Bán Dạ Du Thành

18/03/201911:47(Xem: 6161)
Bán Dạ Du Thành
ngua kien trac
BÁN DẠ DU THÀNH
Thích Nữ Huệ Trân
                                                    

 

 

          Nửa đêm hôm đó, cổng thành Ca Tỳ La Vệ nhẹ nhàng hé mở. Nhịp vó khẽ khàng của hai con ngựa thong thả lách ra. Hình như chúng cũng biết ý chủ, phải rất từ tốn để không gây tiếng động làm phiền bao người đang an giấc, nhất là đám lính canh ngoài cửa thành. Tuy nhiệm vụ là canh cửa thành, nhưng thời buổi thanh bình thịnh trị quá, có gì bất trắc đâu mà phải lo lắng. Thế nên, vào thời khắc đã quá nửa đêm này, họ đều say ngủ, có khi đang chìm trong bao giấc mộng đẹp không chừng!

          Hai con ngựa ra khỏi cổng thành mà không ai hay biết. Trời tối quá, không nhìn rõ hình dáng và sắc phục của hai người trên lưng ngựa. Nhất là, cả hai đều im lặng. Vó ngựa vẫn chậm rãi thêm một đoạn nữa, dường như để giữ an toàn, đủ khoảng cách không làm thức giấc đám lính canh, hay tâm người trên lưng ngựa đang có chút bâng khuâng, lưu luyến?

Một người  bỗng dừng cương, quay nhìn về phía cổng thành, chắp tay, vái ba lạy. Xong, bằng một thái độ cương quyết, người ấy giật giây cương. Con ngựa trắng chồm lên, tuân lệnh chủ, nhắm hướng nam mà phi nước đại.

          Người và ngựa bên cạnh cũng làm theo như thế.

          Trong bóng đêm, tiếng vó ngựa rộn rã reo vui, đánh thức những vườn cây hồng táo, những ruộng lúa xanh rì, những đường dốc lên đồi cỏ, những lối sỏi ven suối trong veo. Tiếng vó ngựa cũng ca hát với rừng cây, khóm trúc, với làng mạc, thôn xóm, với ruộng lúa, nương dâu, với giòng sông, với núi, với sương đêm ….. Hình như vạn hữu, nơi vó ngựa đi qua đang cùng hòa tấu một bài ca bất tận.

          Đôi ngựa cứ thế, nhắm hướng nam mà phi nhanh trong bóng đêm. Bấy giờ, bầu trời long lanh trăng sao cho thấy lờ mờ bóng người trên lưng ngựa. Người cưỡi ngựa trắng vận áo hoàng bào, người cưỡi ngựa hồng vận áo chẽn lục.

          Họ đi, như đã có chủ đích. Im lặng mà đi. Như giòng sông. Im lặng mà không ngừng. Im lặng mà ra biển. Im lặng mà trở thành trùng dương, thành bao la, thành vô tận …        

          Một sự im lặng hùng tráng!

          Bấy giờ, bóng đêm đang loãng dần. Ánh dương chưa lên nhưng vầng mây hồng nhạt đã hiện. Xa xa là cánh rừng trúc xanh mướt, rậm rạp, mạnh mẽ như muốn vươn tay đón bình minh.

          Người vận áo hoàng bào ghìm cương con ngựa trắng chậm lại, rồi dừng hẳn. Người vận áo chẽn lục cũng làm theo.

          -Ta nghĩ, đã tới nơi.

          -Thưa …

          Người vận áo hoàng bào đã xuống ngựa. Và làm như không nghe thấy giọng nói nghẹn ngào của kẻ đồng hành. Người ấy vuốt ve con ngựa trắng, âu yếm ôm lấy đầu nó. Con ngựa ngẩng nhìn chủ rồi cũng dụi đầu vào vòng tay chủ.

          Khi ấy, người vận áo chẽn xanh cũng đã xuống ngựa, rồi quỳ trên nền đất ẩm.

          Vẫn làm như không thấy cử chỉ của kẻ đồng hành, người vận áo hoàng bào nhìn vào đôi mắt long lanh của bạch mã mà chân thiết nói rằng:

          -Kiền-Trắc, ta cám ơn con đã đưa ta tới những nơi ta muốn tới. Bao năm nay ta đã cùng con chứng kiến muôn vàn cảnh khổ của trần gian. Con có nhớ hay không, Kiền-Trắc? Lần đầu, con đưa ta ra bốn cửa thành, để ta thấy được bốn cảnh khổ: Sinh, Lão, Bệnh, Tử. Đó là chặng đường không một chúng sinh nào thoát khỏi. Con có biết là từ cảnh đó, lòng ta đã khởi lên nghi hoặc “chẳng lẽ chúng sinh phải chìm đắm mãi trong luân hồi đau khổ này? Phải có con đường thoát khổ chứ! Con đường đó là gì? Con đường đó ở đâu? Ai sẽ tìm ra? Ai sẽ dẫn dắt? Hạnh phúc là gì? Nếu cười hôm nay mà khóc ngày mai, nếu có hôm nay mà mất ngày mai thì đó không phải là hạnh phúc! Đó chỉ là bóng! Vậy hạnh phúc đích thực ở đâu?”

Kiền-Trắc ơi, ta đã không thể ngừng – dù chỉ phút giây – băn khoăn về những dấu hỏi đó. Ta biết rằng, rồi một ngày, chính ta phải đi tìm. Muốn đi tìm, ta phải dứt bỏ đời sống ràng buộc, dù đời sống đó là cung vàng điện ngọc. Tìm được hay không, ta chưa biết, nhưng biết chắc rằng, ta phải bắt đầu cuộc tìm kiếm. Ngày bắt đầu đó chính là hôm nay, là giờ phút này. Ta vừa giã từ hoàng-gia. Bây giờ, ta cám ơn con và sẽ giã từ con. Ta sẽ đi vào cánh rừng kia và sẽ bắt đầu đời sống của người sa-môn không nhà.

          -Điện hạ!...

          Người vận áo chẽn lục khóc nấc lên, vẫn quỳ gối mà hai tay ôm mặt, khóc nức nở. Người ấy biết rằng lời nói với Kiền-Trắc chính là nói cho anh ta nghe.

          -Xa-Nặc, anh đã hiểu lòng ta rồi mà! Anh đã biết có ngày ta sẽ rời hoàng cung, phải không? Anh không phải chỉ là người đánh xe mà còn là bạn tốt của ta bấy lâu nay. Chính vì vậy mà ta sẽ nhờ cậy anh thêm một việc quan trọng.

          Trong khi Xa-Nặc còn bàng hoàng thì nhanh như cắt, người vận áo hoàng-bào đã rút thanh đoản kiếm đeo bên hông, nghiêng đầu, cắt đứt mái tóc xanh và tháo chuỗi ngọc đeo nơi cổ, trao cho Xa-Nặc:

          -Anh đem hai kỷ vật này về, dâng lên phụ vương và mẫu hậu ta, thay lời tạ tội. Anh hãy thưa rõ tâm nguyện của ta, ta tin là hoàng-gia sẽ thông cảm mà thôi.

          -Trăm lạy Điện-hạ, dầu Điện-hạ đi đâu cũng xin cho con theo hầu. Xin đừng bắt con về báo tin dữ này. Trăm lạy Điện-hạ, xin Điện-hạ nhủ lòng thương con.

          -Đừng làm ta thất vọng, Xa-Nặc. Giờ này chắc hoàng-gia đang xôn xao đi tìm ta. Anh là người duy nhất giúp ta đem tin về. Hãy đứng lên và dắt Kiền-Trắc cùng về. Hãy chăm sóc nó thay ta. Đi mau đi!

          Nói rồi người ấy tiến tới, đỡ Xa-Nặc đứng dậy, ôm bạn giây lát, vuốt ve hai con ngựa, rồi, không nói gì thêm nữa, người ấy thong thả đi về phía cửa rừng.

          Xa-Nặc đứng lặng, nhìn theo từng bước chân vị Thái-tử, nay là những bước chân đầu tiên của vị sa-môn quyết tâm đi tìm Đạo Cả, giúp chúng sinh thoát khỏi lưới vô minh luân hồi.

 

          Bấy giờ, ánh dương vừa rạng ở phương đông, lấp lánh những vệt nắng tinh khôi óng ánh, rực rỡ cánh rừng trúc, nơi vị Thái-tử con vua Tịnh Phạn của vương quốc Thích Ca vừa đổi chiếc áo hoàng bào cho người thợ săn để mặc vào mình tấm áo sa-môn bạc mầu phấn tảo.

 

          Đó là ngày tám, tháng hai của một năm xa xưa.

          Ngày Thái-tử Tất Đạt Đa “Bán dạ du thành, xuất gia tầm đạo”.

 

 

Cali,Tào Khê Tịnh Thất mùa Phật Đản 2643 (2019)

TN Huệ Trân
     

                                                           

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
25/04/2012(Xem: 17056)
Hình ảnh Bồ Tát sơ sinh đứng trên quả địa cầu thật có nhiều ý nghĩa: Bồ Tát vào đời với nguyện lực khai sáng cho đời và hoàn thiện Ba La Mật...
09/04/2012(Xem: 21791)
Các phương cách đản sanh của chư Phật đều giống nhau như sự xuất hiện của các ngài giữa thế gian này đã cảm ứng đến thế giới chư thiên và các loài khác...
19/03/2012(Xem: 7970)
Tem bưu chính mừng Đại Lễ Phật Đản
15/03/2012(Xem: 8329)
Bên tàng cây Vô ưu (aśoka) rợp mát, nền trời xanh bao la, hương muôn hoa tỏa ngát, Hoàng hậu đã hạ sanh Thái tử. Khi ấy, cảnh vật đều vui vẻ lạ thường, khí hậu mát mẻ...
29/01/2012(Xem: 7862)
Chuyến bay đáp xuống Nội Bài lúc 11,20, mãi nửa giờ sau mới ra khỏi đường băng để vào đến nhà ga. Bên sân ga quốc tế, ban tiếp nhận khách mời làm việc khá nhộn nhịp, các tình nguyện viên còn quá trẻ, chưa quen việc nên có lúc luộm thuộm khi sắp xếp khách về các khách sạn. Trước ngày khai mạc Vesak, tại sân bay vẫn chưa có bản hiệu, cờ. Trên đường về TP Hà Nội, thỉnh thoảng vài đoạn đường giăng cờ lưa thưa do một vài chùa tại địa phương tổ chức. Vào tới TP Ninh Bình, cách Bái Đính 20km, không khí Vesak bắt đầu khởi sắc.
21/01/2012(Xem: 22272)
Tập sách nhỏ này, là một tập tài liệu vô cùng quí giá, do sự tham khảo các kinh sách của Đức Thế Tôn để lại với các tài liệu tác giả đã sưu tầm và tham quan tại một số địa phương...
18/01/2012(Xem: 10989)
Lễ Phật Đản 2641 (2017) tại Chùa Pháp Vân, Canada
29/07/2011(Xem: 6082)
Cây bồ đề được coi là một trong những biểu tượng của nhà Phật. Nơi Đức Phật thiền định để tìm ra nguồn gốc mọi khổ đau, con người phải hứng chịu. Gỗ của cây bồ đề được dùng làm tràng hạt sử dụng trong các buổi trì chú hoặc tụng kinh. Xâu chỗi tràng hạt thường có 108 hạt.
20/06/2011(Xem: 6242)
Lời người dịch: Bài này được trích dịch từ quyển Vietnamesische Lehrjahre (Những năm dạy học tại Việt Nam), Suhrkamp Verlag, Taschenbuch Ausgabe, st 73, Germany, 1972, trang 129-142 với tên tác giả Georg W. Alsheimer, bút hiệu của Bác sĩ người Đức Erich Wulff. BS Wulff dạy tại trường Đại học Y khoa Huế 1961-1967, trong khuôn khổ viện trợ giáo dục của Tây Đức. Vì một sự tình cờ, tác giả đã chứng kiến biến cố tại Đài Phát thanh Huế đêm 8/5/1963 làm 8 Phật tử bị chết một cách thê thảm và đã trình bày sự kiện này trước Ủy ban điều tra đàn áp Phật giáo Việt Nam của Liên hiệp quốc vào tháng 9/1963.
19/06/2011(Xem: 8137)
Đức Phật ra đời là để khơi mở tuệ giác cho hết thảy chúng sinh: - Tất cả chúng sinh đều có Phật tánh, tất cả chúng sinh đều có trí tuệ...