến tham Triệu Châu, hỏi:
- Lúc một vật chẳng đem đến thì thế nào?
Triệu Châu đáp:
- Buông hết đi.
- Ðã là một vật chẳng đem đến thì lấy cái gì để buông hết?
- Buông chẳng được thì gánh đi!
Ngay lời này, Sư liền đại ngộ.
*
Có vị Tăng hỏi Thiền sư Quy Tông Thức Nhãn:
- Phật là gì?
Quy Tông đáp:
- Ta nói với ông, ông có tin không ?
- Lời thật của Hòa thượng, con đâu dám không tin.
- Chỉ là chính ông vậy.
- Tăng nghe lời Ngài nói, suy nghĩ giây lát rồi thưa:
- Con là Phật, còn bảo nhậm như thế nào?
- Một khi con mắt bệnh thì hoa đốm lăng xăng.
Ngay lời này, Tăng hốt nhiên khế ngộ.
*
Pháp Nhãn đã từng tham Ðịa Tạng. Một hôm, Ngài trình kiến giải nói về đạo lý.
Ðịa Tạng nói với ngài rằng:
- Phật pháp chẳng phải như thế.
Sư thưa :
- Con đã hết lời cùng lý rồi.
Ðịa Tạng bảo:
- Nếu luận về Phật pháp thì tất cả sẵn sàng.
Ngay lời này, Pháp Nhãn đại ngộ.
*
Thiền sư Hương Nghiêm Nhàn đến tham Quy Sơn.
Quy Sơn hỏi:
- Ta nghe nói ông ở chỗ Tiên sư Bá Trượng hỏi một đáp mười, hỏi mười đáp
trăm. Ðó là sự thông minh lanh lợi của ông. Ý giải thức tưởng là căn bản sanh tử. Lúc cha mẹ chưa sanh, ông thử nói một câu xem?
Sư bị câu hỏi này làm mờ mịt. Trở vê, liền đem những văn tự bình nhật đã xem dò
lại để tìm một câu đối đáp, rốt cuộc không được, bèn than:
- Bánh vẽ không no được bụng đói.
Một hôm cuốc cỏ, ngẫu nhiên Sư ném một viên ngói chạm vào cây trúc vang lên một tiếng. Sư hốt nhiên tỉnh ngộ.




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/04/2013(Xem: 6222)
Làng Mã Châu của tôi là một ngôi làng nổi tiếng về nghề nuôi tằm, ươm tơ và dệt lụa. Những ngày còn nhỏ, tôi thích đứng xem người lớn nuôi tằm. Nhìn những con tằm nhỏ li ti, bám vào những chiếc lá dâu xanh, nhả những sợi tơ trắng mong manh, cho đến khi trở thành những con nhộng cuộn tròn trong cái kén. Qua đó, tôi cảm nhận sự kỳ diệu của một quá trình sinh diệt không cùng của vạn vật.
10/04/2013(Xem: 23200)
Quý vị đang cầm trên tay quyển "Đại Đường Tây Vức Ký" được chuyển dịch từ chữ Hán sang tiếng Việt là do kết quả của sự miệt mài dịch thuật của chúng tôi từ ngày 24 tháng 10 năm 2003 đến ngày 10 tháng 12 năm 2003 tại Tu Viện Đa Bảo, Úc Đại Lợi nhân mùa nhập thất lần đầu tại đây.
10/04/2013(Xem: 4705)
Đúng vào hôm tôi vừa ở Phật Học Đường Báo Quốc về thì Vĩnh đến thăm. Anh đến mang cho tôi một chồng sách Phật viết bằng tiếng Pháp mà anh mới gởi mua ở tận xứ xa. Anh cũng không quên mang tặng chú Tâm Mãn một cuốn tự điển Pháp Việt mới xuất bản, bởi vì anh biết chú Mãn đang cần cuốn này để học thêm Pháp văn.
10/04/2013(Xem: 18185)
Tập truyện Phật giáo này, gồm trên 70 câu truyện, rút từ các kinh, luật và luận, hoặc những chuyện mắt thấy tai nghe, có liên quan đến Phật giáo, cũng đem vào. Tập truyện này viết theo ký ức, nên không nhớ nhân danh, địa danh và thời gian. Mong chự vị độc giả thông cảm cho.
10/04/2013(Xem: 21689)
Tác phẩm “ Life and Teaching of the Masters of the Far East » (1935) ”, hồi ký của Dr. Blair T. Spalding (1857 – 1953) Một phần của hồi ký đã được Nguyên Phong chuyển ngữ với tựa đề “Hành Trình Về Phương Đông”
10/04/2013(Xem: 17064)
Ngôi chùa Sắc Tứ Hưng Phước Tự nằm trên một triền đồi thoai thoải, mặt chùa quay ra hướng đông nam hướng về phía biển đông. Lưng chùa tựa sát vào vách núi. Chung quanh là những điện đường ngang dọc, xây theo lối cổ tự ngày xưa. Đây là một chùa bề thế được bao đời chúa Nguyễn sắc phong cho các vị trụ trì tiền nhiệm tại đó. Nên trong lòng ai cũng cung kính nể vì. Lý do là chùa xây dựng rất đúng với thuật phong thuỷ.
10/04/2013(Xem: 5728)
Trong mùa xuân của thời thơ dại Anselm thường thơ thẩn chạy khắp khu vườn xanh lá cây. Cậu bé yêu đặc biệt một loài hoa trong các hoa của mẹ : Hoa Huệ Kiếm
10/04/2013(Xem: 15383)
Ngay từ khi tôi còn thơ ấu, Ba vẫn thường kể câu chuyện về Kim Các Tự cho tôi nghe. Tôi ra đời trên một mũi biển hiu quạnh nhô ra ra biển Nhật Bản ở phía đông bắc Maizuru. Tuy nhiên, nguyên quán của Ba không ở đây mà ở Shiraku, miền ngoại ô phía đông thành phố Maizuru. Ba được thúc đẩy gia nhập giáo hội và trở nên tu sĩ trụ trì một ngôi chùa tên một mỏm đất xa xôi. Ba lập gia đình ở nơi này và sinh ra một đứa con trai, ấy chính là tôi vậy.
10/04/2013(Xem: 20929)
Ðạo vốn vô ngôn; do ngôn mà hiển đạo, thế nên có mạn lục, có bảo huấn, có bút ngữ, có võ khố. Nay đây, có Hòa thượng Văn Thủ, tự Nhất Ty (1607 – 1648) người nước Nhật Bản, lúc đầu ở ẩn nơi Tây Cương thuộc đất Lạc Tây, về sau Ngài về núi Ðan mai danh ẩn tích. Nhưng các hàng xuất gia khắp chốn hải hồ tìm đến bên Ngài kết am tranh tu học số đông không kể xiết.
10/04/2013(Xem: 8237)
Trước vòm cung hình bán nguyệt có những cột trụ đôi chống đỡ, lối vào tu viện Thánh Ân, một cây giẻ - đứa con độc nhất của miền Nam mà ngày xưa một thầy dòng từ La-Mã mang đến - vươn lên ngay bên vệ đường, thân mình cường tráng. Tàng cây tròn trải ra trùm trên mặt đường trong một dáng điệu trìu mến và thở nhẹ trong gió như một lồng ngực đang phập phồng. Về mùa Xuân, trong khi vạn vật quanh nó đã xanh rờn và những cây phỉ của tu viện cũng đã khoác lại bộ lá non màu hung, mùa trổ lá cây giẻ này vẫn còn phải đợi rất lâu.