Ẩn Sĩ Khổ Hạnh - 2. Ẩn sĩ trong vườn vua

25/04/201320:18(Xem: 13135)
Ẩn Sĩ Khổ Hạnh - 2. Ẩn sĩ trong vườn vua
Ẩn Sĩ Khổ Hạnh


2. Ẩn Sĩ Trong Vườn Vua

Tâm Minh Ngô Tầng Giao
Nguồn: Tâm Minh Ngô Tầng Giao


Thuở xa xưa có một người
Trong gia đình nọ sống đời giàu sang
Nhưng mà ông lại chẳng màng
Chẳng ưa cuộc sống tầm thường thế nhân
Ông vào Hy Mã Lạp Sơn
Sống đời ẩn sĩ ở luôn trong rừng
Hàng ngày thiền định tập trung
Chân tâm phát triển vô cùng an vui
Hưởng thiền lạc thật tuyệt vời
Ung dung, tự tại, xa nơi thị thành
Khi ông thâu nhận môn sinh
Năm trăm người đã nhiệt tình ghi danh.

*

Mùa mưa giăng phủ rừng xanh
Quỳ bên sư trưởng môn sinh thưa thầy:
“Chúng con xin rời khỏi đây
Trở về thành thị ít ngày tạm nương
Để chờ bá tánh thập phương
Sẽ đem muối, giấm cúng dường thành tâm
Nhận xong về chốn sơn lâm
Thầy trò lại sẽ quây quần một nơi.”
Thầy đồng ý khẽ thốt lời:
“Các con trở lại khi trời hết mưa
Riêng ta vẫn cứ ẩn tu
Một mình trong chốn rừng thưa an lành.”
Tuân lời cả đám môn sinh
Cùng quỳ tạm biệt, về kinh đô liền
Ở vườn vua chốn công viên
Thành Ba La Nại giữa miền hoàng cung.
Hôm sau họ mới thong dong
Ra đi khất thực quanh trong xóm làng
Bà con hoan hỉ cúng dường
Muôn phần hậu hĩnh, trăm đường thành tâm
Vài ngày sau khắp xa gần
Thầy tu khất thực tiếng đồn loan nhanh
Nhà vua nghe được ngọn ngành:
“Các thầy khắc khổ tu hành nêu gương
Các căn nhiếp phục đàng hoàng
Luôn luôn giữ giới nghiêm trang vô ngần
Thật là công đức bội phần.”
Vua nghe vội tới ân cần thăm ngay
Sau khi đảnh lễ các thầy
Vua mời họ ở lại đây suốt mùa
Trong công viên bốn tháng mưa,
Các thầy vui nhận lời vua thỉnh mời.
Kể từ khi đó thảnh thơi
Ăn trong cung điện khỏi dời chân đi.

*

Thế rồi tới một ngày kia
Là ngày “Lễ Rượu” dân thì vui chơi
Người ta uống rượu khắp nơi
Lệ xưa: “Uống rượu cuộc đời gặp may.”
Nhà vua nghĩ đến các thầy
Làm chi có rượu, ai đây cúng dường
Hôm nay nhân lễ bất thường
Rượu ngon vua vội truyền mang biếu thầy,
Thầy đâu quen uống rượu này
Cho nên tất cả cùng say sưa liền
Trở về lại chốn công viên
Các thầy múa hát cuồng điên lạ lùng
Bao đồ đạc vứt lung tung
Rồi nằm thiếp ngủ say không biết gì.
Hôm sau tỉnh, thấy ê chề
Hối vì làm những hành vi đêm rồi
Nghĩ sao bất chính quá thôi
Trong lòng hổ thẹn mọi người khóc than:
“Chúng ta tội lỗi vô vàn
Chỉ vì không được ở gần minh sư!”
Thế là tất cả giã từ
Rời công viên nhắm rừng xưa trở về.
Về xong sắp đặt mọi bề
Rất là ngăn nắp, rất chi gọn gàng
Theo như nếp sống thông thường
Rồi tìm sư trưởng nghiêm trang kính chào.
Thầy mừng, thăm hỏi: “Thế nào
Các con ăn ở ra sao trong thành?
Có hoà hợp, có tịnh thanh?
Có luôn giữ giới tu hành hay chăng?”
Năm trăm đệ tử thưa rằng:
“Chúng con uống rượu cúng dường của vua
Cho nên đều lỡ say sưa
Mất đi chánh niệm từ xưa giữ gìn
Múa ca ăn nói huyên thuyên
Ngu đần như lũ vượn miền rừng hoang
Để rồi hổ thẹn khóc than
May không thành vượn kéo đoàn về đây.”
Thầy từ bi dạy: “Chuyện này
Thời nào cũng có, lâu nay vậy rồi
Các môn sinh ở khắp nơi
Không thầy hướng dẫn, bao người lầm sai.
Rút kinh nghiệm cho tương lai
Đây là bài học nhớ hoài nghe con
Tu hành cần giữ giới luôn
Lánh xa ác hạnh, tiến gần minh sư.”
Môn sinh tiếp tục đường tu
Kể từ ngày đó rất ư trưởng thành
Luôn tịnh lạc, mãi an lành
Bên thầy kề cận tu hành nghiêm trang.
(phỏng dịch theo bản văn xuôi
FOREST MONKS IN
A KING’S PLEASURE GARDEN
của Ven. Kurunegoda Piyatissa & Tod Anderson)
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
22/10/2014(Xem: 7031)
Hai kẻ thù đã lâu đời, hai chàng trai trẻ nhất thuộc hai dòng tộc võ sĩ đạo lâm chiến, đang rình rập nhau trong vùng hẻm núi dưới mé sông trong lúc bà con dòng họ đôi bên đang chém giết lẫn nhau trên phía đồng bằng. Mối hận thù nẩy sinh giữa hai chàng sâu đậm đến độ như muốn lộn mửa, và khi trông thấy nhau, mỗi chàng đều nguyện cầu: “Lạy Trời nếu con phải chết, xin cho con gây ra tử thương cho kẻ oán thù trước khi con lìa đời.”
18/10/2014(Xem: 46729)
Uống trà là một nét đẹp văn hóa truyền thống của Á Đông theo phương châm“Bình minh nhất trản trà". Cách đây hàng ngàn năm, con người đã biết đến trà như một loại nước uống mang lại sự sảng khoái, thanh khiết cho tinh thần, là cách để khai tâm mở trí. Người ta xem chén trà là đầu câu chuyện, là gợi mở tâm linh, là giao thoa văn hóa và kết nối lòng người.
10/10/2014(Xem: 6418)
Từ lâu, người ta tin rằng có một cái “bản ngã” thường hằng, bất biến, tồn tại độc lập trong vạn pháp. Trước sự nhầm lẫn tai hại đó, Phật Thích Ca bèn nói thuyết “Vô ngã” để chúng sinh phá chấp. “Vô ngã” không phải không có gì hết mà là không có tự tánh, không có tự thể riêng biệt. Đây là một trong ba Pháp ấn trong hệ thống giáo lý của Phật giáo (hai pháp ấn kia là Khổ và Vô thường). Gọi là Pháp ấn có nghĩa là trong tám mươi bốn ngàn pháp môn của đạo Phật nếu có pháp môn nào không có một trong ba khái niệm Khổ, Vô thường và Vô ngã thì không phải giáo lý đạo Phật.
03/10/2014(Xem: 6245)
Học sinh thường cho rằng, các thầy cô chỉ nhớ tên học sinh giỏi, học sinh đẹp hoặc hoạt động hiệu đoàn... Cho nên mỗi lần nếu tôi gặp lại một em học sinh không có gì xuất sắc ngày xưa mà tôi còn nhớ tên, thì đó là một niềm vui to lớn của em là được thầy cô còn nhớ mặt và nhớ tên của mình. Sau khi cuộc chiến lan tràn trên quê hương thầy trò phân tán, tôi đi cùng nam cực bắc, đi xa nửa trái địa cầu, rải rác khắp nơi, tôi vẫn gặp lại những em học sinh Đồng Khánh cũ. Và nhờ cố gắng nhớ mặt, nhớ tên các em, nên hầu như ở đâu tôi cũng gieo được chút niềm vui cho những người đang phập phồng chờ được gọi đích danh sau một câu mở đầu công thức: „Cô còn nhớ em không?“. Những con người ấy, những học sinh Đồng Khánh tha phương - xa trường, xa thầy bạn cũ đã xưa rất xưa, mà chính bản thân khi soi gương cũng không còn bắt được hình bóng mình ngày ấy..., bất giác còn được gọi tên, còn được nhớ, còn được nhắc nhở đến bao kỷ niệm của một thời. Ôi! Vui biết bao nhiêu, ấm áp ngọt ngào biết bao nhiêu
02/10/2014(Xem: 5818)
Ra đến bến xe trời hãy còn khuya khoắt, trông cảnh nhộn nhịp ì xèo rộn lên từ những gian hàng ăn uống ở một góc gần bên, và tiếng nói cười lăng xăng của hành khách đi lại lẫn với tiếng những người bán hàng rong mời mọc. Nhìn sang quầy bán vé bây giờ không giống như những ngày tháng sau năm 1975, bề mặt thoáng mát rộng rãi trang trí bởi những bảng quảng cáo, những hoa văn sắc màu, những hàng ghế để khách ngồi chờ trông lịch sự. Khách mua vé rất nhanh khỏe hơn xưa, không còn cảnh chen lấn xếp hàng cả buổi trời như trước đây, lại có thêm nhiều loại xe phục vụ trên các tuyến, việc nầy còn tùy thuộc vào túi tiền của hành khách, ai có tiền nhiều thì đi loại xe chất lượng cao, còn ai ít tiền thì đi loại xe bình dân hơn. Nói vậy chứ còn khá hơn trước Đây, bởi ba chiếc xe car cũ kỹ hoặc xe chạy bằng than đá trên những tuyến Miền Đông, Miền Tây vào những năm 1975 - 1990.
24/09/2014(Xem: 8394)
Xưa có một người quyết tâm học đạo, theo một vị thiền sư sống trong một cái cốc nhỏ, sống đạm bạc, quyết chí tu hành. Một này kia, có công việc, vị thiền sư phải đi xa, dặn đệ tử ở lại phải lo chăm chỉ tu hành, luôn luôn giữ lối sống đạm bạc và tâm hồn thanh tịnh. Người đệ tử này chỉ có một chiếc khố che thân. Đêm tới khi ngủ, máng khố trên vách, thường bị chuột chui ra cắn rách, phải xin bá tánh chút vải thừa thay khố nhiều lần.
03/09/2014(Xem: 6803)
Lúc đó tôi được 13 tuổi. Trước đó một năm gia đình tôi đã chuyển từ Bắc Florida đến miền Nam California. Tôi dễ hận thù khi vừa đến tuổi vị thành niên. Tôi rất nóng nảy và hay cãi lại đối với bất cứ chuyện gì dù nhỏ mà ba mẹ đề cập tới, đặc biệt là nếu nó liên quan đến tôi. Cũng giống như nhiều đứa trẻ lứa tuổi thiếu niên, tôi khó chấp nhận bất cứ điều gì đi ngược lại với quan điểm của mình về thế giới chung quanh. Một đứa bé “thông minh không cần dạy bảo”. Tôi phản đối bất cứ biểu lộ nào của tình thương. Thật sự, tôi dễ giận dữ khi đề cập đến cái từ “thương yêu”.
26/08/2014(Xem: 6056)
Ở ven bờ bể Mễ Tây Cơ, có một làng nhỏ chuyên sống nghề đánh cá, một chiếc thuyền con lướt sóng nhẹ vào bờ, đem về vài con cá khá to. Một ông khách Mỹ đứng trên bờ, khen ngợi nghề đánh cá tài giỏi của anh chàng Mễ Tây Cơ và hỏi anh ta mất bao nhiêu thì giờ mới được chừng đó cá. _ “ Không lâu lắm đâu !” anh Mễ Tây Cơ trả lời.
17/08/2014(Xem: 39070)
Đại Sư tên là Huệ Năng, cha họ Lư, tên húy là Hành Thao. Người mẹ họ Lý, sinh ra ngài nhằm giờ tý, ngày mùng tám tháng hai, năm Mậu Tuất, niên hiệu Trinh Quán thứ 12. Khi ấy, hào quang từ nhà ngài chiếu sáng lên không trung, mùi hương lạ tỏa lan khắp nhà. Đến tảng sáng, có hai vị tăng lạ mặt đến thăm, bảo cha ngài rằng: “Khuya nay ông vừa sinh quý tử, chúng tôi đến đây là để đặt tên cho cháu bé. Ông nên đặt trước là chữ Huệ, sau là chữ Năng.”
17/08/2014(Xem: 33618)
Nhân quả báo ứng là một tập truyện của Trung Quốc, có vẽ tranh minh họa rất sinh động. Tập truyện này trước do ngài Văn Xương Đế Quân đời nhà Tấn sưu tập những truyện nói về nhân quả và sự báo ứng qua nhiều triều đại ở Trung Quốc.