Thiền Môn Thư Giản

21/06/201314:19(Xem: 11173)
Thiền Môn Thư Giản

Góp nhặt lá Bồ Đề.

Thiền Môn Thư Giản

Hòa thượng Thích Tịnh Nghiêm

Nguồn: Hòa thượng Thích Tịnh Nghiêm

Ai Tra Cái Cán Vào

Xưa, có hai thầy trò. Một hôm thầy tỳ kheo đi cúng. Thầy viết sớ tên thí chủ tên Tròn. Chữ Hán không có chữ tròn nên thầy mới vẽ một vòng tròn.
Chú đệ tử coi sớ lại thấy vòng tròn tưởng thầy viết chữ chữ trung thiếu sổ giữa, chú liền viết thêm sổ giữa.
Đến lúc khai kinh đọc sớ, thầy đọc tên trai chủ Nguyễn Thị Gáo. Cô trai chủ nói, "Tên con là Tròn chứ không phải Gáo."
Thầy nói, "Mới đây mà ai tra cái cán gáo vào?"
Chú đệ tử ngồi sau bụm miệng mà cười.

Lộn Sớ

Thầy trụ trì cùng các Phật tử đi cúng thất cầu siêu. Tụng chú Đại Bi xong thầy xướng sớ.
Phật tử nam quỳ xuống đọc hai câu rồi ngừng, mồ hôi ra nhuễ nhoại. Thầy trụ trì mới biết chuyện xướng rằng, "Lộn sớ … Đợi một chú …"
Quý Phật tử hộ niệm quỳ ở sau tức cười quá chịu không được đành lạy xuống úp mặt cười rung cả vai.
Do Thầy trụ trì xướng lộn sớ nên ai cũng cười.

Quên Tán

Tới ngày cúng thất thứ 49 của ông thầy cúng, quý thầy quen thân đến cúng dùm.
Đến khi làm lễ khai kinh, chuông mõ, nhịp tán đã đánh lên nhưng thầy chủ sám lại quên không biết bắt bài gì.
Cô tín chủ thấy lâu quá bèn khóc lóc và kể rằng, "Thầy tôi khi còn sống, mỗi khi làm lễ thì mặc áo, đắp y, đội mũ và tán bài Dương Chi …" Quý thầy ấy liền bắt ấn tịnh thủy rồi "ý a ý a" tán theo.
Cô tín chủ lanh trí đã gỡ dùm cho thầy chủ sám.

Chứng Minh Cho Chồng Chị

Một cô thí chủ có chồng đã chết. Đến tuần thất thứ 49 ngày, cô rước thầy về cúng cầu siêu cho chồng.
Đến khi làm lễ khai kinh, quý thầy tán, "Nam Mô Chứng Minh Sư Bồ Tát."
Cô thí chủ quỳ ở sau khóc kể, "Chồng con chết, con sắm sửa lễ vật hoa quả để Phật chứng minh tiếp độ cho linh hồn chồng con, sao quý thầy cầu Phật chứng minh cho quý thầy? Chồng con làm sao siêu độ. Hu hu hu …"
Quý thầy lanh trí liền tán, "Nam Mô chứng minh cho chồng chị …"
Cúng xong quý thầy về chùa thuật lại cho quý thầy khác nghe, ai cũng cười.

Tây An Tiếp Độ Vong Hồn

Ngày xưa, ở miền Nam có một gia đình hai chị em. Bà mẹ mới qua đời nên hai cô rước thầy và mỗi tuần đều rước thầy về cúng như vậy. Bà chị biết lễ nghĩa nên mỗi lần thỉnh thầy làm lễ khai kinh, bà đều có làm khay lễ để một lư trầm và 50 đồng tiền lễ.
Hôm cúng thất thứ ba, bà chị bận công việc đi khỏi không có ở nhà. Bà dặn người em ở nhà thỉnh thầy cúng thất. Bà em không biết nghi lễ nên không có làm khay lễ.
Tới chừng thầy làm lễ cúng, thầy đọc, "Nam mô Tay An tiếp độ vong hồn."
Bà em nói, "Thưa thầy, Tây Phương tiếp độ vong hồn chớ sao lại Tây An tiếp độ vong hồn hở thầy?"
Thầy cúng nói, "Đi Tây An còn có tiền mới đi được, huống chi là Tây Phương."
Bà em hiểu ra xin sám hối. Thầy mới đọc lại, "Nam Mô Tây Phương tiếp độ vong hồn."

Thầy Để Con Ở, Thầy Trở Con Đi

Xưa kia có một vị thầy thường ăn mặn. Mỗi khi thầy ăn thì có chú thị giả đứng sau quạt hầu thầy. Chú thị giả ăn cái mâm thầy ăn còn lại.
Hôm ấy, bà cô ở chùa dọn lên chỉ có một con cá vừa vừa. Thầy ăn hết một phía rồi muốn trở phía kia. Chú thị giả đứng sau nói, "Thầy để con ở, thầy trở con đi."
Ngày xưa, phàm làm thầy thì không ăn hết mà phải để lại cho thị giả.

Hai Cái Bánh Ít

Có một ông thầy đi cúng đám cho thí chủ, dắt ông điệu đi theo.
Bà thí chủ thấy chú thị giả dễ thương, lúc cúng xong cho chú hai cái bánh ít, bỏ vào túi áo.
Ông thầy muốn lấy hai cái bánh ít này nên khi đi về trên đường ông kiếm chuyện kiếm chuyện bắt lỗi. Ông nói với ông điệu, "Tao là tù phạm hay sao mà mầy đi sau mầy giữ?" Ông điệu liền đi trước.
Ông thầy lại nói, "Mầy là thầy tao hay sao mà mầy đi trước?" Ông điệu lại đi ngang thầy.
Ông thầy lại bảo, "Mầy là bạn tao hay sao mà đi ngang tao?" Ông điệu không biết làm sao bèn đứng khóc.
Ông thầy nói, "Không khóc gì hết, đưa hai cái bánh ít đây rồi đi cách nào cũng được."
Không lẽ ông thầy mà còn láu ăn với đệ tử vậy sao?

Ông Phật Có Râu

Ngày xưa thí chủ thỉnh thầy cúng cũng có tụng Kinh Quan Thánh và Kinh Ông Táo nên có tượng Quan Thánh và tượng ông Táo.
Hôm ấy ông thầy sai chú điệu lấy chuông, mõ, kinh, tượng để đi cúng đám cho thí chủ. Ông điệu liền lấy kinh, tượng, chuông, mõ bỏ vào trong một cái xách. Hai thầy trò lên đường.
Khi đến nhà thí chủ soạn ra, mới biết chú điệu đem lộn tượng ông Táo mặt đen và có râu dài. Ông thầy biết lỡ rồi nên ông đành phải dùng tượng ông Táo. Khi thầy lấy tượng ông Táo bỏ lên bàn cúng, bà thí chủ thấy vậy hỏi, "Thưa thầy, kỳ trước ông Phật đẹp, sao kỳ này ông Phật mặt đen hở thầy?"
Ông thầy trả lời, "Kỳ trước ông Phật còn trẻ nên đẹp. Kỳ này ông Phật già đi nắng nên đen, và già thì phải có râu."
Khi khai kinh xong, ông thầy lấy kinh ra xướng lễ để lạy Phật sám hối. Nhưng chú điệu đem lộn cuốn kinh lịch đại chữ Hán. Ông thầy cũng vẫn xướng lễ, sám hối. Thầy lạy, "Nam mô tháng Giêng Phật, Nam Mô tháng Hai Phật. Nam mô tháng Ba Phật, Nam mô tháng Tư Phật …" Ông điệu nghe tức cười quá liền bỏ ra ngoài cười.
Ông thầy lạy một hồi nóng nực, xoay lại bảo "Ông điệu đâu, sao không quạt, nóng quá!"
Bà thí chủ lạy ở sau nói "Ông điệu đi ra hồi tháng Tư, bây giờ đến tháng Tám thầy mới hỏi."

Con Mèo Niệm Phật

Ngày xưa, có một ông thầy nuôi hai cô đệ tử. Một hôm thầy phải đi xa nhập hạ ba tháng.
Trước khi đi, thầy dặn hai cô đệ tử, "Ở nhà lo công việc chùa, hai thời công phu bái sám. Đừng ngủ, bỏ tụng kinh mà có tội."
Thầy lại đưa cho mỗi cô một xâu chuỗi trường và dạy rằng, "Các con ở nhà siêng niệm Phật, khi thầy về chuỗi đứa nào bóng láng sẽ được thưởng, chuỗi đứa nào không bóng sẽ bị quở phạt."
Một cô vâng lời thầy, siêng năng niệm Phật nên chuỗi láng. Còn một cô ăn rồi đi chơi nhưng sợ chuỗi không láng khi thầy về la rầy nên cô thường lấy dầu bôi vào chuỗi, vuốt chuỗi cho láng.
Con mèo đánh hơi thấy dầu liền tha vào xó liếm. Mấy con chuột thấy vậy nói với nhau rằng: "Chị mèo kỳ này tu rồi, chị niệm Phật coi dễ thương lắm, chúng ta lại gần chơi với chị.
Khi các con chuột đến gần, con mèo bỏ chuỗi chụp chuột. Chuột vừa chạy vừa la, "Chị mèo tu giả! Chị mèo tu giả!"

Niệm Phật Bị Đánh

Có một cô tín nữ tin Phật nên thường tụng kinh niệm Phật. Cô có đứa bé gái độ mười tuổi, thường theo cô vui chơi. Khi cô tụng kinh niệm Phật, nó không biết chơi với ai, thường đứng bên ngoài nhìn vô. Khi cô tụng kinh xong rồi niệm Phật. "Nam Mô A Di Đà Phật." Nó đứng ngoài nó kêu, "Má!" Cô xoay lại nguýt nó.
Rồi cô trở vô tiếp tục niệm Phật. Nó lại kêu "Má!" một tiếng nữa. Cô xoay lại lườm nó!
Một lát nó lại kêu, "Má!" lần nữa. Cô đứng dậy tát nó một tát. Nó ra ngoài vừa khóc vừa nói, "Má kêu Phật không biết bao nhiêu tiếng nhưng không sao. Còn con kêu má có ba tiếng, má lại đánh con!"
Vì thế có người nói, "Niệm Phật nhiều Phật sẽ giận. Như mình kêu tên ai, kêu hoài họ sẽ giận.
Xin thưa, Phật đã chứng Phật quả nên không còn phiền não, không còn giận. Niệm Phật càng nhiều càng tốt. Hơn nữa, chữ "Nam Mô" là cung kính đảnh lễ, và chữ "A Di Đà" là tên của Phật A Di Đà. Niệm danh hiệu Phật với tâm thành, cung kính đảnh lễ thì được phước vô lượng.

Nam Mô Xa Cạ Phật

Một bà già đến chùa lễ Phật. Khi bà đứng trước bàn Phật, bà thấy Phật nhiều quá, làm sao vái lạy cho hết đây?
Bà mới chắp tay và vái, "Nam mô Phật đồng, Phật gỗ, Phật thổ, Phật xi măng, và Nam mô xa cạ Phật." (Xa cạ nghĩa là tất cả) Chú điệu đứng đánh chuông liền bụm miệng mà cười.
Một lần khác, bà già đến chùa mang theo một nải chuối chín. Bà thấy nhiều Phật quá. Nếu để một chỗ thì các Phật khác ở xa không có nên bà đến trước mỗi đức Phật, bà xá một cái và để một trái chuối.
Bà để chuối hết các đức Phật nhưng khi đến bàn Phật sơ sanh thì hết chuối. Bà nói, "Ba thiếu phần của cháu rồi! Hẹn kỳ sau nhé."
Chú điệu nói, "Đó là Phật sơ sanh."
Bà nói, "Vậy hả, tôi đâu có biết."

Anh Ba Tàu Hủ

Có một ngôi chùa ở đầu làng. Trụ trì ngôi chùa này là một vị đại đức trung niên xuất gia.
Thầy xuất gia với lòng tính kính Tam Bảo. Vì đi tu lớn tuổi nên không được học trường lớp Phật pháp, sự hiểu biết của thầy có giới hạn.
Gần chùa có ông cư sĩ học Phật thường tới chùa gạn hỏi Phật pháp. Thầy không trả lời thì không được, nhưng trả lời thì không vừa ý ông ta. Vì vậy mỗi khi thấy ông cư sĩ đến thì thầy lánh mặt.
Trước chùa có anh Ba bán tàu hủ. Một hôm thầy đến nói chuyện cho anh Ba tàu hủ nghe về vấn đề ông cư sĩ cứ đến nạn vấn làm thầy phiền phức. Anh Ba tàu hủ nói, "Thầy để cho con. Bữa nay ông cư sĩ có đến không?" Vừa nói xong, xa xa thấy ông cư sĩ đến.
Anh Ba tàu hủ liền mượn áo, y, mũ của thầy khoác vào, lên chánh điện ngồi thiền, xoay mặt qua một bên. Ông cư sĩ đến, liền lên chánh điện lạy Phật. Thấy có vị tăng đang ngồi thiền, tướng mạo trang nghiêm, ông liền đảnh lễ hỏi đạo.
Ông cư sĩ đưa một ngón tay. Vị thiền sư đưa ra ba ngón tay. Ông cư sĩ đưa ba ngón tay. Vị thiền sư liền đưa năm ngón tay. Ông cư sĩ cúi đầu bái phục ra về. Gặp thầy trụ trì, ông nói, "Hôm nay chùa mình có cao tăng. Con hỏi đạo, ngài trả lời thật xác thực.
Thầy trụ trì hỏi, "Thiền sư trả lời thế nào?"
Ông cư sĩ nói, "Con hỏi phải làm sao được nhất tâm, Thiền sư trả lời phải quy y Tam Bảo."
Con hỏi, "Làm sao phát huy ngôi Tam Bảo? Thiền sư dạy phải giữ ngũ giới. Như thế ngài trả lời xác thật quá. Chùa mình từ nay có cao tăng, con không dám quấy rầy thầy nữa." Nói xong, ông chào thầy ra về.
Anh Ba tàu hủ cởi y, hậu, mũ trả cho thầy trụ trì và nói, "Ông cư sĩ thua con rồi, từ nay ông không đến quấy rầy thầy nữa."
Thầy trụ trì hỏi, "Anh Ba tàu hủ trả lời sao mà ông cư sĩ phục anh vậy?"
Anh Ba tàu hủ nói, "Có gì đâu. Ông cư sĩ hỏi mua một miếng tàu hủ là bao nhiêu? Con trả lời giá ba đồng.
Ông hỏi nếu mua ba miếng thì bao nhiêu? Con nói, nếu là Phật tử con bán rẻ năm đồng. Thế nên ông bằng lòng ra về, bữa sau sẽ mua."
Thầy trụ trì ngạc nhiên nghe anh Ba tàu hủ nói vậy, ôm bụng mà cười.
~ HẾT ~



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
24/01/2015(Xem: 6577)
Mỗi sáng sớm khi sương còn mù mịt trên sông, chiếc thuyền con của lão già đã là đà rẽ nước, hướng về bờ – lúc thì bờ đông, lúc thì bờ tây, nơi những ngôi nhà tranh và những chiếc ghe nhỏ tụ tập. Mái chèo khua nhè nhẹ như thể sợ động giấc ngủ của thế nhân. Chẳng ai biết chắc lão có gia đình, nhà cửa ở đâu hay không. Nhưng người ta có thể đoán chiếc thuyền con ấy chính là nhà của lão, vì lão phơi thuốc, xắc thuốc, nấu thuốc ngay trên đó. Trên thuyền không còn ai khác. Ban đêm, thuyền của lão neo ở đâu không ai biết, nhưng sáng sớm thì thấy lù lù xuất hiện trên sông hoặc nơi bờ cát. Lão già đến và đi, một mình. Mỗi ngày xách cái túi nhỏ rời thuyền, thường là đi hái thuốc trên núi, ven rừng, bờ suối, có khi vào làng chữa bệnh cho bá tánh rồi ghé chợ mua vài thứ lĩnh kĩnh.
21/01/2015(Xem: 13454)
1. Chân như đạo Phật rất mầu Tâm trung chữ Hiếu niệm đầu chữ Nhân, Hiếu là độ được song thân Nhân là cứu độ trầm luân muôn loài. 5. Thần thông nghìn mắt nghìn tay Cũng trong một điểm linh đài hóa ra,
16/01/2015(Xem: 5194)
Sau 30-4-75, tất cả giáo chức chúng tôi đều phải đi học tập chính trị trong suốt 3 tháng hè mà họ gọi nôm na là "bồi dưỡng nghiệp vụ". Một buổi chiều sau mấy ngày "bồi dưỡng", tôi đạp xe lang thang qua vùng Trương minh Giảng, tình cờ gặp Báu - một người học trò năm xưa, rất xưa, đang ngơ ngẩn đứng trước cửa nhà. Dừng xe đạp, tôi chào: - Báu hả? Phải em là Trương thị Báu không? Có nhớ ra cô không? Báu giương mắt nhìn tôi, nhìn đi nhìn lại rồi nghiêng đầu lại nhìn...Em không nhớ nổi... Tôi đã thoáng thấy được một tâm thần bất thường qua thần sắc cũng như qua đôi mắt trống rỗng vô hồn!
16/01/2015(Xem: 6446)
Năm 1954 ông Thiện khăn gói đùm đề đưa mẹ, vợ và hai đứa con gái xuống con tàu há mồm vào Nam.Trên bờ, Thụ, người em trai của ông còn đưa tay vẫy vẫy. Đêm hôm qua, ông và người em trai bàn rất nhiều về chuyến ra đi này.Người em nói: - Đất nước đã hòa bình, độc lập, anh nên ở lại, dù gì cũng là nơi chôn nhau cắt rốn.Vào Nam xứ lạ quê người, chân ướt chân ráo trăm bề khổ sở... Ông Thiện đã trả lời em:
15/01/2015(Xem: 6497)
Trong cả thành phố này, anh chị chỉ có tôi là chỗ thân nhất, vừa là thầy vừa là bạn. Buổi sáng anh gọi phone bảo trưa nay đến đón tôi về nhà dùng cơm cho vui. Hôm nay là sinh nhật của thằng Alexander con một của anh chị.
14/01/2015(Xem: 14337)
Tiếng Hồng chung Phật Học Viện Hải Đức Nha Trang nói riêng và các chùa trong thành phố Nha trang nói chung, sớm khuya ai cũng có thể nghe được, nhưng nghe để “Trí tuệ lớn” và “Bồ-đề sinh” thì tùy theo “phiền não” của đối tượng nghe có vơi nhẹ hay không? Riêng với nhà văn Võ Hồng, qua tác phẩm “Tiếng chuông triêu mộ” cho thấy Trí tuệ và Bồ đề của ông sanh trưởng tốt. Nhưng nhân duyên như thế cũng chưa đủ, ông là giáo sư của PHV, của trường Bồ Đề, là thiện tri thức của các bậc cao Tăng ở đồi Đông và đồi Tây non Trại Thủy. Có thế mới có truyện ngắn “Cây khế lưng đồi”, có tùy bút “Con đường thanh tịnh”. Thưa thầy Võ Hồng, chừng ấy đủ rồi, đủ cho PHV đi vào lịch sử văn học, đủ cho 100 năm sau, 1000 năm sau hay nhiều hơn thế nữa, nhìn thấy PHV uy nghi như một Linh Thứu thời Phật và cũng cho thấy các bậc cao Tăng Miền Trung nói riêng xứng đáng là những Sứ giả Như Lai đầy trách nhiệm đối với sự trường tồn của Phật giáo Việt Nam.
09/01/2015(Xem: 5915)
Tháng 10 năm 1962, TT Chủ Tịch Ủy Ban Liên Phái… nhờ Tôi đi công tác Vũng Tàu, Tôi đi chuyến xe đò lúc 8g30 sáng, xe chạy vừa khỏi hãng xi-man Hà Tiên, thì có 3 người đón xe. Anh tài xế nói với tôi : “Thầy vui lòng xuống hàng ghế phía dưới để cho “mấy cha”ngồi, vui nghen Thầy”! Tôi lách mình qua khoản trống thì có 2 vị đưa tay đón và đở nhường chỗ ngồi còn nói lớn: “Ngộ ha, cha quí hơn Thầy “! Tôi sợ gây chuyện không vui, nên đưa tay và lắc đầu xin yên lặng. Vì đương thời bấy giờ bóng dáng của các áo đen có nhiều sát khí thế lực! Nhưng, Mộc dục tịnh, nhi phong bất đình 木欲淨而風不亭.Xe chạy êm ả, gió lùa mát rượi.
26/12/2014(Xem: 19336)
Phât tử Chơn Huy ở Hoa Kỳ về có đem theo tập tự truyện dày của Tỳ Kheo Yogavacara Rahula. Cô nói truyện rất hay, khuyên tôi đọc và nhờ tôi dịch ra Việt ngữ để phổ biến trong giới Phật tử Việt Nam. Câu chuyện rất lý thú, nói về đời của một chàng trai Mỹ đi từ chỗ lang bạt giang hồ đến thiền môn. Truyện tựa đề "ONE NIGHT'S SHELTER (From Home to Homelessness)--The Autobiography of an American Buddhist Monk". Tôi đọc đi rồi muốn đọc lại để thấu đáo chi tiết trung thực của một đoạn đời, đời Thầy Yogavacara Rahula. Nhưng thay vì đọc lại, tôi quyết định dịch vì biết rằng dịch thuật là phương pháp hay nhứt để hiểu tác giả một cách trọn vẹn. Vả lại, nếu dịch được ra tiếng Việt, nhiều Phật tử Việt Nam sẽ có cơ duyên chia sẻ kinh nghiệm quý báu của Thầy Rahula hơn.
06/12/2014(Xem: 4888)
T huở nhỏ tôi mồ côi bố sớm, ở vào cái tuổi con nít vừa mới chập chững biết đi chưa nói được câu gọi bố lần đầu, bố tôi đã đi về miền cát bụi. Sự ra đi của ông đột ngột quá, còn trẻ quá mới 27 tuổi đầu làm sao không để lại bao luyến tiếc cho người ở lại. Dĩ nhiên mẹ tôi là người chịu nhiều đau đớn nhất, mới lấy chồng được hai năm cộng thêm đời chiến binh nên chỉ ở gần chồng vỏn vẹn có một tháng là nhiều. Con thơ còn bế ngửa trên tay, đầu quấn khăn tang người chồng yêu quí, đã phải xách tay nải leo lên chiếc thuyền viễn xứ nhổ neo lên đường như một bài hát nào đó.
01/12/2014(Xem: 17510)
Nguyên gốc tác phẩm này là của Genro, một Thiền sư thuộc tông Tào động Nhật Bản, viết và xuất bản năm 1783. Mỗi câu chuyện là một công án mà tác giả đã có lời bình và kệ đi kèm. Fugai, người thừa kế Genro, thêm nhận xét của sư, câu đối câu, vào sách của thầy. Tôi sẽ dịch các câu chyện hay tắc, gồm cả lời bình của Genro và nhận xét của Fugai trong hầu hết các câu chuyện để tham khảo. Có khi gặp bài kệ cũng dịch để khuyến khích học tập.