Ẩn Sĩ Khổ Hạnh - 3. Anh hùng tên “Xui”

26/04/201311:04(Xem: 11803)
Ẩn Sĩ Khổ Hạnh - 3. Anh hùng tên “Xui”
Ẩn Sĩ Khổ Hạnh


3. Anh Hùng Tên “Xui”

Tâm Minh Ngô Tầng Giao
Nguồn: Tâm Minh Ngô Tầng Giao


Có ông triệu phú thời xưa
Tuy giàu nhưng rất nhân từ đáng khen
Ông thường có một bạn quen
Bạn ông thật tốt nhưng tên lạ lùng
Tên “Xui” nghe xấu vô cùng
Cả hai trước học một trường, ganh đua
Thân tình từ thuở ấu thơ
Đã từng nô giỡn, chơi đùa bên nhau
Giúp nhau mọi việc trước sau
Tuổi xanh tình bạn dài lâu vững vàng.
Sau khi rời mái học đường
Ông Xui quả thật mãi vương muộn phiền
Hết hạn xui, đến vận đen
Việc làm chẳng có, bạc tiền thời không,
Ông Xui thăm bạn thành công
Tiền rừng bạc bể vô cùng giàu sang
Ông nhà giàu thương bạn vàng
Hết lời an ủi, sẵn sàng giúp ngay
Mượn làm quản lý nhà này
Trông coi tài sản hoặc thay mặt mình
Điều hành công việc kinh doanh,
Đẹp thay tình bạn chân thành hiếm hoi.

*

Từ khi có mặt ông Xui
Tên ông được nhắc khắp nơi vang lừng
Tên nghe tuy rất lạ lùng
Mọi người vẫn réo gọi trong khắp nhà:
“Ông Xui có khách phương xa!”
“Ông Xui hãy lẹ chúng ta đi liền!”
“Ông Xui hãy đợi chớ quên!”
Người ta ơi ới kêu tên ông hoài
Các người hàng xóm nghe rồi
Tìm ông triệu phú thốt lời gièm pha:
“Này ông chớ có lơ là
Cái người quản lý cửa nhà của ông
Có tên nghe thật lạ lùng
Tên Xui chắc chắn là không hên rồi
Gây xui xẻo vô phước thôi
Chỉ mang tai họa đến nơi cửa nhà
Thần tiên hay quỷ dạ xoa
Nghe tên Xui cũng chạy xa hoảng hồn
Ông mau đuổi hắn đi luôn
Nếu còn gần hắn không còn vận hên
Hắn nghèo đói, hắn thấp hèn
Đừng nên liên hệ, chẳng nên cận kề.”
Ông nhà giàu: “Đừng có chê!
Ông Xui là bạn cùng quê lâu đời
Thân quen từ thuở thiếu thời
Một người bạn quý, tuyệt vời, đáng tin
Nào đâu vì một cái tên
Mà tôi xua đuổi bạn hiền của tôi,
Tên dùng phân biệt con người
Chứ đâu mang lại hên xui bao giờ,
Kẻ điên dại, kẻ khù khờ
Mới suy nghĩ xấu, mê mờ mà thôi
Quẩn quanh mê tín cả đời
Nghĩ tên tốt xấu buông lời dị đoan,
Ai tinh tấn, ai khôn ngoan
Nào đâu phân biệt như hàng hạ căn.”
Thế là ông chẳng băn khoăn
Vẫn dùng người bạn lâu năm của mình.
Một hôm ông phải khởi hành
Đi xa giao dịch kinh doanh ít ngày
Trong khi vắng mặt nơi đây
Ông nhờ bạn quý đứng thay mặt mình
Trông coi tài sản cơ dinh
Biết rằng bạn sẽ chí tình, tận tâm.

*

Cướp kia một bọn ở gần
Nghe tin triệu phú bất thần đi xa
Nghĩ là thuận tiện thời cơ
Để mà đột nhập vào nhà của ông
Cướp tài sản chẳng nhọc công
Cho nên bọn chúng nấp vòng chung quanh
Ẩn mình bóng tối đêm thanh
Mang theo dao, gậy ngồi rình ra tay.
Ông Xui quản lý nhà này
Đã nhiều kinh nghiệm lại đầy nhiệt tâm
Đoán quân gian sẽ viếng thăm
Nên ông không chịu đi nằm ngủ ngay
Thức khuya canh gác trong đây
Khi nhìn thấy cướp bao vây phía ngoài
Ông liền đánh thức mọi người
Cùng làm ầm ĩ khắp nơi trong nhà
Đánh chiêng trống, thổi tù và
Khiến cho kẻ lạ rất là ngạc nhiên
Nghĩ mình lầm lẫn cũng nên
Chủ nhà còn đó, lại thêm nhiều người
Rủ nhau cướp bỏ chạy thôi
Vứt dao, vứt gậy khắp nơi quanh nhà.
Hôm sau mọi người bước ra
Thấy bao vũ khí trông mà hãi kinh
Họ bàn nhau: “Quả thật tình
Quản gia sáng suốt, trung thành quý thay
Nếu không có ông Xui này
Gia tài của chủ giờ đây tiêu tùng!”
Ông Xui nay là anh hùng
Chẳng mang xui xẻo, dữ hung chút gì.
Đến khi triệu phú trở về
Các người hàng xóm tức thì kể ra
Chuyện ông Xui bảo vệ nhà
Chủ nhân nghe được quả là mừng vui
Ông bèn nói với mọi người:
“Đừng nên đánh giá theo nơi tên mình
Cái tâm mới quý thật tình,
Cùng đi bảy bước trở thành bạn thôi,
Đi mười hai bước chung đôi
Mới mong hy vọng thành người bạn thân,
Chung đường cả tháng trời luôn
Mới coi như thể bà con một nhà,
Kề nhau lâu chẳng lìa xa
Bạn thời tương tự thân ta khác gì
Mới là quý hóa kể chi.
Bạn Xui tôi đó ngẫm thì rõ ngay
Chỉ mang hên lại nhà này
Bạn đâu xui xẻo! Đời hay mê mờ!”
(phỏng dịch theo bản văn xuôi
A HERO NAMED JINX
của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
27/10/2011(Xem: 31071)
Bùi Giáng, Người viết sách với tốc độ kinh hồn
12/10/2011(Xem: 25419)
Truyện thơ Tôn giả La Hầu La - Tác giả: Tâm Minh Ngô Tằng Giao
01/10/2011(Xem: 10004)
Hàng ngũ phật tử thường được chia là phật tử tại gia và phật tử xuất gia. Các phật tử tại gia thường được gọi là cư sĩ. Trong lịch sử đạo Phật có ghi lại chuyện một số các vị cư sĩ nổi tiếng, tuy các vị ấy không xuất gia nhưng về phương diện tu hành, thấu hiểu đạo lý thì không thua kém gì các vị đã xuất gia. Có nhiều vị cư sĩ nổi tiếng nhưng bài này chỉ xin nhắc đến ông Duy Ma Cật, bà hoàng hậu Thắng Man, cư sĩ Huệ Năng lúc chưa xuất gia và sau đó đến gia đình ông Bàng Uẩn.
25/09/2011(Xem: 6123)
Lời hát ru nhẹ nhàng mà trầm buồn da diết ấy đi vào trong cả giấc mơ của Hiền. Bao lần chị giựt mình thảng thốt ngồi bật dậy… ngơ ngác nhìn quanh. Chẳng có gì khác ngoài bóng đêm lạnh giá bao trùm hai dãy xà lim hun hút. Chốc chốc vẳng lại tiếng thạch sùng chặc lưỡi, tiếng chí chóe của mấy chú tí ưa khuấy rối trong xó tối. Và cả tiếng thở dài của ai đó dội qua mấy bức tường xanh rêu im ỉm…
24/09/2011(Xem: 4198)
Ngày xưa có một chàng trai tên là Na Á. Anh mồ côi cha từ sớm, ở với mẹ già. Nhà Na Á nghèo, anh phải làm nghề đánh cá để nuôi thân, nuôi mẹ.
24/09/2011(Xem: 4912)
Một hôm em bé ngồi trong bóng cây trú nắng, gió cũng thổi mát quá, em ngủ quên, đến lúc thức dậy, thì đàn trâu đã đi mất. Em tìm khắp cánh đồng mà chẳng thấy.
21/09/2011(Xem: 4578)
Tờ Chú (có nghĩa là anh đen) nghèo nhất làng. Họ nghèo lắm, nghèo đến nỗi không có một con dao mẻ để phát nương, một cái thuổng để đào củ mài.
21/09/2011(Xem: 4138)
Ngày xưa, ở xã Đại An gần cù lao Huân tỉnh Khánh Hòa có một đôi vợ chồng già không có con cái. Ông bà ở trong một căn nhà lá dựng bên vách núi, làm nghề trồng dưa.
16/09/2011(Xem: 15425)
Tôi cảm động, vì sống trong đạo giải thoát tôi đã tiếp nhận được một thứ tình thiêng liêng, trong sáng; một thứ tình êm nhẹ thanh thoát đượm ngát hương vị lý tưởng...
12/09/2011(Xem: 5427)
Hồ Biểu Chánh (1884–1958), tên thật là Hồ Văn Trung, tự Biểu Chánh, hiệu Thứ Tiên; là một nhà văn tiên phong của miền Nam Việt Nam ở đầu thế kỷ 20. Ông sinh năm 1885 (trong giấy khai sinh ghi ngày 1 tháng 10 năm 1885) tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay thuộc huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang). Ông xuất thân trong một gia đình nông dân, thuở nhỏ học chữ Nho, sau đó chuyển qua học quốc ngữ, rồi vào trường trung học ở Mỹ Tho và Sài Gòn. Năm 1905, sau khi đậu Thành chung, ông thi vào ngạch ký lục của Soái phủ Nam Kỳ; làm ký lục, thông ngôn, thăng dần đến đốc phủ sứ (1936), từng giữ chức chủ quận (quận trưởng) ở nhiều nơi. Ông vốn có tiếng thanh liêm, yêu dân, thương người nghèo khổ.