Lầm mà hóa hay

14/05/201317:43(Xem: 13548)
Lầm mà hóa hay
Chuyện Bình Thường


Lầm Mà Hóa Hay

Thích Chân Tính
Nguồn: Thích Chân Tính


Con đường từ thành phố về Hóc Môn chỉ khoảng hai chục cây số, quá gần đối với tôi trước đây thế mà hôm nay lại xa thăm thẳm. Mười năm về trước, cũng trên chiếc xe đạp này tôi đã vượt qua những chiếc xe đạp chạy cùng chiều với mình mà chẳng biết mệt nhọc là gì, trái lại càng thích thú hăng say thêm nữa. Nhìn những cô gái, những ông già đạp xe cà rì cà rề với dáng vẻ nặng nề tôi lấy làm quái lạ và cười thầm: Đạp xe gì mà như người đi bộ không khác! Vậy mà hôm nay, cũng trên chiếc xe đạp thuở ấy, cũng trên con đường mà tôi từng ngạo nghễ tự hào về thần tốc lực của mình, tôi lại đạp xe một cách nhọc mệt, hai chân nhức mỏi rã rời, xe thì nặng nề như có ai ghì lại, đường cứ thấy xa mãi ra. Càng mệt mỏi bao nhiêu tôi lại càng thấy thương những người mình coi khinh trước kia bấy nhiêu và càng thấm thía bài học nhân quả hơn nữa. Thấy những cô gái, những ông già lần lượt qua mặt mình, tôi chạm tự ái và cố dốc toàn bộ sức lực để vượt lên trên họ. Cố gắng được một lát thì đôi chân rã rời đạp hết nổi. Nhìn họ cứ xa dần, tôi tự an ủi: Ôi! Đi trước đi sau gì cũng đến nơi tội gì phải đạp nhanh cho mệt, cứ tà tà như vậy vừa khỏe lại vừa được ngắm cảnh nữa có phải thích hơn không?

Tuy vậy, trong cái rủi lại có cái may, nhờ đạp xe chậm chạp mà hôm nay tôi mới khám phá ra chân lý nhìn cảnh vật đúng “như thật” của nó. Mặc dù hiện tại ngoài những căn nhà mới xây, những hàng cây xanh tươi mới trồng, những công trình mới đang được xây dựng ra, còn lại toàn bộ những cảnh vật dọc theo hai bên lộ quá quen thuộc và tồn tại hàng chục năm nay, vậy mà bây giờ nhìn nó tôi cứ ngỡ là mới gặp lần đầu. Quả thật các Tổ ngày xưa vẫn cho mình là sống trong ảo tưởng chứ ít chịu sống thực là quá đúng. Ăn không biết mình ăn, đi trên con đường này hằng bao nhiêu chục lần rồi mà cứ tưởng như là chưa bao giờ đi. Tâm đắc ý này, tôi say sưa quan sát cảnh vật, lòng cảm thấy vui vui với những điều mình mới khám phá. Nhìn những thay đổi và phát triển của xã hội dọc theo suốt con đường, tôi nghĩ đến chùa mình cũng sẽ sung túc như vậy.

Sau hơn một giờ đồng hồ tôi mới về đến chùa. Ngừng xe trước cổng tôi cảm thấy như trút được tất cả gánh nặng trên vai. Bao nhiêu ồn ào náo nhiệt của thành phố đã tạm lắng dịu tại đây. Đưa mắt quan sát sơ một vòng chùa tôi hơi ngạc nhiên khi thấy cảnh vật có vẻ khác thường; chung quanh chùa xây tường kín mít, những cây điều bị chặt nằm ngổn ngang, đồ đạc không thấy bày biện như trước, các chậu cảnh quý cũng biến đâu mất, không khí có vẻ u buồn. Tôi dắt xe vào nhà khách mà lòng đầy nghi vấn. Vài ba con chó nhào ra chào tôi bằng những tiếng sủa dữ dội. Bác Tửu từ trong nhà khách bước ra lên tiếng la nó khi nhìn thấy tôi và lũ chó dần im tiếng. Tôi dựng xe đạp và tiến đến hỏi thăm:

- Bác Tửu, lúc này bác khỏe chứ?

- Cám ơn, tôi vẫn khỏe, sao lâu quá không thấy thầy về thăm chùa vậy?

Ông mừng rỡ bước ra đón tôi.

- Dạ, lúc này bận học quá bác ạ! Sư Cụ có khỏe không bác?

- Khỏe. Thầy ngồi dùng nước nghỉ ngơi một tí rồi hãy vào thăm Cụ.

Ông rót nước ra mời.

Ngồi nói chuyện với ông một lát, tôi đứng dậy bước ra lu nước rửa mặt. Nhìn chiếc lu bị xây dính trên nền gạch, tôi ngạc nhiên:

- Ủa, xây như vậy làm sao xúc lu?

- Đành chịu như vậy thôi thầy ạ! Mỗi lần xúc lu mình chịu khó múc nước ra hết.

- Mà xây làm chi vậy bác?

Ông thở dài:

- Khổ lắm thầy ơi! Lâu nay thầy không về nên không biết tình hình ở đây đó thôi. Lúc này trộm cắp nổi lên như nấm.

Nghe ông nói tôi mới rõ tại sao chùa lại xây tường kín mít, các chậu kiểng quý và đồ đạc đem cất hết. Nhìn chiếc lu tôi cười nói:

- Nó có lấy thì lấy những thứ gì đáng tiền chứ ba cái đồ sành đồ đất này lấy làm chi, đã nặng nhọc lại bán được bao nhiêu tiền?

- Thôi thầy ơi! Thầy không biết đó, chẳng một thứ gì mà nó chừa cả. Từ những cái nhỏ nhặt bằng mủ như ly, chậu đến cái cánh cổng bằng sắt lớn như vậy mà nó còn rinh được.

Ông đưa tay chỉ một cánh cổng còn lại.

- Trời ơi! Cánh cổng này cầu năm người lực lưỡng chưa chắc đã khiêng nổi.

- Ờ, vậy mà tụi nó đã lấy hết một chiếc rồi đó. Bây giờ bất cứ cái gì bán được tiền là nó ăn cắp. Mới hôm qua nó vào tận nhà bếp rinh cả nồi kho đang nấu đem đi.

- Ban ngày hay ban đêm?

- Ban ngày.

- Chu choa, làm gì mà loạn dữ vậy! Thế chùa không đi báo công an biết à?

- Có chứ! Nhưng thỉnh thoảng họ mới đảo qua thì ăn thua gì.

Nhìn toàn bộ đất đai rộng mênh mông nơi đây, tôi thông cảm và hiểu những khó khăn của chính quyền địa phương.

- Không phải vậy đâu bác! Vì từ chùa đến trụ sở Công an xã quá xa. Nếu tính đường chim bay cũng hơn cả cây số, còn đường xe chạy thì ba cây số. Do vậy mình không thể đòi hỏi họ phải túc trực canh gác tại đây được, vì họ còn việc của họ nữa. Điều hay nhất là mình làm sao kết hợp với dân phòng để bảo vệ thôi.

Ông lắc đầu và cười:

- Dân phòng cũng chẳng ăn thua gì đâu thầy ơi! Hôm trước chùa có nhờ họ giúp đỡ, tối họ cũng xách gậy gộc đi đến đảo đảo vài vòng rồi tìm chỗ làm một giấc đến sáng bét mới về.

Tôi bào chữa:

- Mình cũng thông cảm cho họ thôi. Thời buổi khó khăn này ai cũng phải bươn chải kiếm tiền sinh sống. Quần quật cả ngày, đêm lại phải đi gác thì sức lực đâu mà họ thức cho nổi.

Một con chó màu hung hung nâu, to mập, bộ lông tươi nhuận rất đẹp đến bên chân tôi liếm liếm. Tôi cũng làm quen đưa tay vuốt vuốt đầu nó:

- Thế mấy con chó này đành bất lực trước tụi trộm cắp à?

- Chùa mình rộng quá. Chó ở đầu này thì trộm lẻn vào đầu kia.

- Còn mấy cây điều kia sao chặt uổng vậy bác? Lúc này hạt điều đem đi xuất khẩu bán có giá lắm đó.

- Ấy, vì nó có giá nên tụi nó càng ăn cắp dữ. Cả ngày cả đêm hết tốp này đến tốp khác vào quấy phá la ngăn không nổi. Cuối cùng tôi phải chặt bỏ và chùa mới yên được thế này.

Tôi ngồi nói chuyện với ông một lát rồi lên chính điện lễ Phật. Sau đó vào thăm sư phụ.

Nhìn thầy vẫn hồng hào đẹp lão, tôi mừng thầm và đến bên ngài đảnh lễ. Thầy mỉm cười nhìn tôi, rồi bảo ngồi xuống đó.

- Bạch Sư Cụ vẫn khỏe chứ ạ?

Thầy tôi ngước mắt nhìn như hỏi lại. Biết tai thầy kém nên tôi nhắc lại câu ấy lớn hơn. Thầy tôi lắc đầu nói:

- Mệt!

- Sư Cụ vẫn ăn uống bình thường chứ?

Thầy tôi cũng không nghe rõ, tôi phải la tướng lên lần nữa. Giọng thều thào thầy đáp:

- Khi được, khi không.

Nhìn thầy có vẻ mệt, tôi không dám hỏi nữa, ngồi quạt cho ngài.

Tối đến tôi vào phòng nghỉ. Thấy phòng khóa tôi biết ông Tửu giữ chìa nên đi tìm ông.

Sau khi mở cửa, một con chó lẻn vào phòng trước. Ông Tửu thấy vậy liền la lên:

- Ra ngoài!

Con chó nghe la, cúp đuôi rón rén đi ra. Tôi nhìn kỹ đúng là con chó vừa nãy liếm chân mình.

- Con chó này có tật lạ lắm, hay chui vào phòng nằm. Mỗi lần cho nó ăn tôi phải tìm kiếm hết phòng này đến phòng khác.

- Thế tới giờ ăn nó không ra à?

- Không, nó đã vào phòng ai rồi là kiếm chỗ nằm trốn suốt ngày khỏi ăn cũng được.

Ông nói xong liền đi ra ngoài. Tôi vào phòng quét dọn.

¯
Trời tháng hai âm lịch thật oi ả. Tôi lên giường từ lúc mười giờ và đã nằm hơn một tiếng đồng hồ nhưng vẫn không chợp mắt được, tay cứ phe phẩy chiếc quạt mãi. Đã vậy nằm trên chiếc giường sắt được lót bởi hai tấm ván, mỗi lần tôi trở mình nó đều kêu ken két đến phát bực. Không chịu nổi sự oi bức, tôi định bỏ bớt quần áo ngoài ra ngủ cho thoáng mát, nhưng chợt nhớ đến bài kệ trong “Nghi luật tu trì thiết yếu” do Thầy tôi soạn cho chúng tôi học.

Dù trời nóng nực đến đâu
Cởi trần nằm ngủ ra mầu chẳng trinh
Trong luật ngăn cấm cho mình
Giữ gìn ngăn nắp, vô tình người chê.

Chà, kẹt ghê vậy đó! Nghĩ tới bài kệ này tôi chần chừ không dám hành động, nhưng vì trời nóng nực quá. Cuối cùng tôi đành phải ngụy biện: Thôi kệ, tất cả đều là phương tiện. Giới luật này áp dụng trong những trường hợp ngủ nơi công cộng hoặc chỗ tập thể. Hiện tại một mình một phòng, cửa đóng kín mít như vậy ai mà trông thấy. Giả dụ có người nào gõ cửa gọi thì mình cũng dư thời giờ để mặc quần áo mà! Thế là tôi quyết định mặc quần ngắn nằm ngủ. Tôi cũng không quên xếp bộ quần áo ngoài lại cẩn thận để nơi cuối giường. Quả thật, phương pháp này có hiệu nghiệm, chỉ vài phút sau tôi đã thiếp đi một cách dễ dàng...

Một giờ sau.........

- Kình, kình, kình .........

Đang thiu thiu ngủ tôi chợt nghe tiếng cậy cửa và giật mình thức giấc. Để xác minh thực hư thế nào, tôi nằm im lắng tai nghe:

- Kình, kình, kình .........

Đúng là trộm cậy cửa rồi! Nhưng sao nó lại bạo gan hành động như là không có ai trong phòng vậy? À, có lẽ nó đã do thám kỹ và biết lâu nay mình đi vắng nên mới lẻn vào cậy cửa đây. Tôi định nhào ra mở cửa tóm cổ nó, nhưng sực nhớ đến mình chỉ mặc có mỗi chiếc quần ngắn mà thôi. Nếu nhào ra thì phải la lớn để mọi người thức dậy tiếp sức với mình bắt trộm, mà thân mình thì lại trơ trọi với một bộ xương sống xương sườn nhô ra như vậy, lỡ bà con nhìn thấy thì còn gì là thẩm mỹ nữa! Thôi đành phải mặc quần áo ngoài vào rồi ra cũng còn kịp chán. Tôi nhè nhẹ ngồi dậy nhưng cái giường này bỗng kêu “két” một tiếng. Lúc đó bên ngoài cũng ngưng tiếng cậy cửa và tiếp theo là tiếng “rầm” vang lên. Biết trộm phát hiện ra mình trong phòng nên đã bỏ chạy, tôi mặc vội quần áo vào, nhảy xuống giường, nhào ra mở cửa và la lên:

- Ăn trộm! Ăn trộm!

Tôi vừa la vừa chạy đến chỗ công tắc bật đèn. Bên ngoài nhà khách, ông Tửu nghe tiếng tôi la liền đánh kẻng báo động. Tôi chạy tới chạy lui tìm kiếm và tin chắc nó còn nấp đâu đó, vì vách tường chung quanh cao gần hai thước không dễ gì tẩu thoát lẹ được. Mọi người trong chùa đều thức dậy và kéo ra. Tiếng kẻng báo động vẫn đánh liên hồi. Một phút sau tôi nghe tiếng người la ở phía ngoài:

- Trộm vào chùa bà con ơi! Bắt nó! Bắt nó!

Không mấy chốc, đàn ông, đàn bà, con trai, con gái, mỗi người một chiếc gậy kéo vào đầy cả chùa. Họ chia nhau đi tìm.

Năm phút sau, tôi hơi ngạc nhiên khi thấy có ba anh công an và một anh tổ trưởng an ninh xuất hiện. Họ hỏi thăm lý do và tôi đã thuật lại đầu đuôi sự việc trộm cậy cửa khi nãy. Thế rồi họ cũng tham gia tìm kiếm giúp.

Lục soát gần nửa giờ mà không thấy trộm đâu, mọi người dần tan. Nơi nhà khách mấy anh công an vẫn còn ngồi nói chuyện với bác Tửu.

Tôi trở về phòng và lên giường nằm. Nghĩ đến sự việc vừa xảy ra, tôi nhủ thầm: Phải chi mình đừng coi thường giới luật thì hay biết mấy!

¯
Nửa tháng sau, tôi trở về thăm chùa. Vừa đến nhà khách, ông Tửu gặp tôi mừng rỡ khoe:

- Chùa lúc này tạm yên rồi thầy ạ!

- Vậy hả bác?

- Ờ, nhờ thầy đó.

Tôi mỉm cười. Thấy tôi không tin, ông khẳng định:

- Thật mà! Thầy còn nhớ mấy anh công an không?

- Công an nào?

- Cái đêm mà xảy ra vụ trộm cậy cửa đó.

- À, nhớ rồi!

- Thầy có biết tại sao họ lại có mặt đúng lúc không?

Tôi lắc đầu.

- Thực ra đêm hôm ấy họ đi kiểm tra hộ khẩu những nhà dân gần đó và nghe tiếng kẻng báo động của chùa nên kéo nhau vào. May sao trong ba anh công an đó có một anh là công an huyện. Chứng kiến sự việc và lại được nghe tôi trình bày về tình hình trộm cắp lộng hành ở đây, anh công an huyện hứa là sẽ có biện pháp khắc phục. Vài hôm sau họ cho người đến chùa theo dõi thường xuyên và chỉ hơn một tuần là họ hốt sạch tụi trộm cắp. Từ đó tới nay chùa không còn bị quấy phá và mất cắp gì cả.

- Ồ, vậy thì hay quá!

- Nè, hôm nay tôi mới nói thật cho thầy biết, đêm đó không phải trộm cậy cửa đâu. Chính là con chó mà thầy khen đẹp cậy cửa đó.

- Không, tôi nghe rõ người cậy cửa mà.

Tôi liền thuật lại cặn kẽ sự việc đêm đó cho ông nghe, ông mỉm cười nói:

- Chó tôi nuôi mà tôi không biết tính nó hay sao. Thầy cứ ngủ ở đây vài đêm sẽ rõ.

Tôi trầm ngâm một lát thấy có lý rồi gật gù nói thầm:

- Kể ra lầm mà hóa hay!
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
10/04/2013(Xem: 6222)
Làng Mã Châu của tôi là một ngôi làng nổi tiếng về nghề nuôi tằm, ươm tơ và dệt lụa. Những ngày còn nhỏ, tôi thích đứng xem người lớn nuôi tằm. Nhìn những con tằm nhỏ li ti, bám vào những chiếc lá dâu xanh, nhả những sợi tơ trắng mong manh, cho đến khi trở thành những con nhộng cuộn tròn trong cái kén. Qua đó, tôi cảm nhận sự kỳ diệu của một quá trình sinh diệt không cùng của vạn vật.
10/04/2013(Xem: 23200)
Quý vị đang cầm trên tay quyển "Đại Đường Tây Vức Ký" được chuyển dịch từ chữ Hán sang tiếng Việt là do kết quả của sự miệt mài dịch thuật của chúng tôi từ ngày 24 tháng 10 năm 2003 đến ngày 10 tháng 12 năm 2003 tại Tu Viện Đa Bảo, Úc Đại Lợi nhân mùa nhập thất lần đầu tại đây.
10/04/2013(Xem: 4705)
Đúng vào hôm tôi vừa ở Phật Học Đường Báo Quốc về thì Vĩnh đến thăm. Anh đến mang cho tôi một chồng sách Phật viết bằng tiếng Pháp mà anh mới gởi mua ở tận xứ xa. Anh cũng không quên mang tặng chú Tâm Mãn một cuốn tự điển Pháp Việt mới xuất bản, bởi vì anh biết chú Mãn đang cần cuốn này để học thêm Pháp văn.
10/04/2013(Xem: 18180)
Tập truyện Phật giáo này, gồm trên 70 câu truyện, rút từ các kinh, luật và luận, hoặc những chuyện mắt thấy tai nghe, có liên quan đến Phật giáo, cũng đem vào. Tập truyện này viết theo ký ức, nên không nhớ nhân danh, địa danh và thời gian. Mong chự vị độc giả thông cảm cho.
10/04/2013(Xem: 21689)
Tác phẩm “ Life and Teaching of the Masters of the Far East » (1935) ”, hồi ký của Dr. Blair T. Spalding (1857 – 1953) Một phần của hồi ký đã được Nguyên Phong chuyển ngữ với tựa đề “Hành Trình Về Phương Đông”
10/04/2013(Xem: 17064)
Ngôi chùa Sắc Tứ Hưng Phước Tự nằm trên một triền đồi thoai thoải, mặt chùa quay ra hướng đông nam hướng về phía biển đông. Lưng chùa tựa sát vào vách núi. Chung quanh là những điện đường ngang dọc, xây theo lối cổ tự ngày xưa. Đây là một chùa bề thế được bao đời chúa Nguyễn sắc phong cho các vị trụ trì tiền nhiệm tại đó. Nên trong lòng ai cũng cung kính nể vì. Lý do là chùa xây dựng rất đúng với thuật phong thuỷ.
10/04/2013(Xem: 5728)
Trong mùa xuân của thời thơ dại Anselm thường thơ thẩn chạy khắp khu vườn xanh lá cây. Cậu bé yêu đặc biệt một loài hoa trong các hoa của mẹ : Hoa Huệ Kiếm
10/04/2013(Xem: 15383)
Ngay từ khi tôi còn thơ ấu, Ba vẫn thường kể câu chuyện về Kim Các Tự cho tôi nghe. Tôi ra đời trên một mũi biển hiu quạnh nhô ra ra biển Nhật Bản ở phía đông bắc Maizuru. Tuy nhiên, nguyên quán của Ba không ở đây mà ở Shiraku, miền ngoại ô phía đông thành phố Maizuru. Ba được thúc đẩy gia nhập giáo hội và trở nên tu sĩ trụ trì một ngôi chùa tên một mỏm đất xa xôi. Ba lập gia đình ở nơi này và sinh ra một đứa con trai, ấy chính là tôi vậy.
10/04/2013(Xem: 20929)
Ðạo vốn vô ngôn; do ngôn mà hiển đạo, thế nên có mạn lục, có bảo huấn, có bút ngữ, có võ khố. Nay đây, có Hòa thượng Văn Thủ, tự Nhất Ty (1607 – 1648) người nước Nhật Bản, lúc đầu ở ẩn nơi Tây Cương thuộc đất Lạc Tây, về sau Ngài về núi Ðan mai danh ẩn tích. Nhưng các hàng xuất gia khắp chốn hải hồ tìm đến bên Ngài kết am tranh tu học số đông không kể xiết.
10/04/2013(Xem: 8237)
Trước vòm cung hình bán nguyệt có những cột trụ đôi chống đỡ, lối vào tu viện Thánh Ân, một cây giẻ - đứa con độc nhất của miền Nam mà ngày xưa một thầy dòng từ La-Mã mang đến - vươn lên ngay bên vệ đường, thân mình cường tráng. Tàng cây tròn trải ra trùm trên mặt đường trong một dáng điệu trìu mến và thở nhẹ trong gió như một lồng ngực đang phập phồng. Về mùa Xuân, trong khi vạn vật quanh nó đã xanh rờn và những cây phỉ của tu viện cũng đã khoác lại bộ lá non màu hung, mùa trổ lá cây giẻ này vẫn còn phải đợi rất lâu.